Slide 1 Mục tiêu Trình bày được bản chất giấc ngủ, hiện tượng mộng, thôi miên Phân loại được ức chế, ý nghĩa từng loại Trình bày được 2 hệ thống tín hiệu 1 Ngủ, mộng, hiện tượng thôi miên 1 1 Bản chất sinh lý giấc ngủ Pavlov xác định bản chất giấc ngủ là một quá trình ức chế lan khắp vỏ não và lan xuống cấu trúc dưới vỏ 1 2 Yếu tố gây ngủ Tất cả những yếu tố nào gây ức chế đều gây ngủ Một tiếng động đều đều Hạn chế các xung động kích thích đi lên vỏ não Tạo nên phản xạ có điều kiện với các kích.
Trang 1Mục tiêu
- Trình bày được bản chất giấc ngủ, hiện tượng mộng, thôi miên
- Phân loại được ức chế, ý nghĩa từng loại
- Trình bày được 2 hệ thống tín hiệu
Trang 21 Ngủ, mộng, hiện tượng thôi miên: 1.1 Bản chất sinh lý giấc ngủ:
Pavlov xác định bản
chất giấc ngủ là một
quá trình ức chế lan
khắp vỏ não và lan
xuống cấu trúc dưới
vỏ
Trang 31.2 Yếu tố gây ngủ: Tất cả những yếu tố nào
gây ức chế đều gây ngủ
- Một tiếng động đều đều
- Hạn chế các xung động kích
thích đi lên vỏ não
-Tạo nên phản xạ có điều kiện với các
kích thích có điều kiện gây ức chế
Trang 41.3 Điểm canh gác:
Các điểm tương đối hưng phấn ở vỏ não lúc ngủ gọi là những điểm canh gác
Trang 51.5 Hiện tượng mộng: ( chiêm bao )
Chiêm bao là một sự kết hợp chưa hề xảy ra giữa các hiện tượng đã xảy ra
1.6 Thôi miên:
Thôi miên là hình thức đặc biệt của ngủ, một phần vỏ não ở trạng thái ức chế
Trang 6THÔI MIÊN
Trang 72 Qúa trình ức chế:
2.1 Định nghĩa:
Hoạt động bình thường của vỏ não là kết quả của 2 quá trình hưng phấn và ức chế
Trang 82.2 Phân loại: Pavlov chia ức chế ra làm 2 loại 2.2.1 Ức chế không điều kiện: có 2 loại
- Ức chế ngoài:
- Ức chế trên giới hạn:
2.2.2 Ức chế có điều kiện: có 3 loại
Ức chế dập tắt:
- Ức chế phân biệt:
- Ức chế chậm:
Trang 92.3 Hiện tượng tan ức chế:
Qúa trình ức chế đối với phản xạ thì xóa mất phản xạ Qúa trình ức chế đối với ức chế cũng xóa mất ức chế
2.4 Tác dụng của các quá trình ức chế:
Trang 103 Hai hệ thống tín hiệu:
3.1 Quan niệm của Pavlov về 2 hệ thống tín hiệu
Một vật kích thích nào đó đại diện cho một vật
kích thích khác để gây ra một phản ứng nào đó
của cơ thể thì được gọi là tín hiệu của vật kích
thích ấy
Ví dụ: trong thí nghiệm thành lập phản xạ nghe gõ
mõ lên ăn mồi của cá, thì tiếng mõ đại diện cho thức ăn, nó là tín hiệu của thức ăn
Trang 113.1.1 Tín hiệu thứ nhất:
+ Là những sự vật, hiện tượng cụ thể, trực tiếp như nhiệt độ, ánh sáng, âm thanh, màu sắc
Các tín hiệu đó sẽ là những vật kích thích có điều kiện Khi tác động vào các giác quan, sẽ gây ra trên vỏ não những đường liên hệ thần kinh tạm thời
Trang 12+ Vai trò:
Là cơ sở cho sự hình thành hệ thống tín hiệu thứ hai, giúp cho con người có thể tiếp nhận sự vật hiện tượng khách quan để hình thành khái niệm
Trang 13
3.1.2 Tín hiệu thứ hai
Tín hiệu thứ hai (tín hiệu ngôn ngữ): là những vật kích thích có tính chất khái quát, gián tiếp, đó là lời nói, chữ viết
Hệ thống tín hiệu thứ hai là hệ thống ngôn ngữ dùng để chỉ một cách chung nhất về sự vật và hiện tượng khách quan, là hệ thống tín hiệu của tín hiệu
sự vật (tín hiệu thứ nhất)
Trang 14- Hệ thống tín hiệu thứ hai là công cụ giao tiếp
Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp giữa người và người
- Hệ thống tín hiệu thứ hai là công cụ quan trọng của nghệ thuật văn hóa và giáo dục
Ngôn ngữ là điều kiện giúp cho con người rút ngắn được thời gian nhận thức thế giới khách quan, tiếp nhận một cách nhanh và có hiệu quả các nguồn tri thức khác nhau của nhân loại
Trang 153.2 Nguồn gốc hình thành của hệ thống tín hiệu thứ hai:
3.2.1 Hệ thống tín hiệu do lao động sinh ra:
3.2.2 Sự phát triển hệ thống tín hiệu thứ hai trên
cơ sở hệ thống tín hiệu thứ nhất
3.3 Tác dụng của hệ thống tín hiệu thứ hai
Trang 16Hệ thống tín hiệu thứ hai tiến lên nhận thức lý tính: giai
đoạn này chỉ có riêng ở loài người, qua lời nói mà có
khái niệm và tư duy
Khái niệm: khái niệm về vật chất được chỉ bằng danh từ
( ví dụ: quả cam), khái niệm về tính chất được chỉ bằng tính
từ ( ngọt, tròn ), khái niệm về vận động được chỉ bằng động
từ ( rụng, rơi, lăn )
Tư duy: qua suy xét, phán đoán và nhiều quá trình phức tạp khác, các từ được sắp xếp thành mệnh đề, câu, có ngữ pháp,
từ đó có tư duy, có ý thức của loài người Tư duy là sản phẩm của bộ óc, ý thức là sự phản ảnh của thế giới bên ngoài vào hệ thần kinh