ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT LUẬT NGÂN HÀNG ĐỀ TÀI PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG Hà Nội, Năm 2022 MỤC LỤC I, KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG 2 1 Tín dụng và các đặc trưng của tín dụng 2 1 1 Khái niệm về tín dụng 2 1 2 Các đặc trưng của tín dụng 2 1 3 Vai trò của tín dụng 3 2 Tổ chức tín dụng và các hoạt động của tổ chức tín dụng 3 2 1 Khái niệm, đặc điểm của tổ chức tín dụng 3 2 2 Hoạt động của các tổ chức tín dụng 4 II, PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CHO.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2MỤC LỤC
I, KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG 2
1 Tín dụng và các đặc trưng của tín dụng 2
1.1.Khái niệm về tín dụng 2
1.2.Các đặc trưng của tín dụng 2
1.3.Vai trò của tín dụng 3
2 Tổ chức tín dụng và các hoạt động của tổ chức tín dụng 3
2.1.Khái niệm, đặc điểm của tổ chức tín dụng 3
2.2.Hoạt động của các tổ chức tín dụng 4
II, PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG 4
1 Khái niệm cho vay và nguyên tắc vay vốn 4
1.1 Khái niệm cho vay 4
1.2 Nguyên tắc vay vốn 6
2 Quy định pháp luật về hợp đồng tín dụng ngân hàng 7
2.1 Khái niệm và đặc điểm hợp đồng tín dụng ngân hàng 7
2.2 Bản chất pháp lý của hợp đồng tín dụng ngân hàng 8
2.3 Nội dung của hợp đồng tín dụng ngân hàng 8
2.4 Trình tự thủ tục ký kết của hợp đồng tín dụng ngân hàng 9
3 Bảo đảm tiền vay và các biện pháp bảo đảm tiền vay 11
3.1.Khái niệm bảo đảm tiền vay 11
3.2.Các biện pháp bảo đảm tiền vay 11
4 Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng cho vay của tổ chức tín dụng 12
III, MỘT SỐ BẤT CẬP VÀ KIẾN NGHỊ KHẮC PHỤC 14
1.Thực trạng về hoạt động cho vay tiêu dùng tại các công ty tài chính ở Việt Nam.14 2 Bất cập trong quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng 16
3 Một số đề xuất, kiến nghị 19
3.1.Giải pháp hoàn thiện hoạt động cho vay tiêu dùng tại các công ty tài chính ở Việt Nam 19
3.2 Giải pháp hoàn thiện quy định về hợp đồng tín dụng 21
4 Kết luận 21
Trang 3I, KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG
1 Tín dụng và các đặc trưng của tín dụng
1.1.Khái niệm về tín dụng
Thuật ngữ “tín dụng” có nguồn gốc từ chữ latinh: "Creditium", có nghĩa là sự tin tưởng, tín nhiệm Trên thực tế, thuật ngữ này dùng để chỉ quan hệ vay mượn giữa các chủ thể khác nhau trong xã hội dưới các hình thức khác nhau (đó có thể là sự vay tiền, tài sản hoặc mua bán chịu hàng hoá ) → Như vậy, dưới góc độ là những quan hệ vay mượn thì những hành vi tín dụng có thể thực hiện bởi bất cứ ai
Dưới góc độ kinh tế, tín dụng có thể được hiểu là một quan hệ kinh tế hình thành
trong quá trình chuyển hoá giá trị dưới hình thái hiện vật hay hình thái tiền tệ từ chủ thể này sang chủ thể khác theo nguyên tắc hoàn trả vốn và lãi trong một thời hạn nhất định Hay nói cách khác, tín dụng là quan hệ phân phối của cải dưới hình thức giá trị nhưng được phân biệt với các hình thức phân phối của cải khác ở nguyên tắc hoàn trả
Dưới góc độ pháp lý, tín dụng là quan hệ chuyển giao vốn từ những người thừa vốn
sang những người thiếu vốn theo nguyên tắc hoàn trả, dựa trên cơ sở sự tín nhiệm
→ Kết luận: Như vậy, tín dụng được phát sinh khi một bên (chủ nợ) giao cho bên kia
(con nợ) sử dụng một khoản vốn nhất định, khi đến hạn trả nợ, con nợ phải trả cho chủ
nợ khoản vốn đã vay kèm theo một khoản lãi suất nhất định mà hai bên đã thoả thuận trước Vốn ở đây có thể là tiền hoặc tài sản tính bằng tiền Nói ngắn gọn, bản chất của tín dụng là sự vay mượn tạm thời một số hiện vật hay tiền theo nguyên tắc hoàn trả
1.2.Các đặc trưng của tín dụng
Thứ nhất, tín dụng bao giờ cũng phát sinh trên cơ sở sự tín nhiệm Điều này có nghĩa
là để thiết lập quan hệ tín dụng bên chuyển giao vốn và bên nhận chuyển giao vốn phải tin tưởng nhau Theo C.Mác thì sự tín nhiệm này “ít nhiều có căn cứ” và có thể hiểu là
sự tín nhiệm về khả năng tài chính của con nợ hoặc sự tín nhiệm dưới giác độ tình cảm
Thứ hai, bên chuyển giao vốn chuyển giao cho bên khác sử dụng trong một khoảng
thời gian nhất định
Thứ ba, khi hết thời hạn sử dụng vốn, bên nhận chuyển giao vốn phải hoàn trả vốn
đã vay cho bên chuyển giao Trên thực tế, sự hoàn trả này thường có giá trị lớn hơn so với khoản tín dụng ban đầu Khoản giá trị dôi ra này được gọi là lãi suất tín dụng
*Phân loại tín dụng:
Căn cứ vào chủ thể cho vay, tín dụng bao gồm: tín dụng nhà nước, tín dụng giữa các
doanh nghiệp (tín dụng thương mại), tín dụng dân cư và tín dụng của tổ chức tín dụng
Trang 4Căn cứ vào thời hạn vay vốn, tín dụng bao gồm: tín dụng ngắn hạn, tín dụng trung
hạn và tín dụng dài hạn
Căn cứ vào mức độ đảm bảo khoản vay, bao gồm: tín dụng có bảo đảm và tín dụng
không có bảo đảm
Căn cứ vào chủ thể đi vay và mục đích vay vốn, bao gồm: tín dụng tiêu dùng, tín
dụng đầu tư, tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hóa, tín dụng liên ngân hàng và tín dụng xuất, nhập khẩu
1.3.Vai trò của tín dụng
Thứ nhất, điều hòa nguồn vốn từ những người nhiều vốn sang những người ít vốn
theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi
Thứ hai, thu hút nguồn tiền tệ nhàn rỗi trong nền kinh tế và phân phối các nguồn vốn
đó dưới hình thức tín dụng khác nhau để bổ sung vốn cho các doanh nghiệp, các cá nhân(Người đi vay) nhằm phục vụ mục đích sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, tiêu dùng,
2 Tổ chức tín dụng và các hoạt động của tổ chức tín dụng
2.1.Khái niệm, đặc điểm của tổ chức tín dụng
Căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017: “Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số
hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân.”
Xét về mặt bản chất thì tổ chức tín dụng là doanh nghiệp Tuy vậy, tổ chức tín dụng
có những đặc điểm riêng mà dựa vào đó có thể nhận biết, phân biệt chúng với các doanhnghiệp kinh doanh trong các lĩnh vực, ngành nghề khác trong nền kinh tế:
Thứ nhất, tổ chức tín dụng là doanh nghiệp có đối tượng kinh doanh trực tiếp là
tiền tệ
Thứ hai, tổ chức tín dụng là doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh chính, thường
xuyên và mang tính nghề nghiệp là hoạt động ngân hàng Đây là dấu hiệu cơ bản để phân biệt doanh nghiệp là tổ chức tín dụng với các loại hình doanh nghiệp kinh doanh trong các lĩnh vực khác Nội dung kinh doanh chủ yếu của tổ chức tín dụng là kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ: Nhận tiền gửi; cấp tín dụng; Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản → Đặc điểm này có ý nghĩa quyết định đến cơ chế điều chỉnh của pháp luật đối với việc tổ chức và hoạt động của tổ chức tín dụng Bởi vì, hoạt động ngân hàng do các tổ chức tín dụng thực hiện phần lớn là hoạt
Trang 5động kinh doanh tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cao do tính kéo dài của các quan hệ kinh doanh Những tác động tích cực và tiêu cực của hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng thường có tính phản ứng dây chuyền
Thứ ba, tổ chức tín dụng là loại hình doanh nghiệp chịu sự quản lý nhà nước của
Ngân hàng nhà nước Việt Nam và thuộc phạm vi áp dụng pháp luật ngân hàng, cụ thể là Luật ngân hàng nhà nước Việt Nam năm 2010
2.2.Hoạt động của các tổ chức tín dụng
Hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng bao gồm hoạt động huy động vốn, hoạt động tín dụng và hoạt động cung ứng các dịch vụ thanh toán Trong số các hoạt động nêu trên thì hoạt động tín dụng là hoạt động cơ bản của tổ chức tín dụng Nếu hoạt động này được thực hiện tốt thì mang lại nhiều lợi nhuận, làm tăng thêm uy tín của tổ chức tíndụng, trong trường hợp ngược lại, nó sẽ mang lại rủi ro và thậm chí cả sự phá sản của tổ chức tín dụng Hay nói cách khác, trong điều kiện hiện nay hoạt động tín dụng quyết định tới sự "sống còn" của tổ chức tín dụng
Hoạt động tín dụng là hoạt động đa dạng, là một loại kinh doanh tiền tệ phức tạp Tính phức tạp của nó chính là đối tượng kinh doanh, tức là tiền tệ Hoạt động tín dụng làm phát sinh quan hệ tín dụng giữa tổ chức tín dụng (người cho vay) và khách hàng (người đi vay) Quan hệ tín dụng này là quan hệ kinh tế bình đẳng giữa người cho vay
và người đi vay, là sự cam kết thỏa thuận bằng các điều khoản thi hành, được thể hiện trong các hợp đồng tín dụng Sự cam kết này chính là cơ sở pháp lý cơ bản để thực hiện các nghĩa vụ của hai bên tham gia hoạt động tín dụng
II, PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG
1 Khái niệm cho vay và nguyên tắc vay vốn
1.1 Khái niệm cho vay
Cho vay là hiện tượng kinh tế khách quan, xuất hiện khi trong xã hội loài người có tình trạng tạm thời thừa và tạm thời thiếu vốn Khái niệm cho vay, theo nghĩa chung nhấtđược hiểu là việc một người thoả thuận để cho người khác được quyền sử dụng tài sản của mình (vật cùng loại) trong một thời gian nhất định với điều kiện có hoàn trả, dựa trên cơ sở sự tín nhiệm của mình đối với người đó
Theo định nghĩa tại Khoản 1 Điều 3 Văn bản hợp nhất số 20/VBHN-NHNN ngày
25/05/2014 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc ban hành quy chế cho vay của tổchức tín dụng đối với khách hàng thì “cho vay là một hình thức tín dụng, theo đó tổ chức
Trang 6tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”.
Trong giao dịch cho vay giữa tổ chức tín dụng với khách hàng, chủ thể tham gia bao gồm bên cho vay (tổ chức tín dụng) và bên đi vay (tổ chức, cá nhân có đủ những điều kiện do luật định) Các chủ thể này khi tham gia giao dịch cho vay cần phải thoả mãn những điều kiện nhất định theo sự dự liệu của pháp luật
Với bên cho vay, bên cho vay trong quan hệ cho vay giữa tổ chức tín dụng với khách hàng thường là tổ chức tín dụng có đủ những điều kiện do pháp luật quy định Ngoài ra, các tổ chức khác không phải là tổ chức tín dụng nếu được NHNN cho phép thực hiện hoạt động tín dụng thì cũng có thể là bên cho vay và cũng phải thoả mãn các điều kiện chủ thể giống như đối với bên cho vay là tổ chức tín dụng Theo quy định hiện hành, một tổ chức tín dụng muốn trở thành chủ thể cho vay phải thoả mãn đầy đủ các điều kiện sau đây:
a Có giấy phép thành lập và hoạt động do Ngân hàng nhà nước cấp
b Có điều lệ do Ngân hàng nhà nước chuẩn y
c Có giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh hợp pháp
d Có người đại diện đủ năng lực và thẩm quyền để giao kết hợp đồng tín dụng với khách hàng
Riêng đối với các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng, muốn trở thành chủ thể chovay thì chỉ cần thoả mãn các điều kiện như có giấy phép hoạt động ngân hàng, có giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh và có người đại diện hợp pháp Trong giấy phép hoạt động ngân hàng và giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh của loại tổ chức này phải ghi rõ hoạt động cho vay là hoạt động ngân hàng được phép thực hiện
Với bên vay, bên vay là tổ chức, cá nhân thoả mãn các điều kiện vay vốn do pháp luậtquy định và những điều kiện khác do các bên thoả thuận Thông thường, những điều kiện chung sẽ do pháp luật quy định và được áp dụng cho mọi khách hàng cho vay trongmọi trường hợp, không phân biệt họ là tổ chức hay cá nhân Còn những điều kiện riêng
sẽ do các bên tự thoả thuận trong hợp đồng tín dụng và bên cho vay chỉ bắt buộc phải thoả mãn những điều kiện này khi chúng được ghi rõ trong hợp đồng tín dụng như điều kiện để giao kết hợp đồng tín dụng
Theo quy định của pháp luật, mọi khách hàng vay vốn của tổ chức tín dụng phải đáp ứng các điều kiện chung sau đây:
Thứ nhất, bên vay phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự (đối với
tổ chức thì tổ chức phải có năng lực pháp luật dân sự, còn người đại diện hợp pháp cho
Trang 7tổ chức phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự; đối với cá nhân thì chính
cá nhân phải óc năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự)
Thứ hai, mục đích sử dụng vốn của bên vay phải hợp pháp Đây cũng là điều kiện
bắt buộc phải thoả mãn đối với mọi chủ thể có nhu cầu vay vốn của tổ chức tín dụng và điều kiện này phải được ghi rõ trong hợp đồng tín dụng như một điều khoản chủ yếu củahợp đồng này
Ngoài những điều kiện chung nêu trên, người vay còn có thể phải thoả mãn những điều kiện riêng khác nữa do tổ chức tín dụng yêu cầu trong từng hợp đồng tín dụng cụ thể Những điều kiện này chỉ tính bắt buộc phải thoả mãn đối với bên vay khi tổ chức tíndụng yêu cầu Các điều kiện này bao gồm:
Một là, bên vay có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết; Hai là, bên vay phải có phương án sử dụng vốn khả thi, hiệu quả;
Ba là, bên vay phải có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc có bảo lãnh bằng tài sản của
người thứ ba trên cơ sở hợp đồng cầm cố, hợp đồng thế chấp, hợp đồng bảo lãnh
1.2 Nguyên tắc vay vốn
Theo Điều 6 Văn bản hợp nhất số 20/VBHN-NHNN ngày 22/5/2014 của Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam về việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối vớikhách hàng thì khách hàng vay vốn của tổ chức tín dụng phải đảm bảo hai điều kiện sau:
Thứ nhất, sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng.
Theo nguyên tắc này thì khách hàng vay vốn phải sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng ngân hàng Do vạy, tổ chức tín dụng và khách hàng vay phải thoả thuận và phải ghi rõ mục đích sử dụng vốn vay trong hợp đồng tín dụng ngân hàng Tổ chức tín dụng có quyền kiểm tra, giám sát quá trình vay vốn, sử dụng vốnvay của khách hàng Trong trường hợp khách hàng sử dụng vốn vay không đúng mục đích thì tổ chức tín dụng có quyền chấm dứt việc cho vay và thu hồi nợ trước hạn
Thứ hai, hoàn trả tiền vay cả gốc và lãi đúng hạn đã thoả thuận trong hợp đồng tín
dụng Theo nguyên tắc này, số tiền mà khách hàng vay nhận được chỉ được sử dụng trong một khoản thời gian nhất định đã được thoả thuận trong hợp đồng tín dụng ngân hàng (thời hạn vay vốn) Khi hết hạn hợp đồng, người đi vay phải trả cả gốc và lãi Tuỳ thuộc vào phương thức cho vay mà nghĩa vụ hoàn trả tiền vay được thực hiện bằng nhiều cách Ví dụ, theo phương thức vay trả góp thì khi vay vốn, tổ chức tín dụng và khách hàng thoả thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ cho nhiều kì hạn khác nhau trong thời hạn cho vay
Trang 82 Quy định pháp luật về hợp đồng tín dụng ngân hàng
2.1 Khái niệm và đặc điểm hợp đồng tín dụng ngân hàng
Khái niệm: Hợp đồng tín dụng là thỏa thuận bằng văn bản giữa tổ chức tín dụng (gọi
là bên cho vay) với khách hàng là tổ chức, cá nhân (gọi là bên vay), theo đó tổ chức tín dụng thoả thuận ứng trước một số tiền cho khách hàng sử dụng trong một thời hạn nhất định, với điều kiện có hoàn trả cả gốc lẫn lãi, dựa trên sự tín nhiệm
Đặc điểm: Như vậy, ngoài những đặc điểm chung của mọi loại hợp đồng, hợp đồng tín dụng còn có một số đặc trưng như sau:
Thứ nhất, về chủ thể, một bên tham gia hợp đồng tín dụng bao giờ cũng là tổ
chức tín dụng có đủ các điều kiện luật định với tư cách là bên cho vay Còn chủ thể bên kia (bên vay) có thể là tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác thoả mãn những điều kiện vay vốn do pháp luật hoặc do tổ chức tín dụng quy định
Thứ hai, đối tượng của hợp đồng tín dụng là tiền (bao gồm tiền mặt và bút tệ) Về
nguyên tắc, đối tượng của hợp đồng tín dụng bao giờ cũng phải là một số tiền xác định
và phải được các bên thoả thuận, ghi rõ trong văn bản hợp đồng
Thứ ba, hợp đồng tín dụng vốn chứa đựng nguy cơ rủi ro rất lớn cho quyền lợi
của bên cho vay Sở dĩ như vậy là vì theo cam kết trong hợp đồng tín dụng, bên cho vay chỉ có thể đòi tiền của bên vay sau thời hạn nhất định Thời gian cho vay càng dài thì nguy cơ rủi ro và bất trắc càng lớn Vì thế tổ chức tín dụng càng phải quan tâm đến việc
áp dụng các biện pháp quản trị rủi ro, đồng thời quy định lãi suất cho vay cao hơn nhằm thu hồi đủ các chi phí bỏ ra cho việc quản lí các khoản cho vay dài hạn vốn có mức độ rủi ro cao
Thứ tư, về cơ chế thực hiện quyền và nghĩa vụ Trong hợp đồng tín dụng, nghĩa
vụ chuyển giao tiền vay (nghĩa vụ giải ngân) của bên cho vay bao giờ cũng phải được thực hiện trước, làm cơ sở, tiền đề cho việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của bên vay Do
đó, chỉ khi nào bên cho vay chứng minh được rằng họ đã chuyển giao tiền vay theo đúnghợp đồng tín dụng cho bên vay thì khi đó họ mới có quyền yêu cầu bên vay phải thực hiện các nghĩa vụ đối với mình (bao gồm các nghĩa vụ chính như sử dụng tiền vay đúng mục đích; nghĩa vụ hoàn trả tiền vay đúng hạn cả gốc lẫn lãi…)
2.2 Bản chất pháp lý của hợp đồng tín dụng ngân hàng
Hợp đồng tín dụng ngân hàng mang bản chất là một dạng hợp đồng dân sự, mà cụ thểhơn là một loại của hợp đồng vay tài sản Sự giống nhau của hợp đồng tín dụng ngân hàng và hợp đồng vay tài sản được thể hiện ở đối tượng của hai hợp đồng đều là tiền và nghĩa vụ hoàn trả tiền vay đúng hạn đã thoả thuận trong hợp đồng Điểm khác biệt của
Trang 9hợp đồng tín dụng ngân hàng so với hợp đồng vay tài sản là ở chỗ ngoài tiền thì đối tượng của hợp đồng vay tài sản còn là vật
Ngoài ra, hợp đồng tín dụng ngân hàng còn là một hợp đồng song vụ Khi hai bên đã thoả thuận tất cả các điều khoản của hợp đồng tín dụng ngân hàng và hợp đồng đã được
ký kết thì hợp đồng bắt đầu phát sinh hiệu lực và bên đi vay có quyền yêu cầu bên cho vay thực hiện nghĩa vụ cấp tín dụng Việc quy định như vậy là hoàn toàn hợp lý (đặc biệtdưới góc độ kinh tế) bởi vì việc vay vốn ngân hàng cũng như việc sử dụng vốn vay (nhất
là vì mục đích kinh doanh) đòi hỏi phải được thực hiện trên cơ sở và nguyên tắc nhất định mà điều kiện không thể thiếu được là kế hoạch sử dụng vốn vay Chính vì vậy mà khi hợp đồng tín dụng ngân hàng đã được ký kết thì người đi vay cần phải có quyền yêu cầu tổ chức tín dụng chuyển giao số tiền đã thoả thuận trong hợp đồng và trên cơ sở đó thực hiện kế hoạch mà mình đã sắp đặt trước (mua hàng hoá, hoạt động sản xuất kinh doanh…), còn ngân hàng phải có nghĩa vụ cấp tín dụng cho khách hàng
2.3 Nội dung của hợp đồng tín dụng ngân hàng
Nội dung của hợp đồng tín dụng là tổng thể những điều khoản do các bên có đủ tư cách chủ thể cam kết với nhau một cách tự nguyện, bình đẳng và phù hợp với pháp luật
Về lí thuyết, nội dung của hợp đồng tín dụng (các điều khoản của hợp đồng) phải do các bên tự định đoạt trên nguyên tắc tự do ý chí và thống nhất ý chí, phù hợp với pháp luật
và đạo đức xã hội Theo quy định tại Điều 17 Văn bản hợp nhất số 20/VBHN-NHNN
ngày 22/5/2014 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng, nội dung của hợp đồng tín dụng bao gồm các điều khoản cơ bản:
Điều khoản về điều kiện vay vốn: Khi thoả thuận điều khoản này, các bên cần ghi
rõ trong hợp đồng tín dụng những tiêu chuẩn cụ thể mà bên vay phải thoả mãn thì hợp đồng tín dụng mới có hiệu lực Chẳng hạn, bên vay phải có năng lực chủ thể, có tình hình tài chính lành mạnh hay phải có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc có bảo lãnh của người thứ ba…
Điều khoản về đối tượng hợp đồng: Trong điều khoản này, các bên phải thoả
thuận về số tiền vay, lãi suất cho vay, tổng số tiền phải trả khi hợp đồng tín dụng đáo hạn
Điều khoản về thời hạn sử dụng vốn vay: Các bên phải ghi rõ trong hợp đồng tín
dụng về ngày, tháng, năm trả tiền, hoặc phải trả tiền sau bao lâu kể từ ngày kí hợp đồng Nếu có thể gia hạn hợp đồng thì các bên cũng dự liệu trước về khả năng này trong hợp đồng tín dụng, còn thời gian gia hạn sẽ tiến hành thoả thuận sau trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng (nếu thấy cần thiết)
Trang 10Điều khoản về phương thức thanh toán tiền vay: Đây là một điều khoản rất quan
trọng vì nó liên quan trực tiếp đến việc thu hồi vốn và lãi cho vay Vì thể, các bên phải thoả thuận rõ rằng số tiền vay sẽ được hoàn trả dần hàng tháng (trả góp) hay là trả toàn
bộ một lần khi hợp đồng vay đáo hạn Nếu khoản vay được thoả thuận thanh toán theo từng kỳ hạn thì các bên cũng có thể dự liệu trước về khả năng điều chỉnh kỳ hạn trả nợ cho phù hợp với khả năng tài chính của bên vay khi trả nợ
Điều khoản về mục đích sử dụng tiền vay: Trong điều khoản này, các bên cần ghi
rõ vốn vay sẽ được sử dụng vào mục đích gì (ví dụ, mua vật tư hàng hoá để kinh doanh hay mua hàng hoá để tiêu dùng…) Việc thoả thuận điều khoản này trong hợp đồng tín dụng được xem như giải pháp đảm bảo sự an toàn về vốn cho người đầu tư là các tổ chức tín dụng, nhằm tránh trường hợp bên vay sử dụng vốn một cách tuỳ tiện vào các mục đích phiêu lưu, mạo hiểm Mặc khác, để bảo đảm lợi ích của cả hai bên và đảm bảo cho đồng vốn đầu tư được sử dụng hiệu quả, pháp luật cũng cho phép trong thời gian sử dụng vốn, các bên có quyền thoả thuận lại về mục đích sử dụng vốn vay mỗi khi xét thấy thời cơ và điều kiện sử dụng vốn đã thay đổi
Điều khoản về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng: Đây là điều khoản
mang tính chất thường lệ, theo đó các bên có quyền thoả thuận về biện pháp giải quyết tranh chấp bằng con đường thương lượng, hoà giải hoặc lựa chọn cơ quan tài phán sẽ giải quyết tranh chấp cho mình Nếu trong hợp đồng tín dụng không ghi điều khoản này,
có nghĩa là các bên không thoả thuận thì việc xác định thẩm quyền, thủ tục giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng đó sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật
2.4 Trình tự thủ tục ký kết của hợp đồng tín dụng ngân hàng
Giao kết hợp đồng tín dụng là quá trình mang tính chất kĩ thuật nghiệp vụ - pháp lí docác bên thực hiện theo trình tự luật định Việc giao kết hợp đồng tín dụng được thực hiệntheo trình tự sau đây:
Đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng: Đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng là hành
vi pháp lí do một bên thực hiện dưới hình thức văn bản chính thức gửi cho bên kia, với nội dung thể hiện ý chí mong muốn được giao kết hợp đồng tín dụng Thông thường, bên đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng là các tổ chức, cá nhân có nhu cầu vay vốn và văn bản đề nghị chính là đơn xin vay, được gửi kèm theo các giấy tờ tài liệu chứng minh
tư cách chủ thể và khả năng tài chính hay phương án sử dụng vốn vay Các tài liệu này
do bên vay chửi cho tổ chức tín dụng để xem xét, thẩm định và được coi như bằng chứng đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng Tuy nhiên cũng có nhiều trường hợp chính các tổ chức tín dụng chủ động đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh và mở rộng thị trường tín dụng
Trang 11Thẩm định hồ sơ tín dụng: Thẩm định hồ sơ tín dụng là tất cả những hành vi
mang tính nghiệp vụ - pháp lí do tổ chức tín dụng thực hiện nhằm xác định mức độ thoả mãn các điều kiện vay vốn đối với bên vay, trên cơ sở đó mà quyết định cho vay hay không Trong thực tế giao dịch ngân hàng, việc thẩm định hồ sơ tín dụng thường do các nhân viên chuyên trách của tổ chức tín dụng thực hiện và kết thúc bằng việc lập báo cáo thẩm định hồ sơ tín dụng Báo cáo này được trình lên cho người quản lí có thẩm quyền của tổ chức tín dụng quyết định về việc có cho vay hay không Do tính đặc biệt quan trọng của giai đoạn này trong cả quá trình từ cho vay đến thu nợ nên pháp luật đòi hỏi bên cho vay là tổ chức tín dụng phải triệt để tuân thủ nguyên tắc đảm bảo tính độc lập, phân định rõ ràng trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm liên đới giữa khâu thẩm định và khâu quyết định cho vay Sau khi đã thẩm định hồ sơ tín dụng của khách hàng, bên cho vay có toàn quyền quyết định việc chấp hành hoặc từ chối cho vay, dựa vào kết quả thẩm định, phân tích và điều tra tín dụng đối với khách hàng Trong trường hợp từ chối cho vay, tổ chức tín dụng phải thông báo cho khách hàng bằng văn bản và phải nêu rõ lí
do từ chối cho vay Việc từ chối cho vay không có căn cứ xác đáng có thể là lí do để khách hàng thực hiện hành vi đối kháng với tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật
Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng: Đây là hành vi pháp lí do bên
nhận đề nghị (thông thường là tổ chức tín dụng) thực hiện dưới hình thức văn bản chính thức gửi cho bên kia (bên gửi đề nghị hợp đồng) với nội dung thể hiện sự đồng ý giao kết hợp đồng tín dụng Trên phương diện lí thuyết, việc một bên chấp nhận vô điều kiện văn bản đề nghị hợp đồng của bên kia có thể làm phát sinh hợp đồng giữa họ với nhau, nếu trong văn bản đề nghị đã hội đủ các điều khoản cốt yếu của chủng loại hợp đồng mà
họ mong muốn kí kết Tuy nhiên, do hợp đồng tín dụng vốn có ảnh hưởng sâu sắc và mang tính dây chuyền đối với hệ thống tín dụng và cả đối với nền kinh tế trong một quốc gia nên các luật gia cho rằng việc giao kết hợp đồng tín dụng cần phải được thực hiện một cách kĩ lưỡng và thấu đáo Quan niệm này là cơ sở để pháp luật dự liệu những quy tắc riêng dành cho thủ tục kí kết hợp đồng tín dụng, theo đó hành vi chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng chỉ có giá trị như một lời tuyên bố đồng ý ký kết hợp đồng chứ không thể thay thế cho việc giao kết hợp đồng chính thức giữa các bên Điều này có nghĩa rằng việc giao kết hợp đồng tín dụng chỉ được xem là hoàn thành sau khi các bên đã trải qua giai đoạn thương lượng, đàm phán trực tiếp các điều khoản của hợp đồng và người đại diện có thẩm quyền của các bên đã trực tiếp kí tên vào văn bản hợp đồng tín dụng
Đàm phán các điều khoản của hợp đồng tín dụng: Đây là giai đoạn cuối cùng,
cũng là giai đoạn trọng tâm của quá trình giao kết hợp đồng tín dụng Trong giai đoạn này, các bên gặp nhau để đàm phán các điều khoản của hợp đồng tín dụng Giai đoạn