1 GIÁO TRÌNH THỰC TẬP CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH CẤU TRÚC VÀ ĐỊNH LƯỢNG Phần 1 Các phương pháp định lượng bằng công cụ Buổi 4 Các phương pháp phân tích sắc ký Bài 8 Phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao pha đảo (RP HPLC) Bài 9 Phương pháp sắc ký khí – detector bắt giữ điện tử (GC ECD) (Các bài thực tập trong phần này được trích từ giáo trình “Thực tập phân tích công cụ”) Bài 8 PHƯƠNG PHÁP SẮC KÝ LỎNG HIỆU NĂNG CAO PHA ĐẢO (RP HPLC) Xác định Rhodamin B trong sơn móng tay 8 1 Mục đích thí nghiệm Rh.
Trang 1GIÁO TRÌNH THỰC TẬP CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH CẤU TRÚC VÀ ĐỊNH LƯỢNG
Phần 1: Các phương pháp định lượng bằng công cụ
Buổi 4: Các phương pháp phân tích sắc ký
Bài 8: Phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao pha đảo (RP-HPLC)
Bài 9: Phương pháp sắc ký khí – detector bắt giữ điện tử (GC-ECD)
(Các bài thực tập trong phần này được trích từ giáo trình “Thực tập phân tích công cụ”)
Bài 8: PHƯƠNG PHÁP SẮC KÝ LỎNG HIỆU NĂNG CAO PHA ĐẢO (RP-HPLC)
Xác định Rhodamin B trong sơn móng tay 8.1 Mục đích thí nghiệm
Rhodamin B (công thức cấu tạo ở Hình 8.1) là phẩm màu công nghiệp có màu đỏ, phát huỳnh quang, được sử dụng rộng rãi làm thuốc nhuộm trong nhiều ngành như sản xuất giấy, sơn, dệt, da và sứ,… Rhodamin B bị cấm sử dụng làm phụ gia thực phẩm và thêm vào mỹ phẩm vì có thể gây cấp và mạn tính, gây dị ứng, mẩn ngứa da, gây ho, ngứa cổ, khó thở, đau ngực, có hại cho gan và thận, tích tụ dần trong cơ thể có thể gây ung thư dị tật bẩm sinh ở người, … Nhưng cũng chính vì có màu đỏ bắt mắt mà Rhodamin B mà nó thường được trộn trái phép vào thực phẩm như như tương ớt, hạt dưa … , làm chất tạo màu trong son môi, phấn trang điểm, sơn móng tay để thành màu sắc quyến rũ
Thành phần chính của dịch sơn móng (phổ biến hơn so với loại bột) gồm Nitrocellulose
9 (tạo lớp phim bao phủ), một số loại resin thông dụng như alkyl resin, sucrose resin, sulfonamid resin và acrylic resin….; cá loại nhựa dẻo như các ester, acid citric và acetyl-tributyl, dung môi dùng để pha chế, sắc tố màu là các phẩm màu nhuộm (Rhodamine B), màu hữu cơ (Lithol Rubin BCA) và màu vô cơ (Titan dioxyd) được sử dụng để tạo thành màu sắc quyến rũ khi sơn lên móng
Trong bài thực tập này, hàm lượng Rhodamin B trong sơn móng tay bán trên trên thị trường được xác định bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao pha đảo (RP-HPLC)
Trang 2Hình 8.1 Công thức cấu tạo của Rhodamin B
8.2 Cơ sở lý thuyết của phương pháp phân tích
8.2.1 Nguyên tắc chung của phương pháp RP-HPLC
Pha tĩnh là sản phẩm liên kết của nhóm closilan hữu cơ mà mạch hydrocacbon chứa
18 nguyên tử cacbon và các nhóm silanol trên bề mặt silic Phản ứng này còn gọi là phản ứng silan hoá như sau:
Phản ứng điều chế pha tĩnh hoàn toàn tương tự như trong phân điều chế pha tĩnh pha liên kết pha thường (thuỷ phân axit, chưng các hạt silic ở 90oC trong axit HCl 0,1N 18-24 giờ Sấy ở 200oC trong chân không Khi phản ứng dùng lượng dư thuốc thử, có thể gấp đôi, tiến hành phản ứng trong môi trường bazơ, thí dụ piridine để hấp thụ axit giải phóng trong quá trình phản ứng
Bề mặt silic sau khi ete hóa trở nên kỵ nước, do các nhóm chức hidrocacbon trên bề mặt đã làm thay đổi tính chất của nó Khi mạch cacbon càng dài, lớp phủ càng dày, tính kỵ nước càng cao
Chỉ có khoảng 50% -60% các nhóm silanol trên bề mặt silic được ete hoá Các nhóm silanol còn lại vẫn mang tính chất phân cực, là nguyên nhân của pic không cân đối Vì vậy, đôi khi, người ta silan hoá tiếp các nhóm silanol còn lại bằng hợp chất trimetylsilan Cl-Si(CH3)3
Mạch hydrrocacbon càng cồng kềnh, tính không phân cực càng cao, khả năng hấp phụ càng lớn, các phân tử closilan hữu cơ có thể tương tác với nhau hình thành các mạch hidrocacbon mạch dài hơn, che phủ bề mặt tốt hơn, càng ít phân cực Qua thực nghiệm đã chứng tỏ cột chứa silan hữu cơ có 18 cacbon là bền nhất và cũng được dùng nhiều nhất Cột này còn được gọi là cột ODS vì viết tắt từ octadesilsilan
Pha động trong RP-HPLC là các dung môi phân cực, thường dùng nước hoặc dung
dịch đệm pha trộn với các dung môi it phân cực hơn nước như methanol, acetonitril…với tỷ
lệ khác nhau Hai tính chất của pha động cần phải quan tâm trong quá trình tìm điều kiện tách
là độ phân cực và pH
Trang 3Sự lựa chọn pha động tuân theo nguyên tắc chung là độ phân cực phù hợp sao cho chất phân tích tan trong pha động và đảm bảo hệ số lưu k’ có giá trị khoảng 5 Khi thay đổi thành phần pha động, thí dụ tăng hoặc giảm tỷ lệ dung môi ít phân cực hơn nước, tính không phân cực của pha động cũng tăng hoặc giảm theo Kết quả là chất phân tích cũng di chuyển nhanh hay chậm trong cột Một nguyên tắc cơ bản về hòa tan các chất là các chất tương tự nhau thì tan vào nhau Thí dụ pha động có hai thành phần MeOH và nước mà chất phân tích là chloramphenicol-CP tan trong MeOH tốt hơn so với nước Như vậy, khi tăng tỷ lệ MeOH, thì
CP tan trong pha động tốt hơn, thời gian lưu giảm
Yếu tố cơ bản thứ hai của pha động là pH Thay đổi pH của pha động có thể tác động đến cân bằng axit-bazơ của các chất phân tích Tùy thuộc vào pK của axit-bazơ của chất tan, khi thay đổi pH của pha động có thể dẫn tới thay đổi trạng thái của chất tan sang ion hay phân
tử không mang điện tích (điểm đẳng điện- pI) Kết quả là chất tan có thể tăng hoặc giảm thời gian lưu, bởi vì khi phân tử chất tan ở trạng thái không mang điện tích sẽ hấp thu vào pha tĩnh ODS tốt nhất
Nguyên tắc tách chất trong sắc ký lỏng pha đảo, tùy thuộc vào mức độ phân cực của
các chất phân tích, chúng bị lưu giữ ở pha tĩnh với mức độ khác nhau, có thời gian lưu khác nhau và tách khỏi nhau Do pha tĩnh mang tính ít phân cực, pha động phân cực hơn nên các chất phân tích càng mang tính ít phân cực, thời gian lưu càng lớn vì chúng liên kết tốt với pha tĩnh Ngược lại, các chất càng mang tính phân cực, chúng có thời gian lưu càng ngắn do tan tốt trong pha động
Khi thiết lập điều kiện tách, người phân tích luôn tím cách tăng cường sự khác biệt về tính chất phân cực của các chất sao cho chúng có thời gian lưu đủ khác xa nhau hay tách khỏi nhau
8.2.2 Thiết bị HPLC
a) Sơ đồ chức năng thiết bị HPLC
Hình 8.2 Sơ đồ chức năng của thiết bị HPLC
Trang 41 Phần cấp dung dịch 2 Khối chức năng loại khí, chia dòng
3 Bơm cao áp 4 Cổng tiêm mẫu
7 Phần mềm và xử lý số liệu 8 Thiết bị ghi
b) Van bơm mẫu
Van bơm mẫu có 6 cổng, gắn với vòng mẫu dung tích 20l
Khi van ở vị trí load, mẫu được nạp vào vòng mẫu qua kim tiêm (syring) hoặc qua bơm mẫu tự động, mẫu thừa được thải qua cổng 5 (hình 8.3) Lúc này, dung môi sẽ được bơm cao
áp đẩy trực tiếp vào đầu cột qua cổng 3 sang 2
Hình 8.3 Van bơm mẫu ở vị trí load và inject
Khi bơm mẫu vào đầu cột, xoay tay van 60o để đặt van ở vị trí ịnject, lúc này bơm sẽ đẩy dung môi đi qua vòng mẫu, mang theo mẫu vào đầu cột Tuỳ theo hàm lượng mẫu mà ta lắp vòng mẫu có dung tích khác nhau
8.3 Nguyên tắc của phép phân tích
Rhodamine B (M= 479,01 g/mol) tan tốt trong nước, độ tan 50 g/l), pKa= 3,7 nên có thể chiết rhodamine B ra khỏi mẫu sơn móng tay bằng nước, ly tâm loại bỏ phần nổi, lọc lấy phần dung dịch chứa rhodamine B bơm vào hệ thống HPLC với cột tách là cột pha đảo C18,
dung môi pha động là , detector PDA với nguồn sáng là đèn W
Phổ hấp thụ và phổ huỳnh quang của Rhodamin B có dạng như Hình 8.4
Hình 8.4 Phổ hấp thụ và phổ huỳnh quang của Rhodamin B trong nước
Trang 58.4 Hóa chất, dụng cụ, thiết bị
- Hệ thống HPLC: LC-10A, detector DAD (Shimadzu, Nhật Bản)
- Cột ODS C18, chiều dài 25 cm, đường kính trong 4 mm, kích thước hạt 5 μm
- Nước cất 2 lần
- Chất chuẩn: Rhodamine B (C28H31ClN95% của hãng Sigma Aldrich
- Dung dịch chuẩn gốc Rhodamine B 1000 ppm pha từ chất chuẩn Rhodamine B trong nước
- Dung dịch chuẩn trung gian Rhodamin B 100 ppm: pha loãng từ dung dịch chuẩn gốc bằng nước cất
- Dung dịch chuẩn làm việc để xây dựng đường chuẩn Rb 0,5; 2; 5; 10; 20 ppm được chuẩn bị từ dung dịch chuẩn trung gian, định mức bằng dung môi pha động trong bình định mức 10 ml
- Hóa chất: Acetonitril (Fisher, Mỹ, 99,9%);
- Mẫu phân tích là các loại sơn móng tay màu hồng bán trên thị trường
• Điều kiện tách trên hệ thống HPLC-DAD
- Thể tích vòng mẫu: 10 L
- Thời gian phân tích: 10 phút, thời gian xuất hiện chất phân tích khoảng 3-5 phút
- Bơm: Kênh acetonitrin 60%, kênh nước 40%, tốc độ dòng tổng cộng 0,8 ml/phút
- Bước sóng Detector: 530 nm
- Nhiệt độ cột là nhiệt độ phòng
8.5 Nội dung thí nghiệm
8.5.1 Xây dựng đường chuẩn Rhodamine B
Xoay van về vị trí load, tráng kỹ kim tiêm và vòng mẫu 2 lần bằng nước cất sau đó
bằng chính dung dịch đo Lấy lần lượt các dung dịch Rhodamine B có nồng độ từ nhỏ đến lớn vào kim tiêm, rửa vòng mẫu bằng dung dịch đo sau đó nạp đầy vòng mẫu (dư 1-2 giọt chảy qua)
Mở data file, khi thiết bị đã sẵn sàng cho phân tích, xoay nhanh cần van để đưa mẫu vào đầu cột (thiết bị tự động lưu kết quả)
8.5.2 Phân tích mẫu
Cân từ 0,5-1 gam mẫu sơn móng tay trên cân phân tích (độ đọc của cân 0,1 mg) cho vào ống ly tâm dung tích 25 ml Thêm 10, 00 ml nước cất vào mẫu, đậy nắp, lắc đều trong máy lắc 1 phút rồi rung siêu âm trong 5 phút và ly tâm bằng máy li tâm với tốc độ 6 000 r/min trong 5 min Dùng syringe gắn đầu lọc (màng lọc 0,45 m) lấy 2,5 ml chuyển vào bình định mức 25 ml và định mức đến vạch bằng nước cất Dung dịch này dùng để bơm vào hệ HPLC
Chú ý: nếu nồng độ chất phân tích nằm ngoài đường chuẩn cần điều chỉnh thể tích lấy dung dịch mẫu pha loãng
Trang 6Xoay van về vị trí load, tráng kỹ kim tiêm và vòng mẫu 2 lần bằng dung dịch mẫu Nạp mẫu vào vòng sao cho dư 1-2 giọt chảy qua
Mở data file, khi thiết bị đã sẵn sàng cho phân tích, xoay nhanh van sang vị trí inject
để định lượng
8.5.3 Đánh giá độ thu hồi của phương pháp phân tích
Làm thí nghiệm như mục 9.5.2 với cùng lượng cân, có thêm 2,5 ml dung dịch chuẩn trung gian 100 ppm Rb và 7,5 ml nước sau đó tiến hành tương tự
8.5.4 Tính toán kết quả
Sinh viên cần ghi chép lại các số liệu thực nghiệm để có thể
- Báo cáo tỷ số signal/noise (S/N) cho mức nồng độ thấp nhất của đường chuẩn
- Các thông số cần thiết pic để có thể trả lời các câu hỏi phần báo cáo thực tập
- Tính số đĩa lý thuyết cho cột tách đối với Rhodamine B
- Dựng đường chuẩn của Rhodamin B và xác định hàm lượng Rb (ng/g) có trong mẫu sơn móng tay
- Tính độ thu hồi của phương pháp phân tích
8.6 Câu hỏi chuẩn bị bài
Câu 1 Nêu sự khác nhau giữa sắc ký lỏng pha đảo và sắc ký lỏng pha thường
Câu 2 Tại sao cột C18 được ứng dụng rộng rãi để tách các chất có độ phân cực khác nhau? Câu 3 Để thay đổi thời gian lưu cần thực hiện các biện pháp gì? Tại sao?
Câu 4 Sự khác nhau của detector PDA hay còn gọi là detector diode array với detector
UV-Vis thông thường
Câu 5 Ngoài phương pháp HPLC trong bài, còn phương pháp nào khác có thể dùng để phân
tích Rhodamine B trong sơn móng tay, ưu và nhược điểm các phương pháp đó so với phương pháp đề xuất trong bài thực tập
8.7 Tường trình thực tập
Thông tin: Họ tên, lớp, nhóm, người hướng dẫn, buổi thực tập, ngày thực tập
Cách chuẩn bị mẫu: Địa điểm lấy mẫu, thông tin về mẫu, cách lấy mẫu và bảo quản mẫu,
cách pha chế dung dịch chuẩn và cách chuẩn bị dung dịch phân tích
Báo cáo số liệu: Các thông số thí nghiệm, nhận xét sắc đồ, các số liệu thu được bao gồm thời
gian chết, thời gian lưu, độ rộng pic và diện tích pic
Tính toán kết quả: Dựa trên số liệu thu được tính toán thời gian lưu hiệu chỉnh, hệ số lưu, số
đĩa lí thuyết trung bình, số đĩa lí thuyết hiệu lực trung bình đối với Rhodamine B
Nhận xét kết quả: Dựa trên kết quả tính toán được đưa ra các nhận xét về:
- Phương pháp định tính Rhoamine B trong mẫu (so sánh thời gian của các dung dịch chuẩn (tính thời gian lưu trung bình và độ lệch chuẩn) , mẫu phân tích, mẫu thêm chuẩn;
Trang 7- Các thông số trong phương pháp định lượng: hệ số dung tích; số đĩa lý thuyết, hệ số đối xứng pic, độ tinh khiết pic
Tài liệu tham khảo
1 Daniel C Harris (2010) Quantitative Chemical Analysis (8th Edition) W.H Freeman
and Company Publishing
2 Trần Tứ Hiếu, Từ Vọng Nghi, Nguyễn Văn Ri, Nguyễn Xuân Trung (2007) Hóa học phân tích – Phần 2: Các phương pháp phân tích công cụ Nhà xuất bản Khoa học và
Kỹ thuật
3 Douglas A Skoog, F James Holler, Stanley R Crouch (2006) Principles of Instrumental Analysis (6th Edition) Brooks Cole Publishing
4 http://tools.thermofisher.com/content/sfs/brochures/AN-1102-LC-Rhodamine-B-Cosmetics-AN71174-EN.pdf
Trang 8BÀI 9: PHƯƠNG PHÁP SẮC KÝ KHÍ – DETECTOR BẮT GIỮ ĐIỆN TỬ
(GC-ECD) Tách và xác định một số hóa chất bảo vệ thực vật clo hữu cơ trong mẫu nước
9.1 Mục đích thí nghiệm
Hexachlorocyclohexane (HCH), còn được gọi là benzene hexachloride (BHC), là nhóm các đồng phân quang học có chung công thức phân tử C6H6Cl6, được tổng hợp và sử dụng rộng rãi làm thuốc trừ sâu từ sau chiến tranh thế giới thứ 2 đến những năm 1990 Trong hỗn hợp HCH kỹ thuật thường chứa các đồng phân như α-HCH (55–80%), β-HCH (5–14%), γ-HCH (8–15%), δ-γ-HCH (2–16%) và ε-γ-HCH (3–5%) Riêng đồng phân γ-γ-HCH có những tác dụng đặc hiệu nên được phân lập và tổng hợp thành một sản phẩm riêng với tên thương mại Lindane Do các đồng phân HCHs có độ bền cao, có khả năng tích lũy sinh học, gây rối loạn nội tiết và được cho là tác nhân gây ung thư, các hợp chất này đã bị cấm sản xuất và sử dụng tại nhiều quốc gia trên thế giới từ những năm 1990 Năm 2009, α-HCH, β-HCH và Lindane được đưa vào danh sách các hóa chất cần phải loại bỏ theo Công ước Stockholm về các chất
ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy (POPs)
Hình 9.1 Công thức cấu tạo của HCHs
Tại Việt Nam, HCH kỹ thuật và Lindane (thường được biết đến với tên gọi thuốc trừ sâu 666) cùng với các thuốc trừ sâu clo hữu cơ khác (OCPs) bị cấm từ năm 1995 Tuy nhiên, OCPs nói chung và HCHs nói riêng đã được phát hiện trong các thành phần môi trường ở Việt Nam như nước mặt, đất, trầm tích, không khí, sinh vật và thậm chí trong cơ thể người
Sự có mặt của OCPs trong môi trường và sinh vật hàng thập kỷ sau khi chúng bị cấm lưu hành được giải thích bởi tính chất bền vững và khả năng tích lũy sinh học, cộng thêm với những điểm ô nhiễm tồn lưu chưa được xử lý triệt để và các hành vi mua bán, sử dụng thuốc trừ sâu không rõ nguồn gốc xuất xứ
Trong bài thực tập này, sinh viên sẽ tiến hành xác định hàm lượng một số đồng phân HCHs bao gồm α-HCH, β-HCH và γ-HCH trong mẫu nước bằng kỹ thuật chiết lỏng lỏng và định lượng bằng phương pháp sắc ký khí ghép nối detector bắt giữ điện tử (GC-ECD) Các đồng phân HCHs có độ phân cực tương đối thấp được tách ra khỏi nền mẫu nước và chuyển
Trang 9vào dung môi kém phân cực dichloromethane (DCM) Dịch chiết DCM chứa chất phân tích tiếp tục được làm khan, làm sạch qua cột chứa chất hấp phụ florisil, cô đặc và phân tích trên
hệ thống GC-ECD
9.2 Cơ sở lý thuyết của phương pháp phân tích
Sắc ký khí kèm với một loại detector phù hợp là phương pháp ưu việt để tách và định lượng một cách chính xác lượng vết và siêu vết các hợp chất dễ bay hơi ngay cả khi tính chất của chúng rất giống nhau Tách các hợp chất hữu cơ trên cột sắc ký khí dựa vào sự phân bố khác nhau của các hợp chất hữu cơ giữa pha tĩnh lỏng hoặc rắn và pha động là khí, khi cho pha động đi qua cột Hình 9.2 là sơ đồ thiết bị sắc ký khí gồm có 6 bộ phận chính: 1- nguồn khí mang; 2- điều chỉnh áp suất/dòng; 3- bộ phận nạp mẫu (cổng bơm mẫu = injector); 4- cột tách; 5- detector; 6- bộ phận điều khiển và xử lý tín hiệu, 7 = máy ghi
Hình 9.2 Sơ đồ thiết bị sắc kí khí
Khi mẫu được bơm vào đầu cột, qua cổng 3, do ở đây có đặt nhiệt độ thích hợp làm cho mẫu hoá hơi Tuỳ thuộc vào nồng độ mẫu mà người ta đặt chế độ làm việc cho bộ phận bơm mẫu này theo kiểu chia dòng hay không chia dòng Nếu nồng độ mẫu lớn, chế độ chia dòng được thiết lập, phần lớn mẫu được thải ra ngoài, một phần đi vào cột Khí mang từ nguồn 1 đẩy chất phân tích đi dọc theo cột 4, quá trình tách các chất xảy ra ở đây Sau khi tách, các chất lần lượt đi qua detector 5 Tín hiệu được xử lý, khuếch đại và ghi lại bởi thiết bị ghi 6 Ngoài ra thiết bị được điều khển bởi phần mềm đi theo máy bao gồm đặt các chế độ làm việc của các bộ phận chức năng như nhiệt độ detector, nhiệt độ injector, tốc độ dòng khí mang, bơm mẫu… và đặc biệt là nhiệt độ cột tách, đôi khi cần thiết phải đặt chương trình cho nhiệt
độ cột sao cho hiệu quả tách đạt tốt nhất Các chức năng này cũng được thực hiện ở khối chức năng 6 Bộ phận cuối cùng là ghi số liệu 7
9.2.1 Khí mang và khí phụ trợ
Trong sắc ký khí, khí mang đóng vai trò là pha động, có nhiệm vụ đưa mẫu phân tích đi dọc theo cột, ngoài ra trong một số trường hợp khí mang còn tham gia phát hiện chất phân
Trang 10tích sau cột và góp phần làm sạch hệ sắc ký Khí mang phải đáp ứng được các yêu cầu chính như: (1) có khả năng khuếch tán tốt, (2) có độ tinh khiết cao, (3) trơ với pha tĩnh, chất phân tích và vật liệu trong hệ sắc ký, (4) kém hấp phụ vào pha tĩnh và (5) dễ sử dụng, an toàn và giá thành hạ Các khí thường được dùng làm khí mang trong sắc ký khí là He, H2, N2, Ar, Ne,
Kr, CH4 Trong các khí trên, N2 được sử dụng khá phổ biến do có ưu điểm là an toàn, giá thành rẻ và dễ dàng làm tinh khiết; N2 có thể được cấp từ bom chứa N2 lỏng hoặc được cấp trực tiếp từ thiết bị phát N2
Khí phụ trợ là thành phần cần thiết để đưa chất phân tích từ sau cột tách đến detector, góp phần phát hiện chất phân tích ở detector cũng như tham gia vào việc làm sạch để duy trì tuổi thọ, độ nhạy và độ lặp lại của detector Khí phụ trợ được sử dụng phổ biến nhất là N2 Đối với một số detector cần đến ngọn lửa như FID hay FPD (Flame Photometric Detector – detector quang hóa ngọn lửa) thì còn cần thêm hỗn hợp khí là hydro và oxy hoặc không khí
Ở các phòng thí nghiệm hiện nay, khí hydro thường được cung cấp bởi thiết bị sinh khí hoạt động trên nguyên tắc điện phân nước và không khí được cấp bởi thiết bị nén khí
9.2.2 Cổng bơm mẫu
Mẫu phân tích trên hệ thống sắc ký khí thường ở dạng dung dịch, các chất phân tích được hòa tan trong một dung môi phù hợp rồi dùng syringe hút một thể tích xác định dung dịch mẫu (thường là 1 μL) và tiêm vào hệ sắc ký Có hai cách bơm mẫu vào hệ thống sắc ký khí là bơm mẫu trực tiếp và bơm mẫu gián tiếp Đối với bơm mẫu trực tiếp, dung dịch mẫu được đưa trực tiếp vào cột tách, chất phân tích sau đó được hóa hơi và tách khỏi dung môi nhờ chương trình nhiệt độ và hiệu ứng dung môi; cách bơm mẫu này có ưu điểm là phản ánh trung thực nhất thành phần của dung dịch mẫu nhưng đòi hỏi thiết kế đặc biệt đối với bộ phận bơm mẫu Cách bơm mẫu gián tiếp được sử dụng phổ biến hơn, theo đó giọt dung dịch mẫu đưa vào sẽ được hóa hơi tại buồng bay hơi là một ống thủy tinh có gia nhiệt, sau đó dòng khí mang mới đưa đám hơi mẫu đi vào cột tách Bơm mẫu gián tiếp có 2 chế độ là bơm chia dòng (split) và không chia dòng (splitness) Đối với chế độ bơm không chia dòng, toàn bộ đám hơi mẫu sẽ được đưa vào cột tách, chế độ này phù hợp cho loại cột nhồi hoặc các mẫu có nồng
độ chất phân tích thấp Chế độ bơm không chia dòng thường được dùng trong sắc ký khí cột mao quản, cho các mẫu có nồng độ chất phân tích không quá thấp và để hạn chế lượng dung môi đi đến detector; tỉ lệ chia dòng thường nằm trong khoảng 1:50 đến 1:500, đối với tỉ lệ chia dòng 1:50 thì lượng mẫu đi vào cột bằng 1/50 lượng mẫu bị đưa ra ngoài qua một van chia Hiện nay, nhằm thu được kết quả với độ lặp lại cao, các hệ thống GC thường được trang
bị bộ phận lấy mẫu và bơm mẫu tự động (autosampler)