5 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TRƯỜNG PHÁI TRỌNG NÔNG VỀ NGÀNH NÔNG NGHIỆP VÀ CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN VIỆT NAM HIỆN NAY .... Chủ nghĩa trọng nông đã chứng tỏ được s
Trang 1HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
ĐỀ TÀI SỐ 7:
PHÂN TÍCH QUAN ĐIỂM CỦA TRƯỜNG PHÁI TRỌNG NÔNG
VỀ NGÀNH NÔNG NGHIỆP VẬN DỤNG ĐỂ NÊU GIẢI PHÁP CHO QUÁ TRÌNH CNH – HĐH NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN VIỆT NAM
HIỆN NAY
Giảng viên hướng dẫn : TS Nguyễn Thị Giang
Sinh viên thực hiện : Bùi Thị Vân Ánh
Lớp : K23TCH
Mã sinh viên : 23A4010074
Hà nội, ngày 12 tháng 01 năm 2021
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 3
CHƯƠNG 1: QUAN ĐIỂM CỦA TRƯỜNG PHÁI TRỌNG NÔNG VỀ NGÀNH NÔNG NGHIỆP 3
1 Hoàn cảnh lịch sử xuất hiện chủ nghĩa trọng nông (CNTN) 3
2 Những quan điểm, lý luận, học thuyết kinh tế của trường phái chủ nghĩa trọng nông 3
3 Những đại biểu của chủ nghĩa trọng nông 5
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TRƯỜNG PHÁI TRỌNG NÔNG VỀ NGÀNH NÔNG NGHIỆP VÀ CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN VIỆT NAM HIỆN NAY 7
1 Điểm mạnh của trường phái trọng nông về ngành nông nghiệp 7
2 Điểm yếu của trường phái trọng nông về ngành nông nghiệp 7
3 Thực trạng về công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Việt Nam hiện nay 8
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN VIỆT NAM HIỆN NAY 12
1 Giải pháp đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Việt Nam hiện nay 12
2 Liên hệ bản thân 13
KẾT LUẬN 15
TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam nước ta đã trải qua rất nhiều cuộc chiến tranh vô cùng ác liệt
Đồng thời, sau khi cuộc chiến tranh kết thúc nước ta còn rơi vào tình trạng khủng hoảng nặng nề về kinh tế xã hội Nên Đảng ta đã đề ra đường lối công nghiệp hóa và tiến hành công cuộc công nghiệp hóa trong thực tiễn đường lối
đó nhằm đưa đất nước thoát khỏi tình trạng một nước nông nghiệp lạc hậu Học thuyết kinh tế của chủ nghĩa trọng nông là một trong những học thuyết
có vai trò và tầm ảnh hưởng lớn đến lịch sử phát triển của nhân loại Chủ nghĩa trọng nông đã chứng tỏ được sự trưởng thành của các quan điểm kinh tế của trường phái trọng nông, phản ánh một cuộc cách mạng trong sự phát triển kinh tế
Những giá trị kinh tế của trường phái trọng nông lại có những ý nghĩa tích cực trong việc vận dụng xây dựng các những chính sách, nguyên lý phát triển đất nước Đặc biệt là đối với vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn trong thời kì CNH - HĐH đất nước Với những ý nghĩa đó, em đã quyết định chọn
đề tài “ Phân tích quan điểm của trường phái trọng nông về ngành nông nghiệp Vận dụng để giải pháp cho quá trình CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn Việt Nam hiện nay”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Giúp cho người đọc biết và hiểu rõ về quan điểm của trường phái trọng nông và thực trạng trường phái trọng nông về ngành nông nghiệp và CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn Việt Nam hiện nay Từ đó đưa ra các giải pháp
và liên hệ thực tiễn về CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn Việt Nam hiện nay
Trang 43 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng những phương pháp luận, thống nhất logic và lịch sử, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa và hệ thống hóa
4 Cấu trúc tiểu luận
Đề tài của em gồm 3 chương:
Chương 1: Quan điểm của trường phái trọng nông về ngành nông nghiệp Chương 2: Thực trạng trường phái trọng nông về ngành nông nghiệp và công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Việt Nam hiện nay
Chương 3: Giải pháp đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Việt Nam hiện nay
Trang 5NỘI DUNG CHƯƠNG 1 QUAN ĐIỂM CỦA TRƯỜNG PHÁI TRỌNG NÔNG VỀ NGÀNH
NÔNG NGHIỆP
1 Hoàn cảnh lịch sử xuất hiện chủ nghĩa trọng nông (CNTN)
CNTN xuất hiện trong thời kỳ quá độ từ chế độ phong kiến sang chế độ tư
bản chủ nghĩa, nhưng ở giai đoạn phát triển kinh tế trưởng thành hơn Vào giữa thế kỷ XVIII, ở Tây Âu đã phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa và
ở nước Anh cuộc cách mạng công nghiệp đã bắt đầu
CNTN đã khái quát hoá những tiến bộ mới nhất trong nền kinh tế của thế
kỷ XVIII, xuất hiện trong cuộc đấu tranh chống CNTT Vào nửa thế kỷ XVIII, nước Pháp đã tiến rất nhanh đến cuộc cách mạng chống lại chế độ phong kiến Việc phê phán CNTT lại gắn chặt với phê phán chế độ phong kiến nên dẫn đến việc tìm kiếm những nguồn gốc của củ cải quốc dân trong nông nghiệp
Nếu ở Anh, các cuộc đấu tranh chống CNTT, tư tưởng kinh tế đặt tất cả niềm tin, hy vọng của mình vào công nghiệp - công trường thủ công, thì ở Pháp nền công nghiệp đã bị chính sách trọng thương của Kolbert làm mất uy tín Do đó đã tạo điều kiện cho tư tưởng trọng nông xuất hiện
Những người theo CNTN cho rằng, xã hội loài người phát triển theo những quy luật tự nhiên Theo họ, nông nghiệp là nguồn gốc duy nhất của của cải Vì vậy, có thể coi nội dung giai cấp của chủ nghĩa trọng nông là giải phóng kinh tế nông dân thoát khỏi phong kiến để phát triển nông nghiệp theo chủ nghĩa tư bản
2 Những quan điểm, lý luận, học thuyết kinh tế của trường phái chủ nghĩa trọng nông
Trang 62.1 Phái trọng nông phê phán gay gắt CNTT
Chủ nghĩa trọng nông đứng trên lập trường duy vật để giải thích các hiện tượng kinh tế, họ chỉ ra hai quy luật đó là quy luật vật lý tác động trong tự nhiên quy luật luân lý tác động trong xã hội và và khẳng định những quy luật
đó là khách quan Họ đã tiến xa hơn chủ nghĩa trọng thương, bởi chủ nghĩa trọng thương không công nhận có quy luật xã hội và cũng tiến xa hơn W.Petty
vì tuy W.Petty thừa nhận có quy luật song chưa chỉ ra được quy luật
Phái trọng nông đã chuyển đối tượng nghiên cứ từ lưu thông sang sản xuất Đó là những bước tiến quan trọng về phương pháp luận so với trọng thương Phái trọng nông đã thấy được mối quan hệ giữa sản xuất và lưu thông, cho rằng sản xuất quyết định lưu thông và họ cho rằng của cải quốc dân là những vật hữu dụng, trước hết là những sản phẩm nông nghiệp, đưa ra quan điểm trao đổi ngang giá, không bên nào được lợi bằng biện pháp phát triển sản xuất nông nghiệp
2.2 Cương lĩnh chính sách kinh tế của CNTN
Cương lĩnh chính sách kinh tế của trọng nông đòi hỏi tổ chức sản xuất tư bản chủ nghĩa phải có ngành kinh tế chủ yếu để làm chỗ dựa cho chế độ phong kiến Đó là ngành nông nghiệp Họ tìm khả năng thỏa hiệp giữa chế độ phong kiến với chủ nghĩa tư bản K Marx nhận xét rằng cương lĩnh đó "về thực chất đã tuyên bố chế độ sản xuất tư bản chủ nghĩa trên những đống tro tàn của chế độ phong kiến", do đó mà "chế độ phong kiến lại có được cái tính chất tư bản, còn xã hội tư bản mang cái vỏ bề ngoài phong kiến"
2.3 Học thuyết về trật tự tự nhiên
Cơ sở lý luận chủ yếu của những người trọng nông chủ nghĩa là học thuyết về trật tự tự nhiên Họ dùng học thuyết đó để đi đến những kết luận kinh tế Sản xuất nông nghiệp là lĩnh vực được hưởng sự trợ giúp của tự nhiên, có sự sắp xếp hết sức hoàn hảo nên con người cần phải tôn trọng Con
Trang 7người ( nhà nước) không nên can thiệp vào hoạt động kinh tế nói chung và sản xuất nông nghiệp nói riêng Do đó cần tôn trọng sự tự do của nông dân trong sản xuất nông nghiệp
Nội dung cơ bản của học thuyết về luật tự nhiên của Quesnay là: thừa nhận vai trò tự do con người, coi đó là luật tự nhiên của con người, không thể thiếu được Chống lại chế độ phong kiến và xem nó là một chế độ không bình thường dựa trên sự dốt nát và là một sai lầm của lịch sử Chủ trương có sự tự
do cạnh tranh giữa những người sản xuất Đưa ra khẩu hiệu “tự do buôn bán,
tự do hoạt động” Thừa nhận quyền bất khả xâm phạm đối với chế độ sở hữu
2.4 Học thuyết về “sản phẩm thuần túy”
Học thuyết kinh tế này được coi là trọng tâm của trường phái trọng nông Những người trọng nông cho rằng nông nghiệp chính là sản phẩm thuần túy Nông nghiệp là ngành kinh tế sản xuất duy nhất và có sự tăng thêm về chất để tạo ra sản phẩm thuần túy mới Sản phẩm thuần túy là sản phẩm do đất đai mang lại, sau khi đã trừ chi phí cần thiết khác để tiến hành sản xuất
Trường phái trọng nông đưa ra quan niệm lao động sản xuất và lao động không sinh lời: Lao động sản xuất là lao động tạo ra sản phẩm thuần tuý, lao động không sinh lời là lao động không tạo ra sản phẩm thuần tuý Từ đó họ cho rằng, chỉ có lao động nông nghiệp mới là lao động sản xuất, còn lao động công nghiệp không phải là lao động sản xuất
Từ lý luận trên, trường phái trọng nông đề nghị phải tập trung nguồn lực cho phát triển nông nghiệp, Nhà nước phải khuyến khích những người giàu có dồn vốn về nông thôn, của cải về nông thôn càng nhiều, quốc gia càng giàu
có
3 Những đại biểu của chủ nghĩa trọng nông
* Francois Quesnay (1694-1774)
Trang 8Ông là người sáng lập ra trường phái trọng nông ở Pháp, con của một chủ ruộng nhỏ K.Marx gọi Quesnay là cha đẻ của chính trị kinh tế học, vì ông có vai trò đặt biệt trong việc phát triển khoa học kinh tế Quesnay có hai công lao lớn:
Công lao thứ nhất là đã đặt ra một cách khoa học vấn đề sản phẩm thuần túy nhưng chưa giải quyết triệt để được vấn đề này Ông chủ trương phát triển nông nghiệp theo tư bản chủ nghĩa Theo ông, chỉ có nền kinh tế như thế mới đảm bảo hao phí lao động ít nhất
Công lao thứ hai của Quesnay là ông đã phân tích một cách khoa học việc tái sản xuất “biểu kinh tế” Ông còn có hạn chế là chưa thấy được cơ sở tái sản xuất mở rộng trong nông nghiệp, thậm chí tái sản xuất giản đơn trong công nghiệp
* Anne Robert Jaucques Turgot (1727 - 1881)
Ông là một nhà tư tưởng lỗi lạc và nhà hoạt động chính trị lớn của Pháp Ông đã nêu ra được nhiều điều mới mẻ hơn so với những người trước,
là người đầu tiên đưa ra khái niệm tư bản Turgot đã phát triển quan niệm đặc trưng của phái trọng nông về cơ cấu giai cấp xã hội Ông đã thấy được một giai cấp tư sản riêng biệt trong công nghiệp và nông nghiệp Tuy nhiên, ông cũng đã mắc một sai lầm nghiêm trọng, ông đưa ra kết luận sai về “quy luật màu mỡ của đất đai ngày càng giảm”
Trang 9CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TRƯỜNG PHÁI TRỌNG NÔNG VỀ NGÀNH NÔNG NGHIỆP VÀ CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN VIỆT NAM HIỆN NAY
1 Điểm mạnh của trường phái trọng nông về ngành nông nghiệp
Chủ nghĩa trọng nông không chỉ nghiên cứu quá trình sản xuất với tư cách là quá trình sản xuất cá thể đơn lẻ Họ còn biết nghiên cứu quá trình tái sản xuất của toàn xã hội - đây là một nội dung rất quan trọng của kinh tế chính trị Theo C.Mác “công lao quan trọng nhất của trường phái trọng nông
là ở chỗ họ đã phân tích tư bản trong giới hạn tầm mắt tư sản Lần đầu tiên một bức tranh hệ thống và mô hình nền kinh tế lúc bấy giờ được sử dụng, là
cơ sở của kế hoạch tái sản xuất xã hội của chủ nghĩa Mác sau này
Họ đã nêu ra nhiều vấn đề mà ngày nay vẫn bàn đến: như tôn trọng vai trò tự do của con người, bảo vệ lợi ích của người sản xuất, thúc đẩy cạnh tranh tự do và thương mại tự do đặc biệt là sản xuất nông nghiệp
2 Điểm yếu của trường phái trọng nông về ngành nông nghiệp
Các nhà kinh tế trọng nông khi bày tỏ quan điểm và tư duy chỉ nhấn mạnh đến sản xuất và phủ nhận quá trình lưu thông Họ chưa xây dựng được khái niệm và phạm trù khoa học làm cơ sở cho việc nghiên cứu, nhiều cơ sở
lý thuyết còn rất đơn giản
Hạn chế chính của trường phái này là cho rằng chỉ có nông nghiệp là lĩnh vực sản xuất, dẫn đến kết luận sai lầm rằng giá trị thặng dư là sản phẩm của tự nhiên, không phải sản phẩm do con người tạo ra Có những lý do lịch
sử và xã hội cho sai sót này, dẫn đến sai sót trong phân tích lý luận kinh tế
Trang 103 Thực trạng về công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Việt Nam hiện nay
3.1 Một số thành tựu về công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Việt Nam hiện nay
Nước ta là một quốc gia đang phát triển và nông nghiệp vẫn là một ngành giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế Giai đoạn 2008 - 2017, tốc độ tăng trưởng GDP toàn ngành nông nghiệp Việt Nam đạt bình quân 2,66%/năm, năm 2018 đạt 3,76%, đặc biệt năm 2021 trong bối cảnh đại dịch COVID - 19 diễn ra phức tạp có nhiều khó khăn, nông nghiệp Việt Nam vẫn duy trì đà tăng trưởng 2,85%
3.1.1 Về khoa học công nghệ
Cơ cấu công nghệ trong ngành nông nghiệp đã có nhiều thay đổi theo hướng tiếp cận công nghệ tiên tiến, hiện đại hơn với sự dịch chuyển mạnh từ các ngành thủy sản, nông sản… Thủy sản từng bước được nâng cao theo hướng công nghệ sinh học, sử dụng giống mới, phương thức canh tác tiên bộ
để nâng cao năng suất chất lượng thủy sản, nông sản Chương trình giống vật nuôi, giống cây trồng bước đầu đã đạt được những kết quả quan trọng vào việc nâng cao năng suất chất lượng thủy sản, nông sản Ðến nay, có hơn 90% diện tích lúa, 60% diện tích mía, 100% diện tích điều trồng mới được sử dụng giống mới Công nghệ sử dụng mô hom được đưa nhanh vào sản xuất giống cây rừng, nên năng suất chất lượng rừng được cải thiện Nhiều khâu trong sản xuất nông nghiệp được cơ giới hóa như: tưới nước, tuốt lúa, xay xát đạt hơn 80%, vận chuyển làm đất đạt hơn 60% Những thành tựu này đã thúc đẩy kim ngạch xuất khẩu nông sản Việt Nam tăng trưởng nhanh như năm
2019, tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản ước đạt 41,3 tỷ đô la
Mỹ, thặng dư thương mại toàn ngành ước đạt 10,4 tỷ đô la Mỹ “Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao đến năm 2020” tiếp tục khẳng định
Trang 11quan điểm nhất quán của Đảng và đất nước về phát triển nông nghiệp công nghệ cao
3.1.2 Về kinh tế
Cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn đã có bước chuyển dịch tích cực theo hướng đẩy mạnh sản xuất các loại nông sản hàng hóa có nhu cầu thị trường, thích ứng với biến đổi khí hậu và có giá trị kinh tế cao Từng chuyên ngành, lĩnh vực, sản phẩm có lợi thế và thị trường thuận lợi đã tăng nhanh về diện tích, năng suất, sản lượng, chất lượng và tỉ trọng đóng góp cho tăng trưởng Vì vậy, mặc dù diện tích gieo trồng lúa trên cả nước năm 2018 giảm 134,8 nghìn ha, nhưng năng suất tăng cao (bình quân cả nước 58,1 tạ/ha, tăng 2,6 tạ/ha), năm 2018, sản lượng lúa đạt 43,98 triệu tấn, tăng 1,24 triệu tấn so với năm 2017; năm 2019 đạt 43,45 triệu tấn, tăng 12,2%; sản lượng rau các loại tăng 80,5%, trái cây tăng 50% Hiện năng suất lúa của Việt Nam cao nhất Đông Nam Á, đạt 5,6 tấn/ha, gần gấp đôi so với Thái Lan và 1,5 lần so với Ấn Độ; trở thành quốc gia có chỉ số bền vững an ninh lương thực cao hơn phần lớn các quốc gia đang phát triển ở châu Á
Chăn nuôi phát triển với tốc độ khá cao, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng về trứng, thịt trong nước đang tăng nhanh Giá trị chăn nuôi tăng bình quân 10%/năm Tổng đàn lợn nái đã hồi phục về xấp xỉ 3 triệu con, tổng đàn lợn cả nước đạt trên 26 triệu con, bằng 85% tổng đầu lợn so với lức trước khi xảy ra dịch tả lợn Châu Phi Với chăn nuôi gia cầm, năm 2020 tiếp tục tăng trưởng trên 10%, tổng đàn gia cầm cả nước lần đầu tiên đạt 500 triệu con
Nông thôn có bước phát triển khá nhanh, cơ sở hạ tầng tiếp tục được đầu
tư, đời sống nhân dân được cải thiện, xóa đói, giảm nghèo đạt thành tựu nổi bật, giáo dục, y tế, văn hóa có chuyển biến tích cực Nhiều công trình thủy lợi
đã hoàn thành và đưa vào sử dụng, góp phần chuyển dịch cơ cấu sản xuất, thâm canh, tăng năng suất cây trồng đã bảo đảm tưới cho 90% diện tích lúa,