HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ Học phần: Lịch sử các học thuyết kinh tế ĐỀ TÀI: Quan điểm của trường phái tiểu tư sản về sản xuất nhỏ.. Vì vậy, việc tìm hiểu và làm rõ quan
Trang 1HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Học phần: Lịch sử các học thuyết kinh tế
ĐỀ TÀI: Quan điểm của trường phái tiểu tư sản về sản xuất nhỏ Liên hệ thực tiễn để làm rõ vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ đối với nền kinh tế nước ta hiện
nay
Giảng viên hướng dẫn : Nguyễn Thị Giang
Sinh viên thực hiện : Trần Quang Anh
Lớp : K23QTDNA
Mã sinh viên : 23A4030036
Hà nội, ngày 1 tháng 1 năm 2021
Trang 2MỤC LỤC
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 2
I Sự ra đời và đặc điểm của học thuyết kinh tế chính trị tiểu tư sản 3
1 Đặc điểm phương pháp luận của Sismondi 4
1 Đặc điểm phương pháp luận của Proudhon 7
IV Vai trò của các DNVVN đối với nền kinh tế nước ta hiện nay 10
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CNTB: chủ nghĩa tư bản
TBCN: tư bản chủ nghĩa
DNVVH: doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế thế giới hiện nay, những DNVVN có vị trí và vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế mỗi nước, kể cả các nước đang phát triển hay các nước phát triển Và đối với Việt Nam, vị trí và vai trò của các DNVVN lại càng quan trọng Vì vậy, việc tìm hiểu và làm rõ quan điểm của trường phái tiểu tư sản về sản xuất nhỏ và từ đó liên hệ thực tiễn để làm rõ vai trò của các DNVVN đối với nền kinh tế nước ta hiện nay là một vấn đề cấp thiết
2 Mục đích và nhiệm vụ nhiên cứu
a Mục đích:
Mục đính chính của đề tài là tìm hiểu những quan điểm của trường phái tiểu tư sản về sản xuất nhỏ, từ đó liên hệ để làm rõ vai trò của các DNVVNđối với nền kinh tế nước ta hiện nay
b Nhiệm vụ
Thứ nhất, làm rõ các quan điểm của các đại biểu của trường phái tiểu tư sản về sản xuất nhỏ
Thứ hai, liên hệ thực tế để làm rõ vai trò của các DNVVN ở các nước đang phát triển
Thứ ba, làm rõ vai trò của các DNVVN ở Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu:
Quan điểm của trường phái tiểu tư sản về sản xuất nhỏ
b Phạm vi nghiên cứu
Không gian: Các nước đang phát triển
Thời gian: Đầu thế kỷ 21 đến nay
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
a Cơ sở lý luận:
Dựa trên lịch sử các học thuyết kinh tế
b Phương pháp nghiên cứu
Áp dụng những cơ sở lý luận, thực tiễn để phân tích, suy luận, chưng minh, khái quát và hệ thống các kiến thức
Trang 4
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT LÝ LUẬN
I Sự ra đời và đặc điểm của học thuyết kinh tế chính trị tiểu tư sản
1 Tiền đề kinh tế, xã hội
Vào đầu thế kỷ XIX, các nước Tây Âu đã có những biến đổi lớn về kinh tế-xã hội do hậu quả của cuộc cách mạng công nghiệp Điều này đã dẫn đến sự thay thế lao động thủ công bằng lao động cơ giới, tạo ra bước chuyển từ giai đoạn công trường thủ công sang giai đoạn công nghiệp, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển mạnh, năng suất lao động tăng cao Và đây là giai đoạn mà CNTB đã khẳng định sự chiến thắng với chế độ phong kiến Nhưng do năng suất lao động tăng cao, số lượng hàng hoá sản xuất ra lớn nên việc tiêu thụ trở nên khó khăn và cạnh tranh tự do càng trở nên quyết liệt Cơ chế cạnh tranh tự do đã làm cho CNTB bộc lộ những mâu thuẫn trong quá trình phát triển như khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp, phá sản hàng loạt những người sản xuất nhỏ Phân hoá giai cấp trong xã hội ngày càng sâu sắc Từ đó xuất hiện sự phê phán CNTB theo quan điểm tiểu tư sản Và từ đó, kinh tế chính trị tiểu tư sản xuất hiện
Các đại biểu của trường phái này là: Simonde de Sismondi, Jean Joseph Proudhon
2 Đặc điểm
Kinh tế chính trị tiểu tư sản đã đứng trên lập trường của giai cấp tiểu tư sản để phê phán CNTB và phát triển tư tưởng kinh tế theo hướng vô chính phủ
Kinh tế chính trị tiểu tư sản cũng có tính hợp lý nhưng cũng có những hạn chế
do lập trường của giai cấp họ Tính hợp lý của kinh tế chính trị tiểu tư sản thể hiện ở chỗ họ đã phê phán trật tự kinh tế của xã hội tư bản, vạch ra các mâu thuẫn của CNTB như bần cùng, thất nghiệp, phá sản , mâu thuẫn về lợi ích kinh tế giữa giai cấp tiểu tư sản và giai cấp tư sản
Trang 5Tuy nhiên kinh tế chính trị tiểu tư sản vẫn còn nhiều hạn chế: chưa hiểu được bản chất của mâu thuẫn CNTB, chưa tìm ra được giải pháp tích cực để giải quyết những mâu thuẫn đó Để khắc phục những mâu thuẫn này, họ đã đưa ra những kiến nghị phi lý như hạn chế tự do cạnh tranh, hạn chế sử dụng những tiến bộ kĩ thuật trong vào sản xuất, chia nhỏ sản xuất tư bản và biến công nhân thành người sở hữu nhỏ Họ phê phán CNTB, muốn thay chế độ tư bản bằng một xã hội dựa trên nguyên tắc bình đẳng nhưng lại bảo vệ chế độ tư hữu và tự
do cạnh tranh
Xét về mặt phương pháp luận, kinh tế chính trị tiểu tư sản cũng mang tính chất hai mặt Họ coi sự phát triển lịch sử phụ thuộc vào sự công bằng Họ nhấn mạnh vai trò đạo đức đối với tiến bộ của lịch sử, do đó thường đánh giá lịch sử bằng các đạo đức, cũng chính vì thế mà kinh tế chính trị tiểu tư sản đã sản sinh
ra chủ nghĩa lãng mạn kinh tế
Mặt khác kinh tế chính trị tiểu tư sản đã giải thích các hiện tượng kinh tế-xã hội có tính chất duy vật, tuy nhiên cũng mới là duy vật siêu hình Họ đã giải thích bóc lột là sự trao đổi không ngang giá, là do lưu thông Vì vậy để xoá bỏ bóc lột, cần phải cải cách lưu thông Họ coi nền sản xuất nhỏ là vĩnh cửu, không có mâu thuẫn, khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp
II Các quan điểm kinh tế của Sismondi
1 Đặc điểm phương pháp luận của Sismondi
Sismondi là nhà phê bình tiểu tư sản đối với TBCN Ông đối lập TBCN với chế độ gia trưởng Ông lý tưởng hoá chế độ gia trưởng (sản xuất nhỏ), mô tả nó đẹp như một đoá hoa hồng Sismondi đã thể hiện sự phản ứng tiểu tư sản đối với sự kiện con người công nghiệp ở Anh và Pháp
Một trong những công lao quan trọng nhất của Sismondi là ông đã tổng kết cuộc cách mạng công nghiệp và phê phán gay gắt CNTB Ông đã chứng minh rằng CNTB là cạnh tranh không hạn chế và bóc lột quần chúng, là khủng hoảng, phá sản và thất nghiệp Ông đã lên án việc bóc lột trẻ em và nêu lên tác hại của sự phân công lao động đối với thể chất và tinh thần của công nhân
Trang 6Lê-nin đã nhận xét rằng, công lao của Sismondi là ở chỗ, ông là một trong những người đầu tiên chỉ ra những mâu thuẫn của CNTB
Do kết quả của việc nghiên cứu chế độ nô lệ làm thuê, Sismondi đã vạch trần chế đọ này và đấu tranh bảo vệ lợi ích của quần chúng, của công nhân trước sức mạnh của đồ vật Nhân danh quần chúng ông đòi phải thanh toán chế độ
đó, làm lung lay luận điểm về tính chất vĩnh cửu của CNTB
2 Các lý thuyết kinh tế của Sismondi
Lý thuyết giá trị-lao động: Sismondi đứng trên lập trường về giá trị lao động của kinh tế chính trị tư sản cổ điển và góp phần vào việc phát triển lý luận đó Chính vì vậy, K.Marx đã coi ông là người kết thúc các quan điểm kinh tế chính trị tư sản cổ điển Pháp Ông đã thấy được tính chất xã hội đặc thù của lao động tạo ra giá trị của hàng hoá Khi xác định giá trị của hàng hoá, Sismondi không dựa vào hao phí lao động cá biệt mà dựa vào hao phí lao động xã hội cần thiết khi xác định giá trị của hàng hoá Ông thấy được mâu thuẫn giữa giá trị và giá trị sử dụng Kế tục quan điểm của A.Smith, ông cho rằng sản phẩm xã hội gồm: Một là phần của công nhân hay là tiền lương, phần khác là lợi nhuận của nhà tư bản và đại tô của đại chủ, gọi là siêu giá trị Theo ông tiền tệ cũng như hàng hoá khác là sản phẩm của lao động Tiền là thước đo chung của giá trị Ông phân biệt được tiền giấy và tiền tín dụng, ông thấy được việc mất giá trị của tiền giấy là xem lạm phát là kết quả việc thừa tiền trong lưu thông
Lý thuyết về tiền lương, lợi nhuận và địa tô: Theo ông người công nhân là người tạo ra của cải vật chất, sản phẩm lao động của họ được chia làm hai bộ phận: tiền lương là thu nhập lao động của công nhân; lợi nhuận của tư bản và địa tô là thu nhập không lao động, là sự bóc lột đối với giai cấp công nhân, là tai hoạ đối với giai cấp vô sản Sismondi phát triển thêm lý luận về sự bóc lột của A.Smith, ông nói tiền lời của doanh nhân là sự bóc lột thợ thuyền không hơn không kém, cơ giới đã làm cho năng suất lao động tăng lên rất nhiều và phần thặng dư đặc biệt này bị nhà tư bản chiếm mất Sismondi cho rằng tiền lương của người công nhân thấp là đặc trưng của CNTB Đó là kết quả của
Trang 7việc tích tụ tập trung của cải vào tay người giàu có và sự bần cùng của tầng lớp lao động Theo ông tiền lương phải bằng toàn bộ giá trị sản phẩm lao động của người công nhân
Mặc dù Sismondi coi địa tô là quà tặng của tự nhiên nhưng ông chỉ ra rằng: Ruộng đất xấu cũng phải nộp tô Đây là mầm mống tư tưởng địa tô tuyệt đối
Lý thuyết về nhân khẩu: Sismondi công khai phê phán lý luận "bồi thường" của J.B.Say và kết luận CNTB càng phát triển thì tình cảnh của giai cấp công nhân càng điêu đứng, tiền lương càng sụt giảm, thất nghiệp càng tăng lên và tiêu dùng của họ ngày càng giảm di Ông thừa nhận việc áp dụng máy móc vào sản xuất sẽ dẫn đến thất nghiệp Song ông lại không coi nhân khẩu thừa là một
bộ phận cấu thành cần thiết của cơ chế kinh tế TBCN Sismondi ủng hộ quan điểm về mối liên hệ giữa tăng của cải và tăng dân số của Malthus và cho rằng nhà thờ sẽ phán xử tội lỗi của những người lao động, nếu sự sinh đẻ không phù hợp với việc tăng của cải của các bậc cha mẹ Vì vậy Lênin nói: "Sismondi
là Malthus còn hơn cả Malthus"
Lý luận về khủng hoảng kinh tế: Sismondi là người đầu tiên phân tích về tính tất yếu của khủng hoảng kinh tế trong xã hội tư bản Ông cho rằng nguyên nhân của khủng hoảng kinh tế là do tiêu dùng không đủ Ông quy tất cả các mâu thuẫn của CNTB thành một mâu thuẫn, đó là mâu thuẫn của sản xuất tăng lên và tiêu dùng lạc hậu, không theo kịp sản xuất Khuyết điểm của CNTB là sản xuất tách khỏi nhu cầu và chỉ nhằm mục đích thu lợi nhuận tối đa Khi nói
về nguyên nhân của tiêu dùng lạc hậu so với sản xuất, Sismondi cho rằng là vì chế độ phân phối không cân bằng Sự lạc hậu của tiêu dùng là do sự phá sản của người sản xuất nhỏ, công nhân thất nghiệp ngày càng tăng cho nên thu nhập của họ giảm sút và nhà tư bản thì tiết dục để tích luỹ Trên thực tế thì khủng hoảng kinh tế không thường xuyên, mà có tính chu kỳ Sismondi cho rằng đó là nhờ có ngoại thương Ông coi ngoại thương như "Lỗ thông hơi" của CNTB Nhưng chính Sismondi cũng thấy hạn chế của cái "Lỗ thông hơi" và đi đến kết luận: Tiền đồ của nền sản xuất TBCN không được vững vàng Ông đi
Trang 8tìm lối thoát cho khủng hoảng kinh tế của CNTB Đó là quy về với nền sản xuất nhỏ và phải có giải pháp tăng sức mua của "người thứ ba" "Người thứ ba" này không phải là nhà tư bản, không phải là giai cấp công nhân mà là giai cấp tiểu tư sản, những người thợ thủ công, nông dân cá thể, tiểu thương Như vậy
là Sismondi đã coi nguyên nhân của khủng hoảng kinh tế là sự phá sản của những người sản xuất nhỏ Con đường giải quyết khủng hoảng là củng
cố và phát triển sản xuất nhỏ Sismondi thể hiện rõ là người đại biểu cho giai cấp tiểu tư sản
Lý thuyết về vai trò kinh tế của nhà nước: Trước hậu quả của cuộc cách mạng công nghiệp, các tệ nạn của CNTB như khủng hoảng, thất nghiệp, nạn đói v.v Sismondi yêu cầu nhà nước phải can thiệp vào kinh tế nhằm bảo vệ trật tự
xã hội, bảo vệ sản xuất nhỏ, không cho phép tập trung sản xuất, tập trung sự giàu có duy trì các công trường thủ công, chế độ tư hữu ruộng đất nhỏ Ông nói: "Tôi coi chính phủ là người bảo vệ kẻ yếu" Chỉ có chính phủ mới vượt lên trên sự tính toán vật chất về sự làm giàu mà các cá nhân thường làm Sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế phải trở thành mục đích chung của các dân tộc" Tuy nhiên, Sismondi đã đặt nền móng ban đầu cho các học thuyết sau này như thuyết "Người bảo hộ thuyết Keynes" Tuy nhiên, Sismondi coi nhà nước
tư bản biểu hiện lợi ích của tất cả các giai cấp, ông phủ nhận tính giai cấp của nhà nước Theo ông nhà nước tư sản đối lập với sản xuất lớn Nó có thể đạt được lợi ích chung, sự hài hoà xã hội và phúc lợi chung
III Các quan điểm kinh tế của Proudhon
1 Đặc điểm phương pháp luận của Proudhon
Trong tác phẩm “Sở hữu là gì”, Proudon chỉ nhận xét bề ngoài, ông nhận thấy thế yếu của người sản xuất nhỏ trong cạnh tranh, đứng lên phê phán CNTB, lấy việc cải tạo lưu thông làm điểm xuất phát
Tác phẩm "Triết học của sự khốn cùng" thể hiện rõ sai lầm của Proudon về phương pháp luận-phương pháp siêu hình duy tâm Ông không thấy tính chất khách quan và lịch sử của các phạm trù kinh tế Ông coi các phạm trù kinh tế là
Trang 9các tư tưởng phát sinh không có mối liên hệ gì với sản xuất, bỏ qua nội dung khách quan của các phạm trù kinh tế
Phép biện chứng, theo ông hiểu chỉ là sự phân biệt kinh nghiệm giữa mặt tốt và mặt xấu, còn các phạm trù kinh tế chỉ là sự kết hợp giữa các đặc tính tốt và xấu Nhiệm vụ quan trọng là phải bảo vệ mặt tốt, xoá bỏ mặt xấu
2 Các lý thuyết kinh tế của Proudon
Quan điểm về sở hữu: Proudon muốn bảo tồn tiểu tư sản hàng hoá, mà cơ sở của nó là quyền tư hữu về tư liệu sản xuất, về thực chất, ông không chống lại chế độ tư hữu, ông chủ trương duy trì chế độ tư hữu nhỏ mà chống lại sự lạm dụng chế độ tư hữu Ông phê phán mưu toan biện hộ cho chế độ tư hữu và đi đến kết luận: “sở hữu là ăn cắp” Ông đã giải thích khái niệm sở hũu một cách khoa học: sở hữu có hai mặt: mặt tiêu cực, phá hoại sự bình đẳng, còn mặt tích cực, bảo đảm cho người ta khỏi sự phụ thuộc, được độc lập, tự do
Ông đề nghị xoá bỏ sở hữu và giữ lại tài sản cá nhân, về thực chất là xoá bỏ sở hữu TBCN, giữ lại sở hữu nhỏ, dưới danh từ tài sản Như vậy, ông không hiểu mối quan hệ giữa sản xuất hàng hoá giản đơn và sản xuất hàng hoá TBCN, cũng như không hiểu tác dụng phân hoá của quy luật giá trị Ông nhận thấy thế yếu của những người sản xuất nhỏ trong cạnh tranh và có ý định cải tạo lưu thông (sự trao đổi hàng hoá và tín dụng) để có lợi nhuận cho người tiểu sản xuất, tạo ra sự bình đẳng giữa mọi người và thủ tiêu bóc lột Vậy là ông không hiểu lưu thông hàng hoá và sai lầm là khi cho rằng cải tạo lưu thông sẽ cải tạo được CNTB
Lý luận giá trị: Trung tâm lý luận giá trị của Proudon là: “Giá trị cấu thành” hay "giá trị xác lập" Theo Proudon, khi trao đổi trên thị trường người ta có sự lựa chọn đặc biệt về sản phẩm Một loại hàng hoá nào đó đi vào lĩnh vực tiêu dùng, đã qua thị trường, được thị trường thử thách và xã hội thừa nhận-trở thành giá trị, là giá trị cấu thành Ngược lại, những hàng hoá bị đẩy ra, không được thị trường và xã hội chấp nhận, ông cho rằng cần phải cấu thành hay xác lập trước giá trị, làm thế nào cho hàng hoá chắc chắn được thực hiện, đi vào
Trang 10lĩnh vực tiêu dùng Ông lấy dẫn chứng: vàng và bạc là những hàng hoá đắt tiền,
mà giá trị đã được xác lập
Như vậy, trong lý luận “giá trị cấu thành”, thực chất Proudon muốn xoá bỏ những mâu thuẫn của nền kinh tế TBCN Quan điểm của ông thể hiện rõ những sai lầm về phương pháp luận: bảo vệ sản xuất hàng hoá (mặt tốt), xoá bỏ mâu thuẫn giữa giá trị sử dụng và giá trị (mặt xấu) Về cơ bản, ông muốn kết hợp quan điểm giá trị-lao động, từ đó coi cả lao động và trao đổi đều là nguồn gốc của giá trị
Lý luận về lợi nhuận, lợi tức: Proudon không hiểu được bản chất của lợi nhuận công nghiệp, coi nó là hình thái đặc biệt của tiền công
Proudon coi sự tồn tại của lợi tức là cơ sở của sựbóc lột Theo ông, các nhà tư bản đem lợi tức cộng thêm vào chi phí, điều đó làm cho công nhân không thể mua hết sản phẩm Do đó, nếu gạt bỏ được lợi tức thì sẽ xoá bỏ được nạn bóc lột Muốn xoá bỏ được lợi tức thì cần phải cho vay không lấy lãi
Proudon đề ra việc thành lập ngân hàng quốc gia Pháp cho công nhân và người sản xuất nhỏ vay và coi đó là biện pháp lớn nhất Đó là thực chất cuộc cải cách của ông Với việc xoá bỏ tiền tệ và lợi tức sẽ xoá bỏ được bóc lột, đảm bảo sự bình đẳng Với quan điểm như vậy, Proudon được coi là đại biểu cho chủ nghĩa
xã hội tiểu tư sản Proudon là người tán thành đóng khung vai trò của phụ nữ trong chức năng nội trợ gia đình Ông lên án việc thu hút rộng rãi phụ nữ vào đời sống xã hội Proudon thể hiện lập trường phản động đối với phong trào công nhân và công đoàn
Các đại biểu kinh tế chính trị tiểu tư sản phê phán sản xuất lớn TBCN, đã chèn
ép, làm phá sản sản xuất nhỏ, phê phán các tệ nạn của CNTB như bần cùng, thất nghiệp, coi đó là sai lầm của chính phủ và những người lãnh đạo nhà nước gây ra Họ đứng trên quan điểm của phẩm hạnh và đạo đức đểphê phánnền sản xuất lớn TBCN, nhung không phê phán sở hữu tư nhân, chủ trương đưa xã hội quay trở về với sản xuất nhỏ