1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Pháp luật về dịch vụ thanh toán (luật ngân hàng)

12 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Pháp luật về dịch vụ thanh toán
Trường học Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Ngân hàng
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 152,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐẠI HỌC KINH TẾ LUẬT Tiểu luận môn Luật Ngân hàng Đề tài Pháp luật về dịch vụ thanh toán Giảng viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện Mã sinh viên Lớp Hồ Chí Minh, năm 2022 Mục lục Phần 1 Khái niệm thanh toán và dịch vụ thanh toán 2 Khái niệm thanh toán 2 Khái niệm dịch vụ thanh toán 2 Khái quát pháp luật về thanh toán bằng tiền mặt 3 Phần 2 Chế độ mở và sử dụng tài khoản thanh toán 5 Phần 3 Các phương tiện thanh toán 6 Phần 4 Thực trạng pháp luật về dịch vụ.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT

  

Tiểu luận môn: Luật Ngân hàng

Đề tài: Pháp luật về dịch vụ thanh toán

Giảng viên hướng dẫn:

Sinh viên thực hiện:

Mã sinh viên:

Lớp:

Hồ Chí Minh, năm 2022

Trang 2

Mục lục

Phần 1: Khái niệm thanh toán và dịch vụ thanh toán 2

Khái niệm thanh toán 2

Khái niệm dịch vụ thanh toán 2

Khái quát pháp luật về thanh toán bằng tiền mặt 3

Phần 2: Chế độ mở và sử dụng tài khoản thanh toán 5

Phần 3: Các phương tiện thanh toán 6

Phần 4: Thực trạng pháp luật về dịch vụ thanh toán (Thành tựu, hạn chế): 7

Trang 3

Phần 1: Khái niệm thanh toán và dịch vụ thanh toán

Khái niệm thanh toán

Trong hoạt động kinh tế, các chủ thể tham gia quan hệ kinh tế thường xuyên phải thanh toán các nghĩa vụ tài chính phát sinh trong hoạt động kinh doanh Xuất phát từ tính

đa dạng, đan xen của các quan hệ kinh doanh cộng với giá trị thanh toán cho các giao dịch kinh tế ngày càng lớn cũng như yêu cầu thanh toán nhanh chóng, an toàn là những tiền đề kinh tế quan trọng cho việc đáp ứng nhu cầu thanh toán trong nền kinh tế

Từ trên có thể hiểu thanh toán: Là việc chi trả để giải quyết xong một khoản nợ Việc thanh toán phát sinh từ nhiều loại quan hệ xã hội như quan hệ dân sự, quan hệ nộp phạt, nộp thuế, quan hệ kinh doanh và được thực hiện trực tiếp giữa người thụ hưởng với người chi trả hoặc thông qua tổ chức trung gian được nhà nước cho phép cung ứng dịch vụ thanh toán

Tiền là phương tiện thực hiện trao đổi hàng hóa, đồng thời là việc kết thúc quá trình trao đổi Lúc này tiền thực hiện chức năng phương tiện thanh toán Sự vận động của tiền tệ

có thể tách rời hay độc lập tương đối với sự vận động của hàng hóa Thực hiện chức năng phương tiện thanh toán, tiền không chỉ sử dụng để trả các khoản nợ về mua chịu hàng hóa,

mà chúng còn được sử dụng để thanh toán những khoản nợ vượt ra ngoài phạm vi trao đổi như nộp thuế, trả lương, đóng góp các khoản chi dịch vụ …

Khái niệm dịch vụ thanh toán

Từ khái niệm thanh toán ta có thể định nghĩa dịch vụ thanh toán Dịch vụ thanh toán

là việc cung ứng phương tiện thanh toán, thực hiện giao dịch thanh toán trong nước và quốc tế, thực hiện thu hộ, chi hộ và các loại dịch vụ khác do Ngân hàng Nhà nước quy định của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán theo yêu cầu của người sử dụng dịch vụ thanh toán

Trang 4

Khái quát pháp luật về thanh toán bằng tiền mặt

Thanh toán bằng tiền mặt (gồm tiền giấy, tiền kim loại do Ngân hàng Nhà nước phát hành) là việc tổ chức, cá nhân sử dụng tiền mặt để trực tiếp chi trả hoặc thực hiện các nghĩa

vụ trả tiền khác trong các giao dịch thanh toán (Nghị định 222/2013/NĐ-CP)

Từ năm 1952 pháp luật đã yêu cầu khá chặt chẽ về thanh toán bằng tiền mặt như chỉ được dùng tiền mặt để trả lương và phụ cấp; trả tiền mua sản phẩm của nông dân, thợ thủ công, người buôn nhỏ; chi tiêu lặt vặt

Năm 1955, pháp luật đã quy định: “tất cả những việc giao dịch giữa các cơ quan đoàn thể, đơn vị bộ đội và xí nghiệp quốc doanh đều phải thanh toán bằng chuyển khoản hay bằng chuyển tiền qua ngân hàng”

Năm 1960 pháp luật đã đặt ra những nguyên tắc về quản lý tiền mặt, góp phần vào việc tiết kiệm, chông lãng phí tham ô, thúc đẩy các đơn vị kinh doanh nâng cao trình độ hạch toán kinh tế Theo đó, tất cả các cơ quan nhà nước, đơn vị quân đội, xí nghiệp quốc doanh, tổ chức kinh tế tư bản Nhà nưởc, hợp tác xã mua bán, đoàn thể từ cấp huyện trở lên, ., đều phải mở tài khoản tại ngân hàng và phải thanh toán bằng chuyển khoản, trừ những món chi trả nhỏ

Năm 1967, pháp luật đã quy định tất cả các cơ quan nhà nước; các đoàn thể, đơn vị lực lượng vũ trang, tổ chức kinh tế quốc doanh, công tư hợp doanh, hợp tác xã đều phải mỏ tài khoản tại ngân hàng Mọi sự giao dịch giữa các tổ chức có tài khoản đều phải thanh toán bằng chuyển khoản, trừ những món chi dưới 50đ, 100đ hoặc 150đ được trả bằng tiền mặt do Ngân hàng Nhà nước quy định cụ thể theo từng loại chi tiêu Giao dịch với những

cá nhân hoặc tổ chức không có tài khoản ỏ ngân hàng thì có thể trả bằng tiền mặt, nhưng ngân hàng phải kiểm soát chặt chẽ

Năm 1981, pháp luật đã quy định “tất cả các cơ quan nhà nước, xí nghiệp quốc doanh, các tổ chức kinh tế tập thể và cá thể đã đăng ký tài khoản ở ngân hàng phải nộp hết

Trang 5

số tiền mặt tồn quỹ vượt định mức vào ngân hàng Các đơn vị có tài khoản ở ngân hàng không được thanh toán với nhau bằng tiền mặt trên mức quy định và không được mang tiền mặt trên mức quy định từ địa phương này sang địa phương khác để mua vật tư, hang hóa, mà phải chuyển tiền qua ngân hàng”

Năm 2013 pháp luật quy định không được thanh toán và giao dịch bằng tiền mặt trong các trường hợp sau đây:

Thứ nhất, các tổ chức sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước (là đơn vị dự toán, đơn

vị sử dụng ngân sách nhà nưóc, cơ quan, tổ chức được ngân sách nhà nước hỗ trợ kinh phí, các chủ đầu tư, ban quản lý dự án thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước), trừ một số trường hợp được phép thanh toán bằng tiền mặt theo quy định của Bộ Tài chính;

Thứ hai, tổ chức sử dụng vốn nhà nước (là tổ chức có sử dụng vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và vốn đầu tư khác của Nhà nước), trừ một số trường hợp được phép thanh toán bằng tiền mặt theo quy định của Ngân hàng Nhà nước;

Thứ ba, cá nhân và pháp nhân giao dịch chứng khoán trên Sở giao dịch chứng khoán; các giao dịch chứng khoán đã đăng ký, lưu ký tại Trung tâm Lưu ký chứng khoán không qua hệ thống giao dịch của sở giao dịch chứng khoán;

Thứ tư, doanh nghiệp giao dịch góp vốn và mua bán, chuyển nhượng phần vốn góp vào doanh nghiệp;

Thứ năm, các doanh nghiệp giao dịch vay và cho vay lẫn nhau;

Thứ sáu, tổ chức tín dụng thực hiện giải ngân vốn cho vay đối với khách hàng bằng tiền mặt trong các trường hợp sau đây (Thông tư số 21/2017/TT-NHNN)

Khách hàng thanh toán, chi trả cho các mục đích sử dụng vốn vay mà pháp luật quy định phải thực hiện thông qua tài khoản thanh toán của khách hàng;

Trang 6

Khách hàng là bên thụ hưởng có tài khoản thanh toán tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, đã ứng vốn tự có để thanh toán, chi trả các chi phí thuộc chính phương án, dự

án kinh doanh hoặc phương án, dự án phục vụ đời sông được tổ chức tín dụng cho vay quyết định cho vay theo quy định của pháp luật (cho vay bù đắp) Trường hợp khách hàng không có tài khoản thanh toán (không bao gồm pháp nhân) thì được giải ngân bằng tiền mặt

Khách hàng trực tiếp thanh toán, chi trả tiền mua sản phẩm nông nghiệp thuộc lĩnh vực nông, lâm, diêm nghiệp và thủy sản từ cá nhân, hộ gia đỉnh, chủ trang trại, hộ kinh doanh và tổ hợp tác có hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn nông thôn để khách hàng thực hiện phương án sản xuất kinh doanh, phù hợp với mục đích vay vốn ghi trong thỏa thuận cho vay

Luật Thuế quy định một trong các điều kiện để được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào là “có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào, trừ hàng hóa, dịch vụ mua từng lần có giá trị dưới hai mươi triệu đồng”

Cho đến đầu năm 2020, việc thanh toán tiền mặt giữa các cá nhân với nhau vẫn hợp pháp dù với số tiền đến hàng trăm tỷ đồng

Tổ chức tín dụng được thỏa thuận với khách hàng về kế hoạch rút tiền mặt và việc khách hàng thông báo trước khi rút tiền mặt với số lượng lớn (khoản 1 Điều 8 Nghị định 222/2013/NĐ-CP)

Khách hàng khi sử dụng dịch vụ ngân hàng cung cấp cho khách hàng trong việc nộp, rút tiền mặt hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến tiền mặt phải trả phí dịch vụ tiền mặt theo ấn định của Ngân hàng Nhà nước hoặc tổ chức tín dụng ấn định

Phần 2: Chế độ mở và sử dụng tài khoản thanh toán

Các hình thức mở tài khoản thanh toán và việc trả lãi đối với số dư trên tài khoản được hướng dẫn bởi Điều 3 Thông tư 23/2014/TT-NHNN như sau:

Trang 7

1 Các hình thức mở tài khoản thanh toán bao gồm: tài khoản thanh toán của cá nhân, tài khoản thanh toán của tổ chức và tài khoản thanh toán chung

2 Tài khoản thanh toán của cá nhân là tài khoản do khách hàng là cá nhân mở tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán

3 Tài khoản thanh toán của tổ chức là tài khoản do khách hàng là tổ chức mở tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán Chủ tài khoản thanh toán của tổ chức là người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền của tổ chức mở tài khoản và thay mặt tổ chức

đó thực hiện các giao dịch liên quan đến tài khoản thanh toán

4 Tài khoản thanh toán chung là tài khoản quy định tại khoản 3 Điều 10 Nghị định 101/2012/NĐ-CP ngày 22/11/2012 về thanh toán không dùng tiền mặt

5 Số dư trên tài khoản thanh toán được hưởng lãi theo lãi suất tiền gửi không kỳ hạn Mức lãi suất do tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán ấn định và niêm yết công khai theo quy định của pháp luật

Phần 3: Các phương tiện thanh toán.

Trước đây, phương tiện và hình thức thanh toán là hàng đổi hàng – đây là hình thức

và phương tiện thanh toán được sử dụng từ rất lâu đời và vô cùng đơn giản Hiện nay, hình thức này không còn được sử dụng phổ biến mà thay vào đó, những hình thức thanh toán được sử dụng phổ biến là sử dụng tiền mặt hoặc chuyển khoản, thanh toán qua thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ, séc hoặc tiền kĩ thuật số, bitcoin…

Khi thực hiện giao dịch, sau khi thanh toán, cơ quan, tổ chức, cá nhân sẽ nhận được hóa đơn hoặc biên nhận để thể hiện việc xác nhận đã thanh toán Trong những giao dịch phức tạp hơn, sau khi thanh toán, cơ quan, tổ chức, cá nhân còn nhận được cổ phiếu hoặc những hình thức khác theo sự thỏa thuận giữa các bên thực hiện giao dịch

Hiện nay, ba hình thức thanh toán phổ biến nhất được sử dụng đó là thanh toán bằng tiền mặt, thanh toán qua thẻ và thanh toán thông qua hình thức chuyển khoản

Trang 8

Thanh toán bằng tiền mặt: là phương thức thanh toán vô cùng phổ biến và chủ yếu được sử dụng khi thực hiện những giao dịch nhỏ lẻ, được sử dụng từ rất xa xưa cho tới hiện nay

Thanh toán bằng thẻ: hình thức thanh toán thông qua việc sử dụng thẻ ngân hàng, thay thế cho việc sử dụng tiền mặt Tuy nhiên, nếu cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng hình thức thanh toán này thì nơi bán hàng hoặc những cửa hàng cần phải có mấy cái thẻ để có thể thực hiện việc quẹt thẻ

Chuyển khoản: hình thức chuyển tiền từ tài khoản ngân hàng của người mua sang tài khoản ngân hàng của người nhận Khi thực hiện thanh toán bằng hình thức chuyển khoản, hiện nay có rất nhiều ưu đãi dành cho hình thức thanh toán này như giảm thuế giá trị gia tăng với những giao dịch lớn hơn 20.000.000 đồng)

Phần 4: Thực trạng pháp luật về dịch vụ thanh toán (Thành tựu, hạn chế):

Ở Việt Nam, đối với việc cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản, pháp luật Việt Nam hiện hành đã có quy định chi tiết về hoạt động thanh toán qua tài khoản ngân hàng bằng phương tiện điện tử bao gồm hoạt động thẻ ngân hàng, cung ứng và sử dụng séc, cung ứng dịch vụ thanh toán và dịch vụ trung gian thanh toán.Với sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ, thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam đã và đang có những chuyển biến ban đầu đáng ghi nhận Chính phủ đã ban hành những văn bản quy định về phát triển hình thức thanh toán không dùng tiền mặt, như: Quyết định số 2545/QĐ-TTg, ngày 30-13-2016, của Thủ tướng Chính phủ, về việc “Phê duyệt Đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn 2016 - 2020”; Quyết định số 241/QĐ-TTg, ngày 23-2-2018, của Thủ tướng Chính phủ, về việc “Phê duyệt Đề án đẩy mạnh thanh toán qua ngân hàng với dịch vụ công: Thuế, điện, nước, học phí, viện phí và chi trả các chương trình an sinh xã hội…”; Chỉ thị số 22/CT-TTg, ngày 26-5-2020, của Thủ tướng Chính phủ “Về việc đẩy mạnh triển khai các giải pháp phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam”…

Và theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước và Công ty Cổ phần Thanh toán quốc gia Việt

Trang 9

Nam, trong hoạt động thanh toán, đặc biệt là thanh toán không dùng tiền mặt và thanh toán dịch vụ công trong quý 3/2020 tiếp tục xu hướng tăng trưởng mạnh

Khi đại dịch Covid-19 bùng phát, trong thời gian thực hiện giãn cách xã hội, người dân đã sử dụng ngày càng nhiều hơn các dịch vụ thanh toán qua ví điện tử, quét mã QR Code để thanh toán, đặt mua hàng mà không cần đến trực tiếp các cửa hàng, trung tâm thương mại,… Sự thay đổi tích cực này là cơ hội để mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt Bằng tiện ích và lợi ích mang lại thực tiễn của việc sử dụng dịch vụ thanh toán qua điện thoại, internet banking và mobile banking đã và đang thay đổi thói quen sử dụng tiền mặt của người dân nói chung và khu vực đô thị nói riêng

Thanh toán không dùng tiền mặt góp phần hạn chế lượng tiền mặt trong lưu thông hàng hóa, giảm thiểu chi phí xã hội, mở rộng không gian, rút ngắn thời gian cho quá trình bán và mua hàng hóa, dịch vụ trong nền kinh tế Đồng thời, phát triển các dịch vụ chuyên nghiệp về thu chi, thẻ ngân hàng, thanh toán trực tuyến, thanh toán điện tử mà không làm thay đổi giá trị tiền mặt quy đổi Khi thanh toán không dùng tiền mặt được khuyến khích

và đưa vào như một phương thức thanh toán chính yếu trong xã hội sẽ đem lại nhiều lợi ích

để thúc đẩy nền kinh tế phát triển bền vững, tạo sự minh bạch trong các khoản chi tiêu và giao dịch, giúp dòng chảy tiền tệ được lưu thông rõ ràng hơn

Trước xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng của nền kinh tế thị trường, những giao dịch trên phạm vi toàn cầu có giá trị lớn xuất hiện ngày càng nhiều thì phương thức thanh toán bằng tiền mặt dần không còn phù hợp, vì phương thức thanh toán truyền thống này tiềm ẩn những rủi ro nhất định như: chi phí cho việc thanh toán của nền kinh tế tăng cao, phát sinh từ khâu phát hành tiền mặt của Ngân hàng Nhà nước đến vận chuyển, bảo quản, kiểm, đếm tiền của hệ thống ngân hàng cũng như của các chủ thể tham gia giao dịch thanh toán (các tổ chức, cá nhân) khi phải giao dịch với số tiền lớn Tính an toàn thấp, nguy cơ rủi ro, mất mát lớn, tốn kém chi phí vận chuyển, khó khăn khi thực hiện thanh toán quốc tế, không bảo đảm an toàn khi số tiền lớn, khoảng cách giao dịch xa

Trang 10

Tuy đem lại nhiều thuận tiện hơn đối với nhiều người tiêu dùng nhưng thanh toán không dùng tiền mặt ở nước ta vẫn chưa đạt được nhiều kết quả như kỳ vọng Nguyên nhân là do:

Thứ nhất, tội phạm, gian lận trong thanh toán điện tử gần đây có chiều hướng gia tăng trong bối cảnh các dịch vụ, giao dịch online trở nên phổ biến với những hành vi, thủ đoạn mới, tinh vi hơn và sử dụng công nghệ nhiều hơn

Một số vấn đề phát sinh trong lĩnh vực thanh toán điện tử diễn biến phức tạp, như: một số tổ chức, cá nhân sử dụng máy POS, thiết bị di động có nguồn gốc từ nước ngoài để chấp nhận thanh toán trên lãnh thổ Việt Nam, không tuân thủ quy định pháp luật; hay hoạt động thanh toán cho các dịch vụ của tổ chức, doanh nghiệp nước ngoài cung ứng xuyên biên giới vào lãnh thổ Việt Nam còn khó khăn, vướng mắc trong quá trình xử lý

Thứ hai, các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt chỉ tập trung phát triển tại các

đô thị lớn, khu công nghiệp và khu chế xuất Thực tế cho thấy, mạng lưới máy rút tiền tự động hay máy POS còn rất hạn chế do được lắp đặt chủ yếu ở khu vực thành phố và tập trung ở các siêu thị, trung tâm thương mại, nhà hàng, khách sạn…, trong khi ở khu vực nông thôn, miền núi còn ít, gây khó khăn cho chủ thẻ khi sử dụng hàng ngày dẫn đến việc thanh toán bằng tiền mặt trong nền kinh tế vẫn còn lớn

Thứ ba, chi phí phát hành thẻ cao hơn so với một số quốc gia khác Chi phí bình quân phát hành 1 thẻ vào khoảng 5 USD/thẻ, trong khi chi phí phát hành thẻ trên thế giới khoảng 1 USD/thẻ (Lưu Phước Vẹn, 2019) Lãi suất cho vay qua thẻ cao cộng thêm các khoản phí dịch vụ theo thẻ, như: phí thường niên, phí in sao kê, phí chậm thanh toán, phí rút tiền mặt tại ATM, phí chuyển đổi ngoại tệ, phí giao dịch… khiến người sử dụng còn e ngại

Thứ tư, một bộ phận người tiêu dùng còn e dè khi tiếp cận với công nghệ, phương tiện thanh toán mới, do còn lo ngại về vấn đề an ninh, an toàn trong thanh toán Hơn nữa,

Ngày đăng: 15/05/2022, 08:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w