Để đảm bảo mục tiêu đổi mới dạy học môn Địa lí THPT theo định hướng phát triển năng lực học sinh, đồng thời góp phần vào giải quyết thực trạng các em có xu hướng chán học, thờ ơ với môn
Trang 1SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Đề tài :
“SỬ DỤNG CÁC KỸ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC NHẰM
PHÁT TRIỂN PHẨM CHẤT VÀ NĂNG LỰC CHO HỌC SINH
THÔNG QUA DẠY HỌC ĐỊA LÍ 12 THPT”
Môn: Địa Lí
0
Trang 2SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN
TRƯỜNG THPT CỬA LÒ
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Đề tài :
“SỬ DỤNG CÁC KỸ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC NHẰM
PHÁT TRIỂN PHẨM CHẤT VÀ NĂNG LỰC CHO HỌC SINH
THÔNG QUA DẠY HỌC ĐỊA LÍ 12 THPT”
Họ và tên:
Trần Thị Mai Oanh ĐT: 0915545345 Nguyễn Thị Sửu ĐT: 0976698321
Tổ: Khoa Học Xã Hội Thuộc môn: Địa Lí
Năm học: 2021-2022
Trang 33 Sử dụng kỹ thuật dạy học theo trạm 11
Trang 41 Giáo án số 1 26
3 Nội dung, phương pháp thực nghiệm 42
V Một số khó khăn khi áp dụng đề tài 46
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ BẢNG
STT Hình, bảng Tên bảng và hình Trang
1 Hình 1.1 Sơ đồ tư duy bài Sử dụng và bảo vệ tài
nguyên thiên nhiên
Bảng khảo sát kết quả học tập của học sinh
Trang 68 GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo
9 CNTT Công nghệ thông tin
Trang 8Để đảm bảo mục tiêu đổi mới dạy học môn Địa lí THPT theo định hướng phát triển năng lực học sinh, đồng thời góp phần vào giải quyết thực trạng các em có xu hướng chán học, thờ ơ với môn Địa lí, giáo viên trên cả nước đã chủ động, sáng tạo trong việc vận dụng các phương pháp dạy học phù hợp và có hiệu quả Để nâng cao chất lượng dạy và học Địa lí mỗi GV cần biết cách áp dụng các KTDH cùng với các PPDH tích cực
Chủ trương của Bộ GD-ĐT đã được Sở GD-ĐT quán triệt từng năm học, đến từng đơn vị giáo dục và đặc biệt đã tổ chức triển khai tập huấn cho đội ngũ giáo viên cốt cán về các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực như: Lược đồ tư duy, khăn trải bàn, theo góc, theo dự án, hợp đồng, KWLH, trò chơi…
Sau thời gian nghiên cứu và ứng dụng vào dạy học thực tiễn trong nhà trường THPT, chúng tôi thấy một số kĩ thuật và phương pháp dạy học tích cực có thể phát huy được tính tích cực, hứng thú và tự học của học sinh Tuy nhiên, để sử dụng có hiệu quả các kĩ thuật dạy học này, GV cần phải nắm được các bước tiến hành, ưu điểm, nhược điểm, khả năng ứng dụng và kết hợp sáng tạo với các phương pháp dạy học truyền thống, đặc thù bộ môn
Từ những lí do trên, chúng tôi đã mạnh dạn chọn đề tài nghiên cứu “Sử dụng các kỹ thuật dạy học tích cực nhằm phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh thông qua dạy học Địa lí 12 THPT” làm sáng kiến kinh nghiệm của mình
II Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
1 Mục đích
- Góp phần đổi mới phương pháp dạy học bộ môn Địa lí nói chung và chương trình lớp 12 nói riêng, nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy của giáo viên và rèn luyện cho học sinh phát triển năng lực tư duy, rèn luyện kĩ năng tự học, tự nghiên cứu
- Thông qua kết hợp các kỹ thuật dạy học ở môn Địa lí lớp 12 – THPT nhằm phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của HS, góp phần nâng cao hiệu quả học tập môn Địa lí ở nhà trường phổ thông Đồng thời, cung cấp tri thức, kỹ năng, bồi dưỡng thái độ, hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất đạo đức, thẩm mỹ cho học sinh
Trang 9- Từ kết quả đạt được đề tài đưa ra các kiến nghị, đề xuất
III Đối tượng, phạm vi, phương pháp và thời gian nghiên cứu
1 Đối tượng, phạm vi
- Học sinh lớp 12 từ năm học 2020 - 2021 và năm học 2021 – 2022 trong chương trình Địa lí THPT – Ban cơ bản
- Học sinh Trường THPT Cửa Lò
2 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu về đặc điểm tâm lí học sinh THPT
- Nêu cơ sở lí luận
- Phân tích thực trạng về việc giảng dạy của giáo viên, học tập của học sinh và tài liệu tham khảo, kiểm tra đánh giá, … về các bài học Địa lí
- Thu thập và xử lí thông tin, tài liệu, đề xuất các giải pháp sử dụng các kỹ thuật dạy học trong môn Địa lí
- Thể nghiệm trên tiết dạy cụ thể
- Đánh giá kết quả đạt được từ việc áp dụng phương pháp mới
3 Thời gian nghiên cứu
Năm học 2020 - 2021 và năm học 2021 - 2022
IV Những đóng góp mới của đề tài
- Sử dụng các kĩ thuật dạy học giúp học sinh chủ động tiếp cận với chương trình giáo dục phổ thông năm 2018 và các hoạt động giáo dục tại địa phương
- GV đánh giá đúng năng lực học tập của từng học sinh Qua đó, giúp học sinh học yêu thích và học tập tốt môn Địa lí
- Hình thành phương pháp học tập chủ động sáng tạo, phương pháp tự học, tự nghiên cứu, vừa học vừa áp dụng vào thực tiễn cuộc sống và rèn luyện cho học sinh kĩ năng làm việc theo nhóm một cách có hiệu quả, nâng cao khả năng giao tiếp trước đám đông và khả năng thuyết trình các sản phẩm do chính các em tự nghiên cứu
- Định hướng cho học sinh cách tìm tòi, khai thác các tài liệu liên quan đến vấn đề học tập và định hướng cách khai thác thông tin từ tài liệu thu thập được một cách có hiệu quả
Trang 103
- Đề xuất nội dung và quy trình dạy học môn Địa lí theo hướng sử dụng các
kỹ thuật dạy học cho học sinh THPT, góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học môn Địa lí cũng như phát triển năng lực, trang bị cho các em kiến thức; kĩ năng; thái độ về các hoạt động học tập nhằm phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh
- Hình thành lòng yêu quê hương đất nước, bảo vệ tài nguyên và môi trường
Trang 11và cuộc sống Mặt khác, giáo dục còn góp phần hình thành và bồi dưỡng nhân cách tốt đẹp cho học sinh
Giáo dục phổ thông nước ta đang chuyển từ giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học Giáo dục định hướng năng lực nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho học sinh năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp
Vậy để giáo dục có hiệu quả và đạt chất lượng cao, trong quá trình giảng dạy chúng ta cần thiết phải đổi mới về nội dung, phương pháp dạy học, trong đó đổi mới nhằm phát huy tính tích cực của học sinh là vấn đề quan trọng
Một số biện pháp đổi mới các phương pháp dạy học như: cải tiến các phương pháp dạy học truyền thống; kết hợp đa dạng các phương pháp dạy học; vận dụng dạy học định hướng hành động; tăng cường sử dụng phương tiện dạy học và công nghệ thông tin hợp lý hỗ trợ dạy học; sử dụng các kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực sang tạo…
1.1 Phương pháp dạy học
Chúng ta hiểu phương pháp dạy học là cách thức tương tác giữa giáo viên và học sinh trong phạm trù hoạt động dạy và học nhằm mục đích giáo dục và trau dồi học vấn cho thế hệ trẻ
Phương pháp dạy học theo quan niệm hiện nay là cách thức hướng dẫn và chỉ đạo của giáo viên nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và hoạt động thực hành của học sinh, dẫn tới việc học sinh lĩnh hội vững chắc nội dung học vấn, hình thành thế giới quan và phát triển năng lực nhận thức
Theo quan điểm này thì dạy học chính là quá trình tổ chức cho học sinh lĩnh hội tri thức Vai trò của học sinh trong quá trình dạy học là quá trình chủ động Như vậy việc dạy học theo những phương pháp dạy học tích cực là cần thiết
1.2 Kỹ thuật dạy học
Để có phương pháp dạy học tích cực chúng ta có thể sử dụng các kỹ thuật dạy học hiện đại Kỹ thuật dạy học là biện pháp, cách thức tiến hành các hoạt động dạy học dựa vào các phương tiện, thiết bị nhằm đảm bảo chất lượng và hiệu quả giảng
Trang 125
dạy Các kỹ thuật dạy học chưa phải là các phương pháp dạy học độc lập, chúng là những thành phần của phương pháp dạy học Tuy nhiên, vì đều là cách thức hành động của giáo viên và học sinh, nên kỹ thuật dạy học và phương pháp dạy học có những điểm tương tự nhau, khó phân biệt rõ ràng
Kỹ thuật dạy học tích cực là những kỹ thuật dạy học có ý nghĩa đặc biệt trong việc phát huy sự tham gia tích cực của học sinh vào quá trình dạy học, kích thích
tư duy, sự sáng tạo và sự cộng tác làm việc của học sinh
Năng lực sử dụng các kỹ thuật dạy học khác nhau phụ thuộc vào trình độ chuyên môn của từng giáo viên, và nó được đánh giá là một tiêu chí quan trong trong công cuộc đổi mới phương pháp dạy học trong giai đoạn hiện nay
1.3 Dạy học theo hướng phát triển năng lực trong môn Địa lí
1.3.1 Khái niệm về phẩm chất và năng lực
Phẩm chất là những tính tốt thể hiện ở thái độ, hành vi ứng xử của con người cùng với năng lực tạo nên nhân cách con người
Năng lực là khả năng vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng, thái
độ và hứng thú để hành động một cách phù hợp và có hiệu quả trong các tình huống đa dạng của cuộc sống
1.3.2 Chương trình giáo dục theo định hướng phát triển năng lực
- Chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực, còn gọi là DH định hướng kết quả đầu ra, được bàn đến nhiều từ những năm 90 của thế kỷ 20 và ngày nay đã trở thành xu hướng giáo dục quốc tế Giáo dục định hướng phát triển năng lực nhằm mục tiêu phát triển năng lực người học
- Khác với chương trình định hướng nội dung, chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực tập trung vào việc mô tả chất lượng đầu ra, có thể coi là
“sản phẩm cuối cùng” của quá trình giáo dục Việc quản lý chất lượng DH chuyển
từ việc điều khiển “đầu vào” sang điều khiển “đầu ra”
1.3.3 Phân loại năng lực
- Năng lực chung là những năng lực cơ bản, thiết yếu hoặc cốt lõi… làm nền tảng cho mọi hoạt động của con người trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp
Trang 136
Một số năng lực cốt lõi của học sinh gồm năng lực tự học; năng lực giải quyết vấn đề; năng lực sáng tạo; năng lực giao tiếp; năng lực hợp tác; năng lực sử dụng công nghệ và thông tin; năng lực sử dụng ngôn ngữ; năng lực tính toán
- Năng lực chuyên biệt là những năng lực được hình thành và phát triển trên
cơ sở các năng lực chung theo định hướng chuyên sâu, riêng biệt trong các loại hình hoạt động
- Các năng lực đặc thù trong môn Địa lí
Môn Địa lí góp phần hình thành và phát triển ở học sinh các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung theo các mức độ phù hợp với môn học, cấp học đã được quy định tại Chương trình tổng thể:
- Nhận thức khoa học địa lí
- Tìm hiểu địa lí
- Vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học
2 Cơ sở thực tiễn
2.1 Thực trạng sử dụng các kỹ thuật dạy học trong trường THPT
Hiện nay, trước yêu cầu đổi mới của giáo dục trong thời kỳ hiện đại đa số giáo viên Địa Lí cũng như giáo viên phổ thông khác đều nhận thấy sự cần thiết phải đổi mới PPDH với việc tăng cường áp dụng các PPDH và KTDH tích cực trong quá trình dạy học
- Ở một số trường THPT, GV đã áp dụng phổ biến các kĩ thuật dạy học mới vào dạy học tuy nhiên sự đa dạng chưa nhiều, mới chủ yếu là kĩ thuật như “khăn trải bàn”, “động não”, “3 lần 3”, còn hầu như kĩ thuật khác chưa được áp dụng thường xuyên, tỉ lệ GV chưa sử dụng các KTDH còn khá cao, nhiều giáo viên còn rất lúng túng khi áp dụng các KTDH hiện đại
- Đối với bộ môn Địa lí, do đặc thù bộ môn có nhiều điều kiện để áp dụng các KTDH tích cực Tuy nhiên, dù có áp dụng nhiều nhưng hiệu quả cũng không cao, hoặc do cách thức thực hiện chưa mang lại hiệu quả Chính vì vậy việc vận dụng các KTDH đặt ra nhiều yêu cầu đối với GV như: sự cần thiết phải nắm chắc quy trình tiến hành các kĩ thuật, khả năng tổ chức quản lí tốt giờ học, lớp học cũng như khả năng áp dụng đa dạng, linh hoạt, sáng tạo các kĩ thuật khác nhau, phù hợp với nội dung, thời điểm, tâm sinh lí HS Từ đó tạo hứng thú học tập cho HS, kích thích tư duy độc lập sáng tạo có như vậy các em mới thực
sự quan tâm tới môn Địa lí
- Trong dạy học, GV thường tổ chức hoạt động học tập theo hình thức thảo luận nhóm, bằng cách chia HS thành các nhóm lớn, nhỏ tùy theo nội dung bài
Trang 147
học và sắp xếp chỗ ngồi cho HS, thường chia nhóm theo bàn, 2 bàn, 3 bàn thành một nhóm, hoặc mỗi dãy bàn thành một nhóm Nhóm thảo luận rồi đại diện từng nhóm lên trình bày kết quả Hình thức trình bày bằng giấy A0, hoặc viết lên bảng… để các nhóm khác nhận xét, bổ sung Với cách thực hiện như vậy chưa chú trọng đến thao tác thực hiện để thành một kĩ thuật cụ thể
Một thực trạng hiện nay là HS còn khá ỷ lại, không tự giác, thiếu tinh thần trách nhiệm trong hoạt động học tập hoặc chỉ mang tính chất đối phó, phụ thuộc vào SGK, phụ thuộc vào nhóm trưởng nên chất lượng học tập không cao
- Thời gian dành cho hoạt động học tập bài mới không nhiều Cộng thêm nội dung kiến thức lớn Do đó khi dạy học sử dụng các kĩ thuật dạy học thường mất nhiều thời gian Nếu giáo viên tổ chức lớp học không tốt sẽ không thể hoàn thành được nhiệm vụ đề ra và mục tiêu bài học
- Phương tiện dạy học còn thiếu, không gian lớp học hạn chế cho hoạt động thảo luận của học sinh
- Về phía giáo viên: Đội ngũ giáo viên hiện nay đa số đã được tiếp cận với quan điểm dạy học hiện đại, tuy nhiên còn nhiều giáo viên chưa nắm được bản chất của PPDH và các KTDH Vì vậy việc lựa chọn các phương pháp và sử dụng các KTDH chưa thực sự phù hợp Điều này đã chưa tạo được hứng thú cho
HS
- Về phía HS: Có rất nhiều HS có thái độ học tập chưa tích cực, không chủ động, học tập mang tính chất đối phó Trong khi tham gia thảo luận có thái độ thờ ơ, ỷ lại do đó khiến cho việc vận dụng các KTDH gặp nhiều khó khăn trong khâu tổ chức, quản lí, mang lại hiệu quả chưa cao
Trang 15
- Bước 1: GV dẫn dắt học sinh vào chủ đề, xác định rõ một chủ đề, có khoảng
2 phút cho học sinh suy nghĩ
- Bước 2: HS đưa ra ý kiến của mình Trong khi thu thập ý kiến GV không
đánh giá nhận xét Mục đích là để huy động nhiều ý kiến nối tiếp nhau
- Bước 3: Khi học sinh đã đưa ra hết ý kiến, GV đánh giá, chính xác hóa nội
dung
Kĩ thuật động não dùng trong các tình huống nhập đề vào một chủ đề; tìm ra các phương án giải quyết vấn đề; thu thập ý kiến của HS
1.3 Ví dụ
Ví dụ 1: Trong Bài 8: Thiên nhiên chịu ảnh hưởng sâu sắc của biển, GV có thể
vận dụng kĩ thuật này như sau
- Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ: Khi tìm hiểu về Khái quát chung, GV yêu cầu
HS động não viết ra giấy "Nói rằng, Việt Nam là một quốc gia biển, có đúng không? Tại sao?"
- Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ:
+ HS nghiên cứu nội dung SGK, tài liệu hoàn thành yêu cầu trong 05 phút + GV: quan sát và trợ giúp HS
- Bước 3: Báo cáo, thảo luận:
HS sẽ trình bày kết quả động não của mình đến khi viết hết các ý kiến Đại diện HS trình bày, HS khác bổ sung
- Bước 4: Kết luận, nhận định: GV nhận xét, đánh giá về thái độ, quá trình làm việc, kết quả hoạt động và chốt kiến thức
Ví dụ 2: Trong Bài 11: Thiên nhiên phân hóa đa dạng, GV có thể sử dụng kĩ thuật
này như sau:
- Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ: Khi tìm hiểu về Thiên nhiên phân hóa Bắc -
Nam, GV có thể nêu vấn đề: Những hình ảnh về phong cảnh đặc sắc của 2 miền
em có nhận xét gì? Theo em nguyên nhân chủ yếu nào làm cho thiên nhiên nước ta phân hóa theo chiều Bắc - Nam? Giải thích ngắn gọn cho ý kiến của mình?
Trang 169
- Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ:
+ HS nghiên cứu nội dung SGK, tài liệu hoàn thành yêu cầu trong 05 phút + GV: quan sát và trợ giúp HS
- Bước 3: Báo cáo, thảo luận:
HS sẽ trình bày kết quả động não của mình đến khi viết hết các ý kiến Đại diện HS trình bày, HS khác bổ sung
- Bước 4: Kết luận, nhận định: GV nhận xét, đánh giá về thái độ, quá trình làm việc, kết quả hoạt động và chốt kiến thức
1.4 Hiệu quả sử dụng kĩ thuật động não đối với học sinh
Khi áp dụng kĩ thuật động não vào giảng dạy các bài trong chương trinh Địa lí
12 bản thân nhận thấy đây là kĩ thuật dễ thực hiện, không tốn kém Sử dụng được hiệu ứng cộng hưởng, huy động tối đa trí tuệ tập thể, huy động được nhiều ý kiến, tạo cơ hội cho tất cả học sinh tham gia Kĩ thuật này sẽ rèn luyện được kĩ năng sử dụng ngôn ngữ, thể hiện được mức độ hiểu biết của HS, bộc lộ được ý thức trách nhiệm về vấn đề, ý thức ham học hỏi, tìm tòi Đồng thời sẽ giúp HS phát huy tốt được các năng lực chung, năng lực đặc thù môn Địa lí
1.5 Các hạn chế khi sử dụng kĩ thuật
gian khi lựa chọn ý kiến phù hợp với chủ đề suy nghĩ Một số HS còn chưa có
ý thức tự giác, cứ ỷ lại vào bạn nên hầu như rất ít tham gia vào các hoạt động của nhóm
1.6 Hướng khắc phục
Để khắc phục được các hạn chế trên GV có thể sưu tầm các tranh ảnh, video mang tính thời sự để lồng ghép vào các câu hỏi sử dụng kĩ thuật động não tránh sự tản mạn, lạc đề hướng HS vào câu trả lời trọng tâm Đồng thời GV phải luôn là người chủ động, bao quát có hình thức khen thưởng động viên tất cả các HS tham gia hoạt động học tập
2 Sử dụng kĩ thuật sơ đồ tư duy
2.1 Khái niệm
Sơ đồ tư duy là một sơ đồ nhằm trình bày một cách rõ ràng ý tưởng mang tính
kế hoạch hay kết quả làm việc của cá nhân hay nhóm về một chủ đề Lược đồ tư duy có thể viết trên giấy, trên bảng trong, trên bảng hay thưc hiện trên máy tính Thực tế trong tiết dạy cho thấy, việc học sinh có thể khái quát hóa nội dung là rất khó khăn, các em thường ghi nhớ một cách máy móc không theo logic Việc sử dụng sơ đồ tư duy có ý nghĩa lớn đến việc rèn luyện khả năng tự giải quyết vấn đề của học sinh, giúp học sinh có thể tổng kết kiến thức đã học Sơ đồ tư duy có thể vận dụng trong các trường hợp như sau:
Trang 1710
- Tóm tắt nội dung, ôn tập chủ đề
- Trình bày tổng quan một chủ đề
- Chuẩn bị ý tưởng cho một buổi báo cáo hay bài giảng, thuyết trình
- Ghi chép khi nghe bài giảng
2.2 Các bước tiến hành
- Bước 1: Viết tên chủ đề ở trung tâm, hay vẽ một hình phản ánh chủ đề
- Bước 2: Từ chủ đề ở trung tâm, vẽ những nhánh chính Trên mỗi nhánh viết
một khái niệm, phản ánh một nội dung lớn của chủ đề, viết bằng chữ in hoa Nhánh
và chữ viết trên đó được vẽ và viết bằng một màu Nhánh chính được nối với chủ đề trung tâm Chỉ sử dụng những thuật ngữ quan trọng để viết trên các nhánh
- Bước 3: Từ các nhánh chính vẽ các nhánh phụ được viết bằng chữ in
thường Tiếp tục như vậy ở các nhánh phụ tiếp theo
2.3 Ví dụ
Trong Bài 14: Sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, GV có thể vận dụng
kĩ thuật này khi tổng kết bài bằng sơ đồ tư duy
Hình 1.1 Sơ đồ tư duy bài Sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên
2.4 Hiệu quả sử dụng kĩ thuật sơ đồ tư duy đối với học sinh
Hầu như tất cả các bài trong chương trinh Địa lí 12 tôi đều áp dụng kĩ thuật này nhất là trong phần củng cố và ôn tập Sử dụng kĩ thuật sơ đồ tư duy sẽ giúp HS hiểu rõ các mối quan hệ của các nội dung trong bài học trở nên rõ ràng, nội dung luôn có thể bổ sung, phát triển, sắp xếp lại Qua kĩ thuật này học sinh được rèn luyện kĩ năng thiết lập sơ đồ tư duy, trinh bày nội dung dựa vào sơ đồ Kĩ thuật sử dụng sơ đồ tư duy phù hợp với tâm lí học sinh, tương đối dễ hiểu, dễ làm.Đồng thời sẽ giúp HS phát huy tốt được các năng lực chung, năng lực đặc thù môn Địa lí
2.5.Các hạn chế khi sử dụng kĩ thuật
Trang 1811
- Các sơ đồ tư duy thường khó thay đổi chỉnh sửa
- Khi sử dụng lược đồ tư duy đòi hỏi học sinh phải có khả năng sắp xếp các nội dung một cách mạch lạc, có kĩ năng trình bày tốt
2.6 Hướng khắc phục
Để khắc phục được các hạn chế trên GV có thể giao nhiệm vụ trước để các
em phác thảo ý tưởng vẽ sơ đồ tư duy của nội dung hoặc bài đó trước tránh chỉnh sửa Ngoài việc cho các em vẽ trên giấy A0, GV cho các em lên bảng vẽ và đặc biệt là khuyến khích các em vẽ sơ đồ tư duy bằng phần mềm www.mind-
nâng cao khả năng ứng dụng CNTT của các em HS trong học tập môn Địa lí
3 Sử dụng kĩ thuật dạy học theo trạm
3.1 Khái niệm:
Kĩ thuật dạy học theo trạm là kĩ thuật giáo viên tổ chức cho học sinh hoạt động học tập tự lực tại các vị trí không gian trong lớp học để giải quyết các vấn đề trong học tập Hệ thống các trạm thường được bố trí sắp xếp theo một vòng tròn khép kín trong không gian lớp học
Hoạt động của học sinh tại các trạm là hoàn toàn tự do, dưới sự hướng dẫn của GV, học sinh phải tự hoàn thành nội dung kiến thức tại các trạm Do đó, dạy học theo trạm tập trung và “tự lực và tự chủ”, rèn luyện khả năng tự giải quyết vấn đề của HS
3.2 Các bước tiến hành
- Bước 1: Chia nhóm và chuẩn bị dụng cụ
Có thể cho HS tự chia nhóm ngay tại lớp, hoặc HS chia nhóm trước và phân công chuẩn bị dụng cụ Cần lưu ý chia nhóm trước để khi thực hiện công việc thuận lợi hơn
- Bước 2: Thống nhất nội quy học tập theo trạm
GV giới thiệu nội dung học tập tại các tạm học tập, số lượng các trạm, các trạm bắt buộc và tự chọn Thông báo quy tắc của mỗi cá nhân, giới thiệu phiếu học tập và cách làm việc trên các phiếu học tập, yêu cầu trợ giúp Tất cả các nội quy đưa ra phải đảm bảo cho việc học tập tại các trạm diễn ra một cách tự lực, chủ động, hạn chế mất tật tự, tối ưu hóa thời gian làm việc
- Bước 3: Thực hiện nhiệm vụ
Tùy theo yêu cầu nhiệm vụ của mỗi trạm, HS làm việc cá nhân, theo cặp hoặc tho nhóm ở mỗi trạm học tập
- Bước 4: Tổng kết nhiệm vụ học tập
Trang 1912
Sau mỗi buổi học cần có thời gian để tổng kết bài học Yêu cầu các nhóm, cá nhân trình bày tiến trình hoàn thành nhiệm vụ ở một trạm nào đó, trình bày các kết quả thu được và tự đánh giá kết quả hoạt động của bản thân Các thành viên khác, nhóm khác đưa giá nhận xét, góp ý, bổ sung Sau cùng GV tổng kết bài học và nhấn mạnh các kiến thức trọng tâm của bài
3.3 Ví dụ
Ví dụ 1:Trong Bài 31: Vấn đề phát triển thương mại, du lịch GV có thể vận dụng
kĩ thuật này như sau:
Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ: GV chia lớp thành 6 nhóm, tương ứng với 6 trạm với các nhiệm vụ cụ thể như sau:
Vòng 1
+ Trạm 1,2,3: Tìm hiểu về nội thương
+ Trạm 4,5,6: Tìm hiểu về ngoại thương
Vòng 2:
Các trạm tiến hành đổi vị trí cho nhau để hoàn thành các công việc tiếp theo
(Trạm 1 – trạm 4; trạm 2 – trạm 5; trạm 3 – trạm 6)
+ Trạm 1,2,3: Tìm hiểu về ngoại thương
+ Trạm 4,5,6: Tìm hiểu về nội thương
- Tại mỗi trạm GV cung cấp cho HS tư liệu học tập, thông tin để hoàn thành nhiệm
vụ được giao
- Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ:
+ HS nghiên cứu nội dung SGK, tài liệu hoàn thành yêu cầu
+ GV: quan sát và trợ giúp HS
- Bước 3: Báo cáo, thảo luận: Đại diện HS trình bày, HS khác bổ sung
- Bước 4: Kết luận, nhận định: GV nhận xét, đánh giá về thái độ, quá trình làm việc, kết quả hoạt động và chốt kiến thức
3.4 Hiệu quả sử dụng kĩ thuật dạy học theo trạm đối với học sinh
Sử dụng kĩ thuật dạy học theo trạm giúp HS được tự chủ, tích cực hoạt động tham gia giải quyết các nhiệm vụ học tập, phát triển khả năng, tốc độ làm việc của
cá nhân HS có cơ hội nâng cao kĩ năng làm việc theo nhóm, các kĩ năng tranh luận, năng lực giảiquyết vấn đề Thông qua việc lựa chọn các trạm tự chọn theo khả năng, hứng thú của bản thân mỗi HS,GV có thể cá biệt hóa được trình độ của từng HS, qua đó bồi dưỡng HS giỏi và rèn luyện HS yếu Nâng cao hứng thú của
HS nhờ các nhiệm vụ học tập mang tính vừa sức, đặc biệt là những nhiệm vụ thiết
kế chế tạo và thực hiện các thí nghiệm đơn giản Khắc phục được khó khăn thiếu
Trang 2013
thốn về trang thiết bị nếu cho HS tiến hành đồng loạt Phát triển khả năng nghiên cứu các khía cạnh khác nhau của một vấn đề Kĩ thuật này sẽ giúp HS phát huy tốt được các năng lực chung, năng lực đặc thù môn Địa lí
3.5 Các hạn chế khi sử dụng kĩ thuật
- Phụ thuộc nhiều vào không gian lớp học
- Giáo viên phải có thời gian chuẩn bị nguyên liệu và nội dung công phu, phải biên soạn nội dung bài giảng bằng phương tiện trực quan Thời gian tiến hành bài dạy cũng dài hơn các phương pháp truyền thống
- Khó tổ chức và quản lí học sinh trong giờ học
3.6 Hướng khắc phục
Để khắc phục được các hạn chế trên GV chuẩn bị chu đáo các nội dung bài giảng, phân công quản lý cụ thể đối với từng nhiệm vụ GV có thể cho HS sắp xếp bàn ghế theo nhóm để không gian lớp học thoáng hơn
4 Sử dụng kĩ thuật “ ủng hộ - phản đối”
4.1 Khái niệm:
Tranh luận ủng hộ - phản đối là một kĩ thuật dùng trong thảo luận, trong đó đề cập đến một chủ đề có chứa đựng xung đột Những ý kiến khác nhau và những ý kiến đối lập được đưa ra tranh luận nhằm mục đích xem xét chủ đề dưới nhiều góc
độ khác nhau Mục tiêu của tranh luận không phải là đánh bại ý kiến đối lập mà nhằm xem xét chủ đề dưới nhiều phương diện khác nhau
4.2 Các bước tiến hành
- Bước 1: Các thành viên được chia thành hai nhóm theo hai hướng ý kiến đối
lập nhau về một luận điểm cần tranh luận Chia nhóm có thể theo nguyên tắc ngẫu nhiên hoặc theo nguyện vọng muốn đứng trong nhóm ủng hộ hay phản đối
Một nhóm sẽ thu thập ý kiến ủng hộ, một nhóm sẽ thu thập ý kiến phản đối với luận điểm tranh luận
- Bước 2: Sau khi các nhóm đã thu thập được ý kiến thì bắt đầu tiến hành thảo
luận thông qua đại diện hai nhóm Mỗi nhóm trình bày một lập luận: ủng hộ hoặc phản đối Nếu mỗi nhóm có số lượng thành viên ít 6 người thì không cần đại diện nhóm mà mọi thành viên có thể trình bày ý kiến
- Bước 3: Tiến hành thảo luận chung khi hai nhóm đã đưa ra mọi ý kiến của mình
- Bước 4: GV đánh giá kết quả thảo luận, chính xác hóa nội dung học tập
4.3 Ví dụ:
Trong Bài 41: Vấn đề sử dụng hợp lí và cải tạo tự nhiên ở Đồng bằng sông Cửu
Long Khi tìm hiểu về thế mạnh và hạn chế chủ yếu của vung GV có thể vận dụng kĩ
thuật tranh luận ủng hộ - phản đối như sau:
Trang 2114
Bước 1: GV chia lớp thành 2 nhóm ý kiến:
Nhóm 1 tìm ra những điều kiện thuận lợi của vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Nhóm 2 tìm ra những khó khăn của vùng Đồng bằng sông Cửu Long
GV đặt câu hỏi: Giả sử chúng ta là nhà đầu tư lớn, vậy theo các em có nên đầu
tư vào vùng Đồng bằng sông Cửu Long hay không? Tại sao?
- Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ:
+ HS nghiên cứu nội dung SGK, tài liệu hoàn thành yêu cầu
+ GV: quan sát và trợ giúp HS
- Bước 3: Báo cáo, thảo luận:
+ Đại diện HS trình bày, HS khác bổ sung
- Bước 4: Kết luận, nhận định: GV nhận xét, đánh giá về thái độ, quá trình làm việc, kết quả hoạt động và chốt kiến thức
4.4 Hiệu quả sử dụng kĩ thuật “ủng hộ - phản đối” đối với học sinh
Khi áp dụng kĩ thuật “ủng hộ - phản đối” vào giảng dạy các bài trong chương
trinh Địa lí 12 chúng tôi nhận thấy đây là kĩ thuật dễ thực hiện Kĩ thuật này có tác dụng tốt rèn luyện cho học sinh cách giải quyết vấn đề từ những mâu thuẫn, đấu tranh giữa các mặt đối lập để tìm ra chân lí, phát huy tính tích cực, chủ động, tư duy lôgic của học sinh Sử dụng được hiệu ứng cộng hưởng, huy động tối đa trí tuệ tập thể, huy động được nhiều ý kiến, tạo cơ hội cho tất cả học sinh tham gia Đồng thời nó sẽ giúp HS phát huy tốt được các năng lực chung, năng lực đặc thù môn Địa lí
Để khắc phục được các hạn chế trên GV có thể giao nhiệm vụ trước để các
em lên ý tưởng tránh mất thời gian Bên cạnh đó GV cũng đưa ra các quy định và hình thức khen chê để giữ trật tự khi hai phe tranh luận
5 Sử dụng kĩ thuật “các mảnh ghép”
5.1 Khái niệm:
Kĩ thuật các mảnh ghép là kĩ thuật tổ chức hoạt động hợp tác giữa cá nhân và nhóm, liên kết các nhóm nhằm giải quyết một nhiệm vụ phức hợp, kích thích sự tham gia tích cực cũng như nâng cao vai trò của cá nhân học sinh trong quá trình hợp tác
Trang 2215
Hình 1.2 Kĩ thuật dạy học các mảnh ghép
5.2 Các bước tiến hành
Giai đoạn 1: Nhóm chuyên gia
- Lớp học được chia thành các nhóm (khoảng 3 – 6 học sinh), mỗi nhóm được giao một nhiệm vụ tìm hiểu sâu một phần nội dung học tập khác nhau nhưng có sự liên kết chặt chẽ với nhau Các nhóm này gọi là các “nhóm chuyên gia”
Giai đoạn 2: Nhóm các mảnh ghép
Hình thành nhóm mới khoảng 3 – 6 HS gọi là nhóm “các mảnh ghép” Lúc này mỗi HS “chuyên gia” trở thành các “mảnh ghép” trong nhóm “các mảnh ghép”
Từng học sinh trong nhóm “chuyên gia” sẽ trình bày kết quả nội dung tìm hiểu của mình cho nhóm “các mảnh ghép” Các câu hỏi và câu trả lời của vòng 1 được các thành viên trong nhóm mới chia sẻ đầy đủ với nhau Đảm bảo các thành viên trong nhóm “mảnh ghép” sẽ nắm bắt đầy đủ nội dung của nhóm chuyên gia Khi tất cả các thành viên trong nhóm mới đã hiểu được đầy đủ nội dung ở vòng 1 thì nhiệm vụ mới sẽ được giao cho các nhóm giải quyết Nhiệm vụ này
Trang 23Ví dụ 1: Khi tổ chức cho học sinh tìm hiểu về biểu hiện của Thiên nhiên nhiệt
đới ẩm gió mùa qua các thanh phần tự nhiên khác trong Bài 10: Thiên nhiên nhiệt
đới ẩm gió mùa (tiếp theo) GV có thể sử dụng kĩ thuật “các mảnh ghép” theo các
bước sau đây:
Vòng 1: Nhóm chuyên gia
- GV chia lớp thành 5 nhóm, đánh số thứ tự cho các thành viên trong nhóm và giao nhiệm vụ cho các nhóm:
Nhóm 1: Tìm hiểu về Địa hình
Nhóm 2: Tìm hiểu về Sông ngòi
- GV yêu cầu HS các nhóm ở vòng 1 chia sẻ kiến thức, sau đó giao nhiệm vụ
mới: Hãy vẽ sơ đồ tư duy về biểu hiện của Thiên nhiên nhiệt đới gió mùa qua các
thanh phần tự nhiên
- Kết thúc buổi thảo luận GV có thể kết hợp với kĩ thuật phòng tranh để cho học sinh báo cáo kết quả
Ví dụ 2: Khi GV tổ chức cho HS tìm hiểu về Một số thiên tai chủ yếu và biện
pháp phòng chống trong bài 15: Bảo vệ môi trường và phòng chống thiên tai GV
có thể sử dụng kĩ thuật này như sau:
Trang 2417
- Nhóm mới được hình thành từ nhóm chuyên gia, HS có số thứ tự tương ứng
ở nhóm chuyên gia sẽ tập hợp thành nhóm các mảnh ghép
- GV yêu cầu HS các nhóm ở vòng 1 chia sẻ kiến thức, sau đó giao nhiệm vụ
mới: Hãy phân tích những biện pháp phòng chống thiên tai của nước ta?
- Kết thúc buổi thảo luận GV có thể kết hợp với kĩ thuật phòng tranh để cho học sinh báo cáo kết quả
5.4 Hiệu quả sử dụng kĩ thuật các mảnh ghép đối với học sinh
Khi áp dụng kĩ thuật “ủng hộ - phản đối” vào giảng dạy các bài trong chương
trinh Địa lí 12, chúng tôi nhận thấy đây là kĩ thuật phát huy được tính tích cực, làm việc có trách nhiệm của từng học sinh trong nhóm Đặc biệt học sinh sẽ tích cực hơn khi được đóng vai trò là một “chuyên gia” của nhóm về nội dung tìm hiểu Sử dụng kĩ thuật này sẽ khắc phục được nhược điểm của việc tổ chức dạy học theo nhóm hiện nay, đó là sản phẩm của nhóm chỉ do một số thành viên tích cực hoàn thành Kĩ thuật dạy học này tạo ra hoạt động đa dạng, học sinh được tham gia các hoạt động khác nhau với mức độ yêu cầu khác nhau Rèn cho học sinh kĩ năng giao tiếp, hợp tác để hoàn thành một nhiệm vụ Sử dụng được hiệu ứng cộng hưởng, huy động tối đa trí tuệ tập thể, huy động được nhiều ý kiến, tạo cơ hội cho tất cả học sinh tham gia Đồng thời nó sẽ giúp HS phát huy tốt được các năng lực chung, năng lực đặc thù môn Địa lí
Để khắc phục được các hạn chế trên GV có thể giao nhiệm vụ trước cho các
em lên ý tưởng và phân công cụ thể phù hợp năng lực của từng bạn mục đích để huy động sự tham gia tích cực tất cả HS trong học tập Đồng thời định hướng giai đoạn 2 cho các em để đạt hiệu quả cao nhất
6 Sử dụng kĩ thuật “khăn trải bàn”
6.1 Khái niệm:
Kĩ thuật khăn trải bàn là kĩ thuật tổ chức hoạt động học tập mang tính hợp tác giữa hoạt động cá nhân và nhóm
Mục tiêu:
Trang 2518
- Thúc đẩy sự tham gia tích cực của HS trong các nhiệm vụ học tập
- Tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của mỗi các nhân
- Phát triển mô hình có sự tương tác giữa học sinh với học sinh
6.2 Các bước tiến hành khi sử dụng kĩ thuật “khăn trải bàn”
Hình 1.3 Kĩ thuật dạy học khăn trải bàn
- Bước 1: Chia học sinh thành các nhóm, mỗi nhóm có 4 – 6 học sinh, phát
cho mỗi nhóm 1 tờ giấy A0 Giao nhiệm vụ và chủ đề thảo luận cho từng nhóm
- Bước 2: Các nhóm tiến hành làm việc Đầu tiên chia tờ giấy A0 thành các
phần gồm phần chính giữa và các phần xung quanh Phần xung quanh được chia theo số các thành vên trong nhóm Mỗi học sinh ngồi vào vị trí tương ứng
- Bước 3: Mỗi cá nhân làm việc độc lập trong vài phút, tập trung suy nghĩ và
trả lời câu hỏi theo cách hiểu riêng của mình, viết ý kiến vào phần giấy được giao, hoặc viết vào tờ giấy A4 rồi dán vào phần xung quanh tờ A0
- Bước 4: Trên cơ sở ý kiến của mỗi cá nhân, học sinh thảo luận nhóm thống
nhất ý kiến chung và viết vào phần chính giữa tờ giấy A0
- Bước 5: Các nhóm báo cáo kết quả, HS nhận xét, GV tổng kết, chính xác
hóa nội dung kiến thức
6.3 Ví dụ:
Ví dụ 1: Trong Bài 16: Đặc điểm dân số và sự phân bố dân cư ở nước ta, để
tổ chức cho HS tìm hiểu về các lí do làm cho sự phân bố dân cư nước ta chưa hợp
lí, GV có thể vận dụng kĩ thuật này như sau:
GV yêu cầu HS giải thích: Tại sao dân cư nước ta chủ yếu lại tập trung ở
vung đồng bằng và vùng nông thôn?
Trang 2619
Bước 1: GV chia học sinh thành các nhóm nhỏ, mỗi nhóm từ 4 – 6 học sinh,
phát cho mỗi nhóm một tờ giấy A0 và giao nhiệm vụ cho mỗi nhóm
Bước 2: Các nhóm tiến hành suy nghĩ Mỗi cá nhân trả lời câu hỏi vào phần
giấy của mình
Bước 3: Sau khi làm việc cá nhân, các thành viên thảo luận, thống nhất ý kiến
của nhóm mình, viết vào phần trung tâm của tờ giấy A0
Bước 4: Đại diện các nhóm trình bày kết quả Các nhóm khác nhận xét, bổ
sung GV kết luận lại vấn đề
Ví dụ 2: Trong Bài 17: Lao động và việc làm GV yêu cầu HS giải thích: Tại
sao việc làm là một vấn đề kinh tế - xã hội lớn ở nước ta hiện nay?
Bước 1: GV chia học sinh thành các nhóm nhỏ, mỗi nhóm từ 4 – 6 học sinh,
phát cho mỗi nhóm một tờ giấy A0 và giao nhiệm vụ cho mỗi nhóm
Bước 2: Các nhóm tiến hành suy nghĩ Mỗi cá nhân trả lời câu hỏi vào phần
giấy của mình
Bước 3: Sau khi làm việc cá nhân, các thành viên thảo luận, thống nhất ý kiến
của nhóm mình, viết vào phần trung tâm của tờ giấy A0
Bước 4: Đại diện các nhóm trình bày kết quả Các nhóm khác nhận xét, bổ
sung GV kết luận lại vấn đề
6.4 Hiệu quả sử dụng kĩ thuật khăn trải bàn đối với học sinh
Khi áp dụng kĩ thuật khăn trải bàn này sẽ kích thích tính tích cực, độc lập và hợp tác trong học tập của học sinh Mỗi học sinh đều phải làm việc, viết ra ý kiến của mình Khi thảo luận có sự tham gia của tất cả các thành viên Học sinh sẽ rèn luyện được khả năng tự tìm hiểu vấn đề, khả năng hợp tác để đưa ra sản phẩm chung cho cả nhóm Giáo viên sẽ quan sát và đánh giá chính xác được sản phẩm của từng cá nhân từ đó có những điều chỉnh về phương pháp cho phù hợp với từng đối tượng học sinh Sử dụng được hiệu ứng cộng hưởng, huy động tối đa trí tuệ tập thể, huy động được nhiều ý kiến, tạo cơ hội cho tất cả học sinh tham gia Đồng thời nó
sẽ giúp HS phát huy tốt được các năng lực chung, năng lực đặc thù môn Địa lí
6.5.Các hạn chế khi sử dụng kĩ thuật
Nếu giáo viên quá lạm dụng sẽ gây nhàm chán cho HS, đồng thời cũng khá mất thời gian cho hoạt động thảo luận, lựa chọn ý kiến của các thành viên để tổng hợp thành ý kiến chung cho cả nhóm
Khi làm việc toàn nhóm sẽ khó đánh giá được xem học sinh nào tích cực thảo luận, học sinh nào chưa tích cực
Dễ gây nhốn nháo, mất trật tự trong giờ học
6.6 Hướng khắc phục
Trang 27- Bước 1: Chia học sinh thành hai nhóm ngồi theo hai vòng tròn đồng tâm,
ngồi đối diện nhau
- Bước 2: Tiến hành thảo luận, mỗi học sinh ở vòng trong sẽ trao đổi với học
sinh ở vòng ngoài Đây là dạng đặc biệt của phương pháp luyện tập đối tác
- Bước 3: Sau một ít phút thì HS vòng ngoài ngồi yên, HS vòng trong di
chuyển theo chiều kim đồng hồ, tương tự như một vòng bi xoay, để luôn luôn hình thành nhóm đối tác mới
- Bước 4: Kết thúc thảo luận, đưa ra kết quả và đánh giá kết quả thu được
7.3 Ví dụ:
Ví dụ 1: Trong Bài 24: Vấn đề phát triển nhanh thủy sản và lâm nghiệp có
thể sử dụng kĩ thuật này như sau:
Bước 1: GV chia lớp thành 2 nhóm, ngồi thành hai vòng tròn đồng tâm, ngồi
đối diện nhau Đưa ra chủ đề thảo luận: Những điều kiện thuận lợi và khó khăn để phát triển ngành thủy sản của nước ta?
Bước 2: Tiến hành thảo luận Mỗi học sinh ở vòng trong sẽ trao đổi, thảo luận
ý kiến với học sinh ngồi đối diện vòng ngoài
Bước 3: Sau khoảng 2 phút, học sinh ngồi vòng ngoài ngồi im, học sinh vòn
trong di chuyển theo chiều kim đồng hồ như vòng xoay của ổ bi, để trao đổi thảo luận với học sinh khác Cứ như vậy đến khi học sinh hết ý kiến
Bước 4: Kết thúc thảo luận, tổng hợp những ý kiến chung nhất, HS báo cáo
kết quả thảo luận GV nhận xét, đánh giá, chính xác hóa nội dung
Trong kĩ thuật này, GV cần có khả năng tổ chức và quản lí lớp học tốt để học sinh có thể tham gia thảo luận nghiêm túc, hiệu quả
Ví dụ 2:
Trang 2821
Trong Bài 18: Đô thị hóa, GV có thể sử dụng kĩ thuật này như sau:
Bước 1: GV chia lớp thành 2 nhóm, ngồi thành hai vòng tròn đồng tâm, ngồi
đối diện nhau Đưa ra chủ đề thảo luận: Những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của
đô thị hóa đến sự phát triển kinh tế - xã hội nước ta?
Bước 2: Tiến hành thảo luận Mỗi học sinh ở vòng trong sẽ trao đổi, thảo luận
ý kiến với học sinh ngồi đối diện vòng ngoài
Bước 3: Sau khoảng 2 phút, học sinh ngồi vòng ngoài ngồi im, học sinh vòng
trong di chuyển theo chiều kim đồng hồ như vòng xoay của ổ bi, để trao đổi thảo luận với học sinh khác Cứ như vậy đến khi học sinh hết ý kiến
Bước 4: Kết thúc thảo luận, tổng hợp những ý kiến chung nhất, HS báo cáo
kết quả thảo luận GV nhận xét, đánh giá, chính xác hóa nội dung
7.4 Hiệu quả sử dụng kĩ thuật ổ bi đối với học sinh
Khi áp dụng kĩ thuật ổ bi này sẽ kích thích tính tích cực, độc lập và hợp tác trong học tập của học sinh Hình thành nhóm thảo luận theo kiểu đối tác khá độc đáo, từ đó thu hút sự hứng thú của học sinh Do HS vòng trong di chuyển để tạo ra nhóm mới nên HS có thể trao đổi, thảo luận với nhiều đối tượng khác nhau, thu nhận được nhiều ý kiến thảo luận Tính tương tác cao, rèn luyện cho HS kĩ năng hợp tác, chia sẻ, giao tiếp Sử dụng được hiệu ứng cộng hưởng, huy động tối đa trí tuệ tập thể, huy động được nhiều ý kiến, tạo cơ hội cho tất cả học sinh tham gia Đồng thời nó sẽ giúp HS phát huy tốt được các năng lực chung, năng lực đặc thù môn Địa lí
8 Sử dụng kĩ thuật “3 lần 3”
8.1 Khái niệm:
Kĩ thuật “3 lần 3” là kĩ thuật lấy thông tin phản hồi nhằm huy động sự tham gia tích cực của học sinh, kỹ thuật này thường được sử dụng khá phổ biến trong các bài học
8.2 Các bước tiến hành
- Bước 1: Giáo viên đưa ra yêu cầu học sinh cho ý kiến về một vấn đề nào đó
Trang 2922
như nội dung buổi học, phương pháp tiến hành thảo luận, nhận xét, đánh giá về một nội dung học tập
- Bước 2: Yêu cầu mỗi học sinh đưa ra: 3 điều tốt, 3 điều chưa tốt, 3 đề nghị cải tiến
- Bước 3,4: Sau một thời gian nhất định, giáo viên thu thập ý kiến, xử lí và
cho thảo luận về ý kiến đó
8.3 Ví dụ:
Ví dụ 1: Sau khi học xong Bài 8: Ảnh hưởng của Biển Đông đến thiên nhiên
Việt Nam, GV có thể sử dụng kĩ thuật này như sau:
Bước 1: GV yêu cầu HS cho ý kiến về một số vấn đề về ảnh hưởng của Biển
Đông đến thiên nhiên Việt Nam
Bước 2: Yêu cầu mỗi HS tổng kết 3 vấn đề nổi bật thiên nhiên của Biển
Đông, 3 thuận lợi, 3 khó khăn và 3 giải pháp để giải quyết về các vấn đề ảnh hưởng của Biển Đông đến thiên nhiên Việt Nam
Bước 3,4: Sau một thời gian nhất định, giáo viên thu thập ý kiến, xử lí và cho
thảo luận về ý kiến đó
Ví dụ 2: Sau khi học xong Bài 33: Vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
nhanh ở vùng đồng bằng sông Hồng GV sử dụng kĩ thuật “3 lần 3” để thu thập
thông tin, ý kiến phản hồi về nội dung bài học
Bước 1: GV yêu cầu học sinh cho ý kiến về đặc điểm chung vùng đồng bằng
sông Hồng
Bước 2: Yêu cầu mỗi học sinh viết ra giấy ý kiến của mình về vấn đề trên, cần đưa
ra 3 thế mạnh vùng đồng bằng sông Hồng, 3 hạn chế của vùng đồng bằng sông Hồng, 3 biện pháp quan trọng nhất để khai thác lợi thế của vùngc này
Bước 3,4: Sau một thời gian nhất định, giáo viên thu thập ý kiến, xử lí và cho
thảo luận về ý kiến đó
8.4 Hiệu quả sử dụng kĩ thuật 3 lần 3 đối với học sinh
Chúng tôi nhận thấy kĩ thuật này khá đơn giản, dễ thực hiện trong chương trinh Địa lí 12, nhanh chóng thu được kết quả đánh giá, nhận định, thái độ của học sinh đối với nội dung, hình thức, phương pháp học tập Huy động được sự tham gia tích cực của học sinh, rèn luyện được cho học sinh khả năng nhận xét, đánh giá các vấn đề trong học tập và giao tiếp Tăng cường trao đổi giữa GV và học sinh để cải thiện tình hình dạy và học Sử dụng được hiệu ứng cộng hưởng, huy động tối đa trí tuệ tập thể, huy động được nhiều ý kiến, tạo cơ hội cho tất cả học sinh tham gia Đồng thời nó sẽ giúp HS phát huy tốt được các năng lực chung, năng lực đặc thù môn Địa lí
8.5.Các hạn chế khi sử dụng kĩ thuật
- Gây ra sức ép cho học sinh trong quá trình suy nghĩ
Trang 30(Trích từ Ogle, D.M (1986) K-W-L: A teaching model that develops active reading of expository text Reading Teacher, 39, 564-570)
• K : Know - kiến thức / hiểu biết HS đã có;
• W : Want - những điều HS muốn biết;
• L : Learn - những điều HS tự giải đáp / trả lời ;
Lúc mới xuất hiện, kỹ thuật này dùng để dạy đọc hiểu Hiện nay được dùng trong nhiều môn học
=> Kỹ thuật KWL phát triển thành KWLH
• K : kiến thức / hiểu biết HS đã có;
• W : những điều HS muốn biết;
• L : những điều HS tự giải đáp / trả lời ;
• H : cách thức để HS tìm tòi nghiên cứu mở rộng thêm về chủ đề học
Trang 3124
- Ghi các từ, cụm từ liên
quan đến chủ đề
- Học sinh thảo luận hoặc
giải thích về những điều
đã ghi
- GV gợi ý: Các em biết gì
về…?
- Ghi những điều HS muốn biết thành câu hỏi
- GV gợi ý: Các em muốn biết gì về … trong bài học này?
- Em có muốn biết gì thêm về một điều em ghi ở cột
- Thảo luận về những điều
em đã học được…
9.2 Cách thức tiến hành
Bước 1: Sau khi giới thiệu bài học, mục tiêu cần đạt của bài học, Giáo viên phát phiếu học tập “KWL” (Kỹ thuật này có thể thực hiện cho cá nhân hoặc nhóm học sinh)
Bước 2: Hướng dẫn học sinh điền các thông tin vào phiếu học tập
Bước 3: Học sinh điền các thông tin trên phiếu như sau:
Tên bài học (hoặc chủ đề):………
Tên học sinh (hoặc nhóm học sinh): ………
Bước 4: Yêu cầu HS viết vào cột K những gì đã biết liên quan đến nội dung bài học hoặc chủ đề.Sau đó viết vào cột W những gì các em muốn biết về nội dung bài học hoặc chủ đề
Sau khi kết thúc bài học hoặc chủ đề, học sinh điền vào cột L của phiếu những gì vừa học được Lúc này, HS xác nhận về những điều các em đã học được qua bài học đối chiếu với điều muốn biết, đã biết để đánh giá kết quả học tập, sự tiến bộ của mình qua giờ học
Cuối cùng, HS sẽ so sánh với những điều đã ghi tại cột K và cột W để kiểm chứng tính chính xác của những điều đã biết (cột K), mức độ đáp ứng nhu cầu của những điều muốn biết (cột W) ban đầu
Trang 32- Kĩ thuật: KWL, giao nhiệm vụ, đặt câu hỏi
- Các bước triển khai hoạt động:
+ Bước 1: GV giới thiệu hình ảnh về biển Đông cho cả lớp trên máy chiếu và giao nhiệm vụ cho cả lớp: để tìm hiểu những nét khái quát về biển Đông cô mời tất cả các em làm phiếu học tập số 1 với sơ đồ KWL, trước hết các em hãy hoàn thành
+ Bước 2: Hết thời gian 1 phút GV cho một số HS phát biểu các ý kiến điều đã biết
về biển Đông (cột K), GV ghi nhanh vào sơ đồ KWL trên bảng Sau khi hết ý kiến
ở cột K, GV nhận xét và chuẩn kiến thức cho HS ở cột K
+ Bước 3: GV hỏi HS các em muốn biết thêm gì về biển Đông và ghi nhanh các câu hỏi của HS vào cột điều muốn biết (cột W) lên sơ đồ KWL trên bảng
Để trả lời được các câu hỏi ở cột W thì GV yêu cầu cả lớp nhìn vào sách giáo khoa trang 36, phần 1 để hoàn thiện cột L trong phiếu học tập (thời gian 1 phút)
+ Bước 4: Hết thời gian làm việc với cột L, GV cho một số HS phát biểu ý kiến phần làm việc của mình, cuối cùng GV chuẩn kiến thức trên máy chiếu và lưu ý cho HS một số câu hỏi của các em ở cột W mà nội dung không có trong phạm vi SGK, GV yêu cầu HS về nhà tìm hiểu và GV sẽ giải đáp ở các tiết học sau
9.4 Hiệu quả sử dụng kĩ thuật KWLH đối với học sinh
Khi áp dụng kĩ thuật KWLH này trong các bài thuộc chương trinh Địa lí 12 sẽ tạo điều kiện cho HS phát triển năng lực tự chủ và tự học Tạo hứng thú học tập cho
HS, khi những điều HS cần học liên quan trực tiếp đến nhu cầu nhận thức của các
em Giúp GV đánh giá và HS tự đánh giá kết quả học tập, định hướng cho các hoạt động học tập kế tiếp HS bước đầu sẽ bộc lộ ý thức trách nhiệm về vấn đề, ý thức ham học hỏi, tìm tòi Đồng thời nó sẽ giúp HS phát huy tốt được các năng lực
chung, năng lực đặc thù môn Địa lí
9.5.Các hạn chế khi sử dụng kĩ thuật
HS có thể gặp khó khăn khi diễn đạt điều các em đã biết, muốn biết một cách rõ ràng và chính xác
Trang 33- Khái quát về biển Đông:
+ Là biển rộng lớn thứ 2 trong các biển của TBD
+ Là biển tương đối kín
+ Nằm trong vùng nhiệt đới ẩm gió mùa
- Ảnh hưởng của biển Đông tới thiên nhiên VN:
+ Khí hậu: nhờ biển Đông mà khí hậu nước ta mang đặc tính của khí hậu hải dương, điều hòa hơn
+ Địa hình và các hệ sinh thái vùng biển đa dạng
+ TNTN vùng biển đa dạng (tích hợp sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả; tích hợp môi trường)
+ Thiên tai: nhiều thiên tai (bão, sạt lở biển, cát bay, cát chảy)
- Tích hợp môi trường
- Tích hợp sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả
2 Năng lực:
- Năng lực chung: Năng lực giao tiếp, hợp tác, giải quyết vấn đề, tự học, sử dụng
công nghệ thông tin
- Năng lực chuyên biệt: Tư duy tổng hợp theo lãnh thổ; sử dụng bản đồ; sử dụng
tranh ảnh
3 Phẩm chất:
- Phẩm chất: trung thực, chăm chỉ, trách nhiệm
II THIẾT BỊ DẠY HỌC VÀ HỌC LIỆU
1 Thiết bị: Máy tính, máy chiếu
2 Học liệu: SGK, Atlat, bản đồ, biểu đồ, tranh ảnh, video
III TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
Trang 3427
3.1 Ổn định:
3.2 Kiểm tra bài cũ:
* Câu hỏi: so sánh sự khác biệt về đặc điểm địa của miền núi Tây Bắc và Đông
Bắc
* Đáp án:
Phạm vi Nằm ở tả ngạn sông Hồng Nằm giữa Sông Hồng và Sông Cả
Đặc điểm
- Địa hình núi thấp chiếm phần lớn DT
- Hướng núi: vòng cung
- Có địa hình cao nhất nước ta
- Hướng núi: TB - ĐN với 3 dải địa hình rõ rệt
3.3 Hoạt động học tập:
HOẠT ĐỘNG 1: HOẠT ĐỘNG MỞ ĐẦU (KHỞI ĐỘNG)
a) Mục đích: HS gợi nhớ lại những kiến thức về Biển Đông đã học ở chương trình
Địa lí THCS và bài Vị trí địa lí, phạm vi lãnh thổ Tìm ra những nội dung HS chưa
biết, để từ đó bổ sung và khắc sâu những kiến thức của bài học cho HS
b) Nội dung: HS quan sát máy chiếu, sử dụng SGK
c) Sản phẩm: HS nhớ lại kiến thức đã được học và vận dụng kiến thức của bản
thân trả lời câu hỏi GV đưa ra
d) Tổ chức thực hiện:
- Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ: GV chiếu một số hình ảnh về Biển Đông
và thiên tai biển (có thể sử dụng Atlat: trang 6 - 7, 8, 9) CMR Biển Đông nước ta
có nhiều tài nguyên nhưng cũng có nhiều thiên tai
- Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ: HS thực hiện nhiệm vụ trong thời gian 03 phút
- Bước 3: Báo cáo, thảo luận: GV gọi một số HS trả lời, HS khác bổ sung
- Bước 4: Kết luận, nhận định: GV đánh giá kết quả của HS, trên cơ sở đó dẫn
dắt HS vào bài học mới
HOẠT ĐỘNG 2: HÌNH THÀNH KIẾN THỨC MỚI
Hoạt động 2.1 Tìm hiểu khái quát về biển Đông
a) Mục đích: HS biết được đặc điểm cơ bản của biển Đông
b) Kĩ thuật: KWL, giao nhiệm vụ, đặt câu hỏi
b) Nội dung: HS quan sát máy chiếu, sử dụng SGK để tìm hiểu nội dung kiến thức
theo yêu cầu của GV
c) Sản phẩm: HS hoàn thành tìm hiểu kiến thức:
Trang 3528
1 Khái quát về biển Đông
- Biển Đông là một biển rộng DT đứng thứ 2 trong các biển ở TBD (diện tích: 3,477 triệu km2)
- Là biển kín: Phía Đ, ĐN được bao bọc bởi các vòng cung đảo: quần đảo Philippin,
Mã lai
- Biển Đông nằm trong vùng nhiệt đới ẩm gió mùa
(tính chất nhiệt đới ẩm GM và tính chất khép kín của BĐ được thể hiện qua các yếu tố hải văn(nhiệt độ, độ mặn, sóng, thủy triều, hải lưu và sinh vật biển)
d) Tổ chức thực hiện:
- Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ: GV chiếu bản đồ tự nhiên Việt Nam GV giới
thiệu hình ảnh về biển Đông cho cả lớp trên máy chiếu và giao nhiệm vụ cho cả lớp: để tìm hiểu những nét khái quát về biển Đông cô mời tất cả các em làm phiếu
học tập số 1 với sơ đồ KWL, trước hết các em hãy hoàn thành cột K và cột W (thời
- Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ:
+ HS nghiên cứu nội dung SGK, tài liệu hoàn thành yêu cầu trong 05 phút
+ GV: quan sát và trợ giúp HS
- Bước 3: Báo cáo, thảo luận:
+ Đại diện HS trình bày, HS khác bổ sung
Hết thời gian 1 phút GV cho một số HS phát biểu các ý kiến điều đã biết về biển Đông (cột K), GV ghi nhanh vào sơ đồ KWL trên bảng Sau khi hết ý kiến ở cột K,
GV nhận xét và chuẩn kiến thức cho HS ở cột K
GV hỏi HS các em muốn biết thêm gì về biển Đông và ghi nhanh các câu hỏi của
HS vào cột điều muốn biết (cột W) lên sơ đồ KWL trên bảng
Trang 3629
- Giáp với nhiều nước
- Hiện nay đang có sự
tranh chấp của nhiều
nước trên biển Đông
- Bước 4: Kết luận, nhận định: GV nhận xét, đánh giá về thái độ, quá trình làm
việc, kết quả hoạt động và chốt kiến thức
Hoạt động 2.2 Tìm hiểu về ảnh hưởng của biển Đông tới
thiên nhiên Việt Nam a) Mục đích: Phân tích được ảnh hưởng của biển Đông tới thiên nhiên nước ta
Liên hệ thực tế địa phương về ảnh hưởng của biển đối với khí hậu, địa hình ven biển, sinh vật…
b) Kĩ thuật: động não, khăn trải bàn, nhóm, trò chơi, đặt câu hỏi, giao nhiệm vụ c) Nội dung: HS quan sát máy chiếu, sử dụng SGK để tìm hiểu nội dung kiến thức
theo yêu cầu của GV
d) Sản phẩm: HS hoàn thành tìm hiểu kiến thức:
2 Ảnh hưởng của biển Đông tới tự nhiên nước ta
a Khí hậu
- Biển Đông làm tăng độ ẩm của các khối khí qua biển mang lại cho nước ta lượng mưa và độ ẩm lớn đồng thời làm giảm tính chất khắc nghiệt của thời tiết lạnh khô trong mùa đông và làm dịu bớt thời tiết nóng bức trong mùa hạ (làm cho KH Việt Nam mang nhiều đặc tính của KH hải dương nên điều hòa hơn), làm giảm độ lục địa ở các vùng cực tây đất nước
b Địa hình và các hệ sinh thái vùng ven biển
- Các dạng ĐH ven biển rất đa dạng: các vịnh cửa sông, các vũng vịnh nước sâu, các bờ biển mài mòn, các tam giác châu, các bãi cát phẳng, các cồn cát, đầm phá, các đảo ven bờ và các rạn san hô
- Các HST ven biển đa dạng và giàu có: Rừng ngập mặn (DT đứng thứ hai sau rừng ngập mặn Amdon ở Nam Mĩ; phân bố chủ yếu ở Nam Bộ; DT đã bị thu hẹp
Trang 3730
do chuyển đổi thành DT nuôi tôm, cá và do cháy rừng), các HST trên đất phèn( rừng tràm), HST rừng trên các đảo
c Tài nguyên thiên nhiên vùng biển:
- TN khoáng sản: dầu khí là KS có trữ lượng lớn và giá trị nhất( hai bể lớn nhất là Cửu Long, Nam Côn Sơn; hai bể có trữ lượng đáng kể là Sông Hồng và Thổ Chu -
Mã Lai), cát có chứa trữ lượng lớn titan ( sa khoáng hay cát trắng ở các đảo của Quảng Ninh, Khánh Hòa là nguyên liệu quý cho CN thủy tinh, pha lê), muối (nghề làm muối PT nhất ở DHNTB - nơi có nhiệt độ cao, nhiều nắng lại chỉ có một số sông nhỏ đổ ra biển)
- TN hải sản: Cá, tôm, mực, các loài SV phù du, SV đáy, các loài đặc sản: Vích,
sò huyết, hải sâm, bào ngư,trai ngọc , ven các đảo nhất là tại hai quần đảo HS và
TS còn có tài nguyên quý giá là các rạn san hô
d Thiên tai
- Bão: Mỗi năm có khoảng 3 - 4 cơn bão trực tiếp đổ bộ vào nước ta và nơi chịu ảnh hưởng lớn nhất của bão là ven biển MT (Atlat trang 9)
- Sạt lở bờ biển: Xảy ra nhiêu nhất ở ven biển Trung Bộ
- Cát bay, cát chảy xảy ra chủ yếu ở các vùng ven biển miền trung
d) Tổ chức thực hiện:
a Khí hậu:
- Hình thức: Cả lớp
- Thời gian: 3 phút
- Phương pháp: giải quyết vấn đề
- Kĩ thuật: động não, đặt câu hỏi, giao nhiệm vụ
- Các bước triển khai hoạt động:
+ Bước 1: GV đưa ra lược đồ “Phân bố lượng mưa trên thế giới” và hình ảnh về thiên nhiên Việt Nam và thiên nhiên khu vực Tây Nam Á sau đó đặt câu hỏi cho cả lớp: So sánh lượng mưa của Việt Nam và các nước cùng vĩ độ?; Nhận xét về 2 bức tranh thiên nhiên của Việt Nam và khu vực Tây Nam Á?
+ Bước 2: HS suy nghĩ và rút ra nhận xét: tuy nằm cũng vĩ độ nhưng Việt Nam có lượng mưa cao hơn hẳn các nước ở Tây Nam Á và Bắc Phi Thiên nhiên Việt Nam xanh tốt, giàu sức sống khắc hẳn với thiên nhiên khu vực Tây Nam Á khô cằn, chủ yếu là hoang mạc, sa mạc
+ Bước 3: GV đưa ra câu hỏi: Từ các nhận xét trên em hãy nêu ảnh hưởng của biển Đông đến thiên nhiên nước ta?
Trang 38- Kĩ thuật: chia nhóm, đặt câu hỏi, giao nhiệm vụ, khăn trải bàn, viết tích cực
- Các bước triển khai hoạt động:
+ Bước 1: GV chia lớp thành 3 nhóm và đặt tên cho các nhóm theo chủ đề Biển: Biển xanh, Nắng vàng, Cát trắng Các thành viên di chuyển về vị trí của nhóm mình để làm việc
+ Bước 2: GV giao nhiệm vụ cho 3 nhóm: Kể tên các dạng địa hình và hệ sinh thái vùng ven biển nước ta Để thực hiện nhiệm vụ, HS làm việc với kĩ thuật “khăn trải
bàn”
GV giao nhiệm vụ cho 3 nhóm
PHIẾU HỌC TẬP SỐ 1 Ý KIẾN CÁ NHÂN (Thời gian: 2 phút)
HỌ VÀ TÊN HỌC SINH: NHÓM:
Câu hỏi: Kể tên các dạng địa hình và các hệ sinh thái vùng ven biển nước ta
Các dạng địa hình ven biển là:
Các hệ sinh thái ven biển là:
+ Bước 3: Trước hết HS sẽ làm việc với phiếu cá nhân (2 phút) sau đó các nhóm sẽ thảo luận và ghi ý kiến thống nhất vào phiếu học tập chung của cả nhóm (2 phút),
các phiếu các nhân sẽ được dán xung quanh ý kiến chung
+ Bước 4: Sau thời gian quy định 3 nhóm treo kết quả trên bảng, đại diện các nhóm
sẽ trình bày kết quả, các nhóm khác nhận xét, bổ sung kết quả của nhóm trình bày
GV kết luận và chuẩn kiến thức
+ Bước 5: GV giao nhiệm vụ cho 3 nhóm: Dựa vào At lát Địa lí Việt Nam xác định
vị trí các vịnh biển: Hạ Long, Đà Nẵng, Xuân Đài, Vân Phong, Cam Ranh Các
vịnh biển này thuộc các tỉnh, thành phố nào?
Trang 39Các nhóm làm việc theo phiếu học tập chung cho cả nhóm với kĩ thuật
“viết tích cực” (thời gian: 1 phút) Hết thời gian 3 nhóm treo kết quả lên bảng, GV
- Kĩ thuật: tia chớp
- Các bước triển khai hoạt động:
+ Bước 1: GV giao nhiệm vụ cho 3 nhóm để tìm hiểu về tài nguyên và các thiêntai
vùng biển nước ta các em sẽ tham gia một trò chơi “ô chữ bí mật” Dựa vào kiến
thức trong sách giáo khoa và hiểu biết các em hãy tìm ra đáp án của các ô chữ bí mật, sau khi GV đọc câu hỏi nhóm nào có tín hiệu trước thì sẽ được trả lời, nếu trả lời sai nhóm khác có quyền trả lời
+ Bước 2,3: GV lần lượt đưa ra các câu hỏi, đại diện các nhóm trả lời, GV nhận xét
và đưa ra đáp án và hình ảnh minh hoạ cụ thể cho các đáp án
+ Bước 4: GV tổng kết trên máy chiếu cho cả lớp ghi bài.(Phụ lục 4)
HOẠT ĐỘNG 3: LUYỆN TẬP
a) Mục đích: Củng cố lại kiến thức đã học, rèn luyện kĩ năng bài học góp phần
hình thành các kĩ năng mới cho HS
Trang 4033
b) Nội dung: HS quan sát máy chiếu, sử dụng SGK và vận dụng kiến thức đã học
để trả lời câu hỏi
c) Sản phẩm: HS hoàn thành câu hỏi:
Câu 1: Hai bể dầu khí có trữ lượng lớn nhất ở thềm lục địa Biển Đông nước ta là
A Sông Hồng và Trung Bộ B Cửu Long và Sông Hồng
C Nam Côn Sơn và Cửu Long D Nam Côn Sơn và Thổ Chu - Mã Lai Câu 2: Vùng kinh tế nào sau đây của nước ta có duy nhất một tỉnh giáp biển?
A Đông Nam Bộ B Trung du và miền núi Bắc Bộ
C Bắc Trung Bộ D Đồng bằng sông Hồng
Câu 3: Những tỉnh, thành phố nào sau đây của nước ta có 2 huyện đảo?
A Hải Phòng, Khánh Hòa, Kiên Giang B Hải Phòng, Khánh Hòa, Kiên Giang
C Quảng Ninh, Đà Nẵng, Kiên Giang D Quảng Ninh, Hải Phòng, Kiên Giang Câu 4: Biển Đông nằm trong vùng nội chí tuyến nên có đặc tính là
A độ mặn không lớn B có nhiều dòng hải lưu
C nóng ẩm quanh năm D biển tương đối lớn
Câu 5: Biển Đông là vùng biển tương đối kín là nhờ
A nằm giữa hai lục địa A - Âu và Ô - xtrây - li - a
B bao quanh bởi hệ thống đảo và quần đảo
C nằm hoàn toàn trong vùng nội chí tuyến
D trong năm thủy triều biến động theo mùa
Câu 6: Vị trí khép kín của biển Đông đã làm cho
A biển Đông ít bị thiên tai, khí hậu khá ổn định
B nhiệt độ cao và chịu ảnh hưởng của gió mùa
C hải lưu có tính khép kín, chảy theo hướng gió mùa
D trong năm thủy triều biến động theo hai mùa lũ cạn
Câu 7: Phát biểu nào sau đây không đúng khi nói về ngư trường Cà Mau - Kiên
Giang?
A Ở phía Đông Nam đồng bằng sông Cửu Long
B Thuộc vùng đồng bằng Sông Cửu Long
C Có tên gọi khác là ngư trường Vịnh Thái Lan
D Nguồn hải sản phong phú, nhiều loại có giá trị
Câu 8: Vùng có điều kiện thuận lợi nhất để sản xuất muối ở nước ta là