Cung ứng dịch vụ là hoạt động thương mại, theo đó một bên có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh toán; bên sử dụng dịch vụ có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng d
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
- -
BÀI TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN LUẬT THƯƠNG MẠI 2
ĐỀ BÀI: Khái niệm, đặc điểm, phân loại hợp đồng dịch vụ, các vấn đề pháp lý về các
loại hợp đồng dịch vụ đặc thù như đấu giá, đấu thầu, logistics…
Thực hiện
Tên sinh viên: Đèo Linh Chi
Mã sinh viên: 19061043 Ngày sinh: 11/12/2001
Mã lớp học phần: BSL 2002 3 Giảng viên giảng dạy: TS.Nguyễn Đăng Duy
TS.Hồ Ngọc Hiển
Năm 2022
Trang 22
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ 4
1.1 Khái niệm hợp đồng dịch vụ 4
1.2 Đặc điểm hợp đồng dịch vụ 5
1.3 Phân loại hợp đồng dịch vụ 6
CHƯƠNG 2: CÁC VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ CÁC LOẠI HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ ĐẶC THÙ 7
2.1 Vấn đề pháp lý về hợp đồng đấu giá 7
2.2 Vấn đề pháp lý về hợp đồng đấu thầu 9
2.3 Vấn đề pháp lý về hợp đồng logistics 11
KẾT LUẬN 15
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 15
Trang 33
LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời đại công nghệ 4.0 bùng nổ, thế giới ngày càng phát triển, những dịch vụ mới được ra đời và ngày càng phát triển, hiện đại hơn để bắt kịp xu hướng, đáp ứng nhu cầu của con người trong nhiều lĩnh vực đời sống hàng ngày Hợp đồng dịch vụ được bên cung ứng dịch vụ đưa ra để làm hài lòng bên sử dụng dịch vụ Vậy hợp đồng dịch vụ là gì? Hợp đồng dịch vụ mang những đặc điểm ra sao? Cung ứng dịch vụ là hoạt động thương mại, theo đó một bên có nghĩa vụ thực hiện dịch
vụ cho một bên khác và nhận thanh toán; bên sử dụng dịch vụ có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận…
Mục đích của đề tài là làm sáng tỏ về tổng quan về hợp đồng dịch vụ Để thực hiện được mục đích này, đề tài đã phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận về hợp đồng dịch vụ và pháp luật về loại dịch vụ này; phân tích những nội dung cơ bản của pháp luật Việt Nam về hợp đồng dịch vụ nói chung và về từng loại hình hợp đồng dịch vụ nói riêng từ đó đưa ra những ưu, nhược điểm của pháp luật Việt Nam về vấn đề này; cuối cùng là đưa ra những quan điểm cá nhân về định hướng
và những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng dịch vụ
Để làm rõ các về vấn đề nêu trên, đề tài này đã sử dụng rất nhiều các
phươngpháp nghiên cứu khoa học khác nhau, như phương pháp tổng hợp và phân tích, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh và đối chiếu, kết hợp nghiên cứu
lý luận với thực tiễn… Các phương pháp nghiên cứu trên dựa trên nền tảng kiến thức, cũng như giáo trình liên quan tới chủ để dịch vụ thương mại trong học phần Luật thương mại 2
Sau đây, chúng ta cùng tìm hiểu một cách tổng quan và khái quát nhất về hợp đồng dịch vụ
Trang 44
CHƯƠNG 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG
DỊCH VỤ
1.1 Khái niệm hợp đồng dịch vụ
Hiện nay, với tốc độ phát triển chóng mặt của nhân loại, mạng lưới dịch vụ phát triển tương đối mạnh để phục vụ cho nhu cầu của con người Điều đó chứng tỏ nền kinh tế đã và đang ngày càng trên đà phát triển và nhu cầu khách quan hình thành nên các loại dịch vụ
Trong Bộ luật dân sự năm 2015, hợp đồng dịch vụ là loại hợp đồng có những đặc điểm riêng Các quy phạm của hợp đồng dịch vụ điều chỉnh các loại dịch vụ cụ thể như: Dịch vụ sửa chữa tài sản, dịch vụ pháp lí, dịch vụ cung cấp thông tin thương mại, dịch vụ quảng cáo
Đối tượng của hợp đồng dịch vụ là một công việc cụ thể Người cung ứng dịch
vụ bằng thời gian, công sức, trí tuệ… của mình để hoàn thành công việc đã nhận Tuy nhiên, người cung ứng dịch vụ có thể sử dụng những người cộng sự giúp việc cho mình và phải chịu trách nhiệm về những sự việc xảy ra do lỗi của người cộng
sự Tuy nhiên, bên cung ứng dịch vụ không được giao cho người khác làm thay công việc nếu không có sự đồng ý của bên thuê dịch vụ
Khi thoả thuận về việc thực hiện công việc dịch vụ, bên thuê dịch vụ phải đưa
ra các yêu cầu của mình về chất lượng, kĩ thuật, các thông số khác Từ đó, các bên cho thuê dịch vụ có cơ sở để thoả thuận về các điều kiện cung ứng dịch vụ
Trong Điều 513 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định khái niệm về hợp đồng
dịch vụ như sau:“Hợp đồng dịch vụ là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó, bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên sử dụng dịch vụ, bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ"
Trang 55
1.2 Đặc điểm hợp đồng dịch vụ
Hợp đồng dịch vụ có những đặc điểm như sau:
Thứ nhất, bên cung ứng dịch vụ phải thực hiện các hành vi pháp lí nhất định và giao kết quả cho bên thuê dịch vụ
Đây là một đặc điểm quan trọng mà trong bất kỳ một loại hợp đồng thương mại nào cũng đều có Khi đưa ra dịch vụ bên cung ứng cần phải thực một các hành vi phám lý nhất định như đưa ra các yêu cầu mà hai bên phải cùng thỏa thuận, đồng ý nhằm mục đích có lợi cho cả hai cũng là cơ sở pháp lý khi giao kết hợp đồng
Thứ hai, hợp đồng dịch vụ là hợp đồng có đền bù
Sau khi ký kết hợp đồng, nếu một trong hai bên ký kết có hành vi vi phạm một trong các điều khoản trong hợp đồng, thì cần phải tiến hành đền bù tiền hoặc một
số yêu cầu cụ thể mà trong hợp đồng thương mại đã nêu, để đền bù thiệt hại cho bên còn lại
Thứ ba, bên thuê dịch vụ phải trả tiền công cho bên cung ứng dịch vụ, khi bên cung ứng dịch vụ đã thực hiện công việc và mang lại kết quả như đã thoả thuận
Sau khi đã sử dụng xong dịch vụ thương mại và cảm thấy dịch vụ đã đáp ứng đúng yêu cầu của mình, bên thuê dịch vụ cần phải trả một số tiền như thỏa thuận trong hợp đồng cho bên cung ứng dịch vụ Đây được gọi là tiền công mà bên cung ứng dịch vụ sẽ nhận được sau khi làm xong công việc, đáp ứng yêu cầu bên thuê dịch vụ đặt ra
Thứ tư, hợp đồng dịch vụ là hợp đồng song vụ
Song vụ là loại hợp đồng mà các bên đều có nghĩa vụ như nhau đối với nhau trong việc thực hiện hợp đồng
Theo Điều 274 Bộ luật dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 "Nghĩa
vụ là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa
Trang 66
vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền)." thì việc thực hiện nghĩa
vụ là vì lợi ích của bên có quyền Do đó, trong hợp đồng song vụ, việc thực hiện nghĩa vụ của bên này sẽ vì lợi ích của bên kia và ngược lại
Trong hợp đồng song vụ, khi các bên đã thỏa thuận thời hạn thực hiện nghĩa vụ thì mỗi bên phải thực hiện nghĩa vụ của mình khi đến hạn; không được hoãn thực hiện với lý do bên kia chưa thực hiện nghĩa vụ đối với mình, trừ trường hợp quy
định tại Điều 411 và Điều 413 của Bộ luật Dân sự 2015 quy định
Bên cung ứng dịch vụ phải thực hiện các hành vi pháp lí theo yêu cầu của bên thuê dịch vụ, bên thuê dịch vụ có nghĩa vụ tiếp nhận kết quả công việc và trả tiền công cho bên cung ứng dịch vụ
1.3 Phân loại hợp đồng dịch vụ
Hợp đồng dịch vụ là một loại hợp đồng kinh tế đặc thù Việc giao kết và thực hiện các hợp đồng dịch vụ phải theo những nguyên tắc, những quy định chung của pháp luật Nhưng do mỗi loại hợp đồng dịch vụ đều có những đặc điểm riêng, vì vậy căn cứ vào đối tượng của hợp đồng có thể chia hợp đồng dịch vụ thành những loại như sau:
+) Hợp đồng dịch vụ thi công sửa chữa, vận chuyển; nội thất;…
+) Hợp đồng dịch vụ bảo hiểm
+) Hợp đồng dịch vụ cho thuê, mướn tài sản
+) Hợp đồng dịch vụ kiểm dịch
+) Hợp đồng dịch vụ khoa học kỹ thuật
+ Hợp đồng dịch vụ tư vấn, thiết kế
Trong mỗi loại hợp đồng nêu trên đều mang những đặc trưng riêng phù hợp, đáp ứng được yêu cầu của người sử dụng dịch vụ mà bên cung ứng dịch vụ đưa ra
Trang 77
CHƯƠNG 2:
CÁC VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ CÁC LOẠI HỢP ĐỒNG
DỊCH VỤ ĐẶC THÙ
2.1 Vấn đề pháp lý về hợp đồng đấu giá
Trường hợp người có hàng hóa không tự tổ chức đấu giá hàng hóa của họ thì việc đầu tiên cần làm để bán đấu giá hàng hóa là lựa chọn ra một Tổ chức đấu giá phù hợp để ký kết hợp đồng dịch vụ đấu gia để có thể bán được hàng với giá trị cao nhất, chi phí tiết kiệm nhất với dịch vụ tốt nhất Tổ chức đấu giá là bên cung cấp dịch vụ, có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho Người có hàng hóa đấu giá và nhận thủ lao, Người có hàng hóa là bên sử dụng dịch vụ có nghĩa vụ thanh toán phí dịch vụ
và được quyền sử dụng dịch vụ như đã thỏa thuận
Trường hợp chủ sở hữu không tự tổ chức đấu giá thì trước tiên người trúng đấu giá phải lựa chọn tổ chức bán đấu giá phù hợp và ký hợp đồng dịch vụ đấu giá
để bán đấu giá Chi phí tiết kiệm nhất và dịch vụ tốt nhất Đấu giá viên là người cung cấp dịch vụ có nghĩa vụ cung cấp dịch vụ, thu phí cho đấu giá viên và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận Điều 193 Luật Thương mại 2005 quy định, hợp đồng dịch
vụ của tổ chức bán đấu giá hàng hóa được giao kết bằng văn bản hoặc hình thức khác đều có hiệu lực pháp lý như nhau theo quy định của Luật Dân sự Và các quy định của Luật đấu giá tài sản năm 2016
Trường hợp hàng hóa được đấu giá là đối tượng cầm cố, thế chấp thì hợp đồng dịch vụ tổ chức đấu giá phải được sự đồng ý của bên nhận cầm cố, thế chấp
và bên bán phải thông báo cho các bên tham gia đấu giá về hàng hóa đang bị cầm
cố, thế chấp
Trong hợp đồng cầm cố, thế chấp có thỏa thuận về việc bán đấu giá mà
người cầm cố, thế chấp vắng mặt không có lý do chính đáng hoặc từ chối giao kết hợp đồng dịch vụ tổ chức đấu giá hàng hóa thì hợp đồng dịch vụ tổ chức đấu giá
Trang 88
được giao kết giữa người nhận cầm cố, thế chấp với người tổ chức đấu giá Tuy nhiên trường hợp người cầm cố, thế chấp từ chối giao kết hoặc vắng mặt không có
lý do chính đáng thì người nhận cầm cố, thế chấp có quyền giao kết hợp đồng
Ngoài các quyền và nghĩa vụ cơ bản, khi ký kết hợp đồng dịch vụ đấu giá hàng hóa, người có hàng hóa đấu giá có trách nhiệm cung cấp cho tổ chức đấu giá bằng chứng chứng minh quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc quyền được bán hàng hỏa theo quy định của pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về bằng chứng
đó Trách nhiệm kiểm tra quyền được bản hàng hóa của người có hàng hóa sẽ do
Tổ chức đấu giá thực hiện Tổ chức đấu giá phải chịu trách nhiệm về giá trị, chất lượng của hàng hóa nếu không thông báo đầy đủ thông tin về hàng hóa, các trường hợp khác sẽ không phải chịu trách nhiệm này
Pháp luật cũng quy định quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng của các bên Người có hàng hóa đấu giá hoặc tổ chức đấu giá có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dịch vụ đấu giá hàng hóa theo quy định của pháp luật về dân sự trước khi tổ chức đấu giá nhân hồ sơ tham gia đấu giá của người tham gia đầu giả, trừ trường hợp luật có quy định khác
Bên cạnh đó, pháp luật cũng trao cho Người có hàng hóa đấu giá có quyền hủy bỏ hợp đồng dịch vụ đấu giá hàng hóa khi có một trong các căn cứ theo khoản
6 Điều 33 Luật Đấu giá tài sản 2016 Theo đó, khi có một trong những căn cứ thì
người có tài sản đấu giá sẽ có quyền hủy bỏ hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản:
Thứ nhất, tổ chức không có chức năng hoạt động đấu giá tài sản mà tiến hành cuộc đấu giá hoặc cá nhân không phải là đấu giá viên mà điều hành cuộc đấu giá trừ trường hợp cuộc đấu giá do Hội đồng đấu giá tài sản thực hiện
Một là, tổ chức không có chức năng đấu giá tài sản thực hiện cuộc đấu giá hoặc cá nhân không phải là đấu giá viên nhưng điều hành cuộc đấu giá trừ cuộc đấu giá do Hội đồng đấu giá tài sản tổ chức
Trang 99
Thứ hai, tổ chức đấu giá tài sản có một trong các hành vi sau đây: Tổ chức đấu giá tài sản không niêm yết, đấu giá tài sản không công khai; bán hồ sơ đăng ký đấu giá không đúng quy định, đăng ký đấu giá; tổ chức cuộc đấu giá người tham gia bị cản trở, hạn chế đăng ký tham gia đấu giá
Thứ ba là tổ chức đấu giá tài sản cố tình để người không đủ điều kiện tham gia đấu giá theo quy định của pháp luật tham gia đấu giá và trúng đấu giá
Thứ tư, tổ chức đấu giá tài sản cấu kết, thông đồng với người tham gia đấu giá trong quá trình tổ chức đấu giá dẫn đến giả mạo thông tin tài sản đấu giá, hồ sơ tham gia đấu giá, kết quả đấu giá
Thứ năm, tổ chức đấu giá tài sản tổ chức cuộc đấu giá không đúng quy định
về hình thức đấu giá, phương thức đấu giá theo quy chế cuộc đấu giá dẫn đến làm sai lệch kết quả đấu giá tài sản
2.2 Vấn đề pháp lý về hợp đồng đấu thầu
Đấu thầu hàng hoá, dịch vụ là hoạt động thương mại, theo đó một bên mua hàng hoá, dịch vụ thông qua mời thầu gọi là bên mời thầu nhằm lựa chọn trong số các thương nhân tham gia đấu thầu gọi là bên dự thầu thương nhân đáp ứng tốt nhất các yêu cầu do bên mời thầu đặt ra và được lựa chọn để ký kết và thực hiện
hợp đồng gọi là bên trúng thầu theo Điều 214( Luật thương mại 2005)
Đặc điểm về đấu thầu:
Đầu tiên là chủ đề của hoạt động đấu thầu hàng hóa và dịch vụ Có được phép lưu thông hàng hóa và cung ứng dịch vụ thương mại trên thị trường theo quy định của pháp luật hay không Thứ hai, đấu thầu là giai đoạn tiền hợp đồng Mục đích của hoạt động này là giúp các luật sư đấu thầu tìm ra các đơn vị có thể cung cấp hàng hóa và dịch vụ có chất lượng tốt nhất với giá cả hợp lý nhất Sau khi chọn được đối tác, hai bên sẽ tiến hành ký kết hợp đồng Thứ ba, về các chủ đề liên
Trang 1010
quan Bao gồm: một luật sư đấu thầu và một nhà thầu số lượng tùy thuộc vào hình thức dự thầu mà luật sư đấu thầu sử dụng Thứ tư, về hình thức pháp lý Hình thức pháp lý của quan hệ đấu thầu hàng hóa, dịch vụ là hồ sơ mời thầu và hồ sơ mời thầu
Hồ sơ mời thầu là văn bản pháp lý do bên mời thầu lập và được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, trong đó thể hiện đầy đủ những yêu cầu kỹ thuật, tài chính
và thương mại của hàng hóa cần mua sắm, dịch vụ cần sử dụng và những điều kiện khác của gói thầu
Hồ sơ dự thầu thể hiện năng lực và mức độ đáp ứng của bên dự thầu trước yêu cầu trong hồ sơ mời thầu Những hồ sơ này là căn cứ pháp lý để xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ đấu thầu hàng hóa, dịch
vụ
Hình thức đấu thầu
Theo quy định tại Điều 215 Luật thương mại 2005, Việc đấu thầu hàng
hoá, dịch vụ được thực hiện theo một trong hai hình thức sau đây:
Đấu thầu rộng rãi là hình thức đấu thầu mà bên mời thầu không hạn chế số lượng các bên dự thầu;
Đấu thầu hạn chế là hình thức đấu thầu mà bên mời thầu chỉ mời một số nhà thầu nhất định dự thầu
Việc chọn hình thức đấu thầu rộng rãi hoặc đấu thầu hạn chế do bên mời thầu quyết định
Phương thức đấu thầu
Phương thức đấu thầu được quy định tại Điều 216 ( Luật Thương mại
2005) , bao gồm 2 phương thức:
Đấu thầu một túi hồ sơ: Trong trường hợp này, bên dự thầu nộp hồ sơ dự thầu gồm đề xuất về kỹ thuật, đề xuấ t về tài chính trong một túi hồ sơ theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu và việc mở thầu được tiến hành một lần
Trang 1111
Đấu thầu hai túi hồ sơ: Trong trường hợp đấu thầu theo phương thức đấu thầu hai túi hồ sơ thì bên dự thầu nộp hồ sơ dự thầu gồm đề xuất về kỹ thuật, đề xuất về tài chính trong từng túi hồ sơ riêng biệt được nộp trong cùng một thời điểm
và việc mở thầu được tiến hành hai lần Hồ sơ đề xuất về kỹ thuật sẽ được mở trước
2.3 Vấn đề pháp lý về hợp đồng logistics
Trong một cuốn sách tựa đề The handbook of Logistics Contract Sổ tay hợp
đồng logistics :, Joan Jane and Alfonso de Ochoa 2006 có đoạn viết: Về mặt khái niệm, có thể định nghĩa hợp đồng dịch vụ logistics là một hợp đồng dưới tên một bên thứ ba, gọi là nhà cung cấp dịch vụ bên thứ ba - 3PL, chịu trách nhiệm trước một bên khác để cung cấp các dịch vụ logistics mà họ cần về sau, đổi lại nhà cung cấp được trả những lợi ích kinh tế khác Điều quan trọng để đưa ra định nghĩa một cách rõ ràng như vậy vì sự đa dạng của hoạt động này có thể bao gồm, giới hạn dịch vụ của các nhà cung cấp dịch vụ này có thể được yêu cầu và sẽ làm mất đi tính tự nhiên của cụm từ “logistics”
Cũng như hợp đồng đấu thầu, đấu giá thì hợp đồng logistics có những đặc điểm sau đây:
Thứ nhất: Hợp đồng dịch vụ logistics là hợp đồng song vụ, hợp đồng ưng thuận và mang tính chất đền bù
Dịch vụ logistics được thực hiện trên cơ sở hợp đồng song vụ có tính đền bù
Đây là sự thỏa thuận giữa hai bên chủ thể, là sự thống nhất ý chí được thể hiện ra bên ngoài trên cơ sở bình đẳng về địa vị pháp lý, tức là các bên có quyền ngang nhau trong quá trình đàm phán đi đến thống nhất quyền và nghĩa vụ của mình Bên cung ứng và bên sử dụng dịch vụ có các quyền và nghĩa vụ tương ứng với nhau theo thỏa thuận Trường hợp một bên có hành vi vi phạm nghĩa vụ, bên còn lại có