Theo đó, Luật quảng cáo 2012 định nghĩa: “Quảng cáo là việc sử dụng các phương tiện nhằm giới thiệu đến công chúng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ có mục đích sinh lợi; sản phẩm, dịch vụ k
Trang 10
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
- - - - - - -
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN LUẬT THƯƠNG MẠI 2
ĐỀ TÀI:
NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ QUẢNG CÁO
THƯƠNG MẠI
Giảng viên giảng dạy: ThS Nguyễn Đăng Duy
TS Hồ Ngọc Hiển
Mã lớp học phần: BSL2002 3 Sinh viên thực hiện: Mai Thị Bảo Trâm
Mã sinh viên: 19061388 Lớp: K64C
Hà Nội - 2022
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CHUNG VỀ QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI 2
1 Khái niệm quảng cáo thương mại 2
1.1 Khái niệm quảng cáo nói chung 2
1.2 Khái niệm quảng cáo thương mại 3
2 Đặc điểm của quảng cáo thương mại 4
CHƯƠNG II: NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM 5
1 Sản phẩm và phương tiện quảng cáo thương mại 5
2 Các chủ thể tham gia vào hoạt động quảng cáo thương mại 7
3 Các hoạt động quảng cáo thương mại bị cấm 10
4 Hợp đồng dịch vụ quảng cáo thương mại 11
CHƯƠNG III: BẤT CẬP VÀ ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI 12
1 Một số bất cập của pháp luật về quảng cáo thương mại 12
2 Đề xuất hoàn thiện pháp luật về quảng cáo thương mại 13
KẾT LUẬN 14
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 15
Trang 32
MỞ ĐẦU
Từ khi Việt Nam bắt đầu thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, xây dựng một nền kinh tế thị trường rộng mở, cùng với đó là việc trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và tham gia các Hiệp định thương mại tự do (FTA), cuộc đua của các doanh nghiệp đã có sự thay đổi rõ ràng theo hướng ngày càng khốc liệt và gay gắt hơn Để tồn tại trên thị trường, các doanh nghiệp phải tìm mọi cách để tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ của mình trước sự cạnh tranh của những doanh nghiệp khác Cũng vì thế, các hoạt động xúc tiến thương mại – một điều mà trước đó gần như không tồn tại trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp, nay đã trở nên phổ biến và phát triển mạnh mẽ như một phần tất yếu Một trong những hình thức xúc tiến thương mại tiêu biểu đó chính là quảng cáo Liên quan đến quảng cáo, có rất nhiều vấn đề pháp lý xoay quanh để đi vào tìm hiểu và nghiên
cứu Trên cơ sở đó, bài tiểu luận xin được lựa chọn đề tài: “Những vấn đề pháp lý về quảng cáo thương mại.” Mong rằng trong giới hạn về thời gian và dung lượng, những
tìm hiểu, phân tích khái quát của bài tiểu luận sẽ góp phần mang đến một cái nhìn tổng thể về hoạt động xúc tiến thương mại đặc trưng này
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CHUNG VỀ QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI
1 Khái niệm quảng cáo thương mại
1.1 Khái niệm quảng cáo nói chung
Thuật ngữ quảng cáo có nguồn gốc từ chữ Latinh - Adverture có nghĩa là thu hút lòng người, là gây sự chú ý và gợi dẫn Thời trung cổ từ này đã được dịch sang tiếng Anh là advertise Tới cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII, khi tiếng Anh bắt đầu được sử dụng rộng rãi trong hoạt động thương mại thì quảng cáo được sử dụng rộng rãi ở châu Âu và châu Mỹ Hoạt động quảng cáo (advertise), nghề quảng cáo (advertising), doanh nghiệp quảng cáo, phát triển rất mạnh Quảng cáo đầu tiên được
sử dụng ở Anh là quảng cáo Sô cô la và quảng cáo cà phê vào năm 1625.1
Có thể nói, quảng cáo nói chung là một thuật ngữ rộng, bao gồm cả quảng cáo kinh tế và quảng cáo phi kinh tế Trong đó, quảng cáo kinh tế được hiểu là quảng cáo nhằm tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ với mục đích thu lợi nhuận, là quảng cáo có tính chất
1 Nguyễn Hữu Thụ, Những khía cạnh tâm lý của quảng cáo thương mại, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà
Nội, năm 2015, tr 9
Trang 4kinh doanh Còn quảng cáo phi kinh tế là quảng cáo không có tính chất kinh doanh như: tuyên truyền, phát động phong trào, phổ biến chủ trương đường lối, vận động bầu
cử, tuyên truyền giáo dục Vậy nên, theo nghĩa rộng có thể hiểu quảng cáo là một hành
vi truyền đạt thông tin đại chúng với mục đích thu hút sự chú ý của một nhóm người tới một vấn đề, một sản phẩm nhằm mục đích nào đó Cần nhấn mạnh rằng, việc giới thiệu rộng rãi thông tin không chỉ là nhu cầu của hoạt động kinh doanh mà còn là công việc cần thiết đáp ứng các mục tiêu, nhiệm vụ chính trị, văn hóa, xã hội Do đó, quảng cáo thương mại chỉ là một trong số các loại hình quảng cáo nói chung.2
1.2 Khái niệm quảng cáo thương mại
Nói đến quảng cáo thương mại, có nghĩa là đề cập đến quảng cáo theo nghĩa hẹp Trong loại hình quảng cáo này, mục tiêu chính là thúc đẩy tiêu thụ hàng hóa, dịch
vụ nhằm kiếm được lợi nhuận cao hơn Ví dụ: quảng cáo đồ gia dụng trên TV, quảng cáo mỳ ăn liền hay những thực phẩm đóng hộp khác trên các áp phích, Như vậy, có thể hiểu khái quát quảng cáo thương mại là hoạt động tuyên truyền, giới thiệu bằng nhiều hình thức về hàng hóa, dịch vụ hay về hãng kinh doanh những hàng hóa, dịch vụ
đó nhằm truyền đạt, thuyết phục, hấp dẫnngười mua để đẩy mạnh việc tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ đem lại lợi ích cho cá nhân hoặc doanh nghiệp
Hoạt động quảng cáo ở Việt Nam được điều chỉnh bởi hai loại văn bản pháp luật bao gồm các văn bản pháp luật về quảng cáo và các văn bản pháp luật quy định về
quảng cáo thương mại Theo đó, Luật quảng cáo 2012 định nghĩa: “Quảng cáo là việc
sử dụng các phương tiện nhằm giới thiệu đến công chúng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ
có mục đích sinh lợi; sản phẩm, dịch vụ không có mục đích sinh lợi; tổ chức, cá nhân kinh doanh sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ được giới thiệu, trừ tin thời sự; chính sách
xã hội; thông tin cá nhân.” 3 Như vậy, pháp luật Việt Nam cũng tiếp cận theo hướng xem quảng cáo thương mại là một bộ phận của hoạt động quảng cáo nói chung
Luật thương mại 2005 định nghĩa quảng cáo thương mại như sau: “Quảng cáo
thương mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân để giới thiệu với khách
2 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật thương mại tập II, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, năm 2014,
tr 151
3 Khoản 1 Điều 2 Luật Quảng cáo năm 2012
4 Điều 102 Luật Thương mại năm 2005
Trang 54
này của Luật thương mại năm 2005 chưa thực sự chính xác và đầy đủ, bởi lẽ không chỉ
có chính thương nhân đó quảng cáo về hàng hóa, dịch vụ của mình mà còn có những thương nhân khác chuyên thực hiện việc quảng cáo hàng hóa chuyên nghiệp, cung cấp dịch vụ hỗ trợ quảng cáo cho một thương nhân khác
2 Đặc điểm của quảng cáo thương mại
Trong tương quan so sánh với quảng cáo nói chung và các hoạt động xúc tiến thương mại khác như khuyến mại; trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ; hội chợ triển lãm thương mại, quảng cáo thương mại có những đặc điểm cơ bản như sau:
Thứ nhất, chủ thể hoạt động quảng cáo thương mại là thương nhân Trong đó
có thương nhân thực hiện quảng cáo thương mại để tuyên truyền, giới thiệu hàng hóa cuả mình hoặc thương nhân thực hiện dịch vụ quảng cáo cho thương nhân khác theo hợp đồng để tìm kiếm lợi nhuận Đặc điểm này sẽ phân biệt quảng cáo thương mại với các hoạt động tuyên truyền đường lối, chủ trương chính sách do chủ thể là nhà nước hay các tổ chức chính trị, xã hội,… thực hiện Đồng thời nó cũng thể hiện sự khác biệt với hoạt động quảng cáo nói chung
Thứ hai, về tổ chức thực hiện, thương nhân có thể tự mình thực hiện các công
việc cần thiết để quảng cáo hoặc thuê dịch vụ quảng cáo của thương nhân khác thông qua hợp đồng dịch vụ Do quảng cáo có tác động rất lớn đến hoạt động bán hàng, cung ứng dịch vụ nên thương nhân sử dụng quảng cáo để giới thiệu những mặt tốt, khuyếch trương hàng hoá dịch vụ của mình, tăng cường cơ hội thương mại và cơ hội lợi nhuận.5
Thứ ba, hoạt động quảng cáo thương mại đòi hỏi thương nhân phải sử dụng sản
phẩm và phương tiện quảng cáo thương mại để truyền tải thông tin về hàng hóa, dịch
vụ đến khách hàng Những thông tin bằng hình ảnh, tiếng nói, chữ viết về hàng hoá dịch vụ cần giới thiệu sẽ được truyền tải đến công chúng thông qua các phương tiện truyền thanh, truyền hình, panoo, áp phích, Đặc điểm về cách thức xúc tiến thương mại này chính là điểm khác biệt giữa quảng cáo thương mại với những hình thức xúc tiến thương mại khác cũng có mục đích giới thiệu hàng hoá, dịch vụ như trưng bày, giới thiệu hàng hoá, hội chợ triển lãm
Thứ tư, mục đích trực tiếp của quảng cáo thương mại là giới thiệu về hàng hoá,
dịch vụ để xúc tiến thương mại, hỗ trợ việc cạnh tranh và hướng đến mục tiêu lợi nhuận của thương nhân Khi giá cả, chất lượng của các bên ngang nhau, thương nhân
5 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật thương mại tập II, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, năm 2014,
tr 153
Trang 6phải tìm kiếm những cơ hội qua xúc tiến thương mại Bằng các hình thức truyền đạt thông tin, thương nhân giới thiệu về những điểm tốt trong hàng hóa, dịch vụ của mình như sự ưu việt về chất lượng, giá cả, khả năng đáp ứng nhu cầu sử dụng Từ đó, công chúng tiếp cận được quảng cáo sẽ có những nhận biết và kiến thức về hàng hoá, dịch vụ; bên cạnh đó còn có thể thu hút khách hàng sử dụng hàng hoá, dịch vụ của công ti khác thông qua việc nhấn mạnh đặc điểm và những lợi ích của một nhãn hiệu cụ thể (quảng cáo cạnh tranh) hoặc thông qua việc so sánh tính ưu việt của sản phẩm với các sản phẩm cùng loại (quảng cáo so sánh) Đây thực sự là những lợi thế mà thương nhân
có thể khai thác vì nó có ý nghĩa rất lớn trong việc định hướng nhu cầu tiêu dùng xã hội, bao gồm cả tiêu dùng cho nhu cầu cá nhân và tiêu dùng cho sản xuất.6
CHƯƠNG II: NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Có thể thấy, pháp luật về quảng cáo thương mại nói riêng và pháp luật về xúc tiến thương mại nói chung là một lĩnh vực pháp luật nhận được sự quan tâm từ rất sớm bới tính quan trọng và cần thiết của nó Liên quan đến quảng cáo thương mại, có thể tìm thấy các quy định được xây dựng tại Luật Thương mại năm 2005 (từ Điều 102 đến Điều 116), Luật Quảng cáo năm 2012, cùng với đó là các luật chuyên ngành khác và những văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành Trong các văn bản pháp luật ấy, đặc biệt
là Luật Thương mại năm 2005, có thể thấy được những vấn đề pháp lý cơ bản về quảng cáo thương mại như sau:
1 Sản phẩm và phương tiện quảng cáo thương mại
1.1 Sản phẩm quảng cáo thương mại
Điều 105 Luật Thương mại quy định: “Sản phẩm quảng cáo thương mại gồm
những thông tin bằng hình ảnh, hành động, âm thanh, tiếng nói, chữ viết, biểu tượng, màu sắc, ánh sáng chứa đựng nội dung quảng cáo thương mại.”
Sản phẩm quảng cáo thương mại sẽ chứa đựng cả nội dung và hình thức quảng cáo thương mại Nội dung quảng cáo bao gồm những thông tin về hoạt động kinh doanh hàng hoá, dịch vụ (thương hiệu, loại sản phẩm và tính ưu việt cũng như tiện ích của nó ) mà chủ quảng cáo muốn được thể hiện nhằm thông báo, giới thiệu rộng rãi
6 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật thương mại tập II, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, năm 2014,
tr 154
Trang 76
tới công chúng Yêu cầu đối với nội dung quảng cáo là phải bảo đảm trung thực, chính xác, rõ ràng, không gây thiệt hại cho người sản xuất, kinh doanh và người tiếp nhận quảng cáo
Pháp luật cũng nghiêm cấm sử dụng các sản phẩm quảng cáo chứa đựng thông tin so sánh trực tiếp giữa hoạt động kinh doanh, hàng hoá, dịch vụ được quảng cáo với hoạt động kinh doanh, hàng hoá, dịch vụ khác, trừ trường hợp so sánh với hàng giả, hàng vi phạm quyền sở hữu công nghiệp; các sản phẩm quảng cáo có hình ảnh, âm thanh, cấu trúc giống với sản phẩm quảng cáo của thương nhân khác, gây nhầm lẫn cho khách hàng; các sản phẩm quảng cáo có nội dung không đúng sự thật, tự khẳng
định vị trí cao nhất của mình mà không có bằng chứng hợp lệ bằng văn bản
Hình thức quảng cáo được thể hiện bằng tiếng nói, chữ viết, biểu tượng, mầu sắc, ánh sáng, hình ảnh, hành động, âm thanh và các hình thức khác có khả năng truyền đạt nội dung thông tin quảng cáo tới công chúng Hình thức quảng cáo phải rõ ràng, dễ hiểu và có tính thẩm mĩ Điều 18 Luật Quảng cáo năm 2012 cũng quy định rõ:
“1 Trong các sản phẩm quảng cáo phải có nội dung thể hiện bằng tiếng Việt, trừ những trường hợp sau:
a) Nhãn hiệu hàng hóa, khẩu hiệu, thương hiệu, tên riêng bằng tiếng nước ngoài hoặc các từ ngữ đã được quốc tế hoá không thể thay thế bằng tiếng Việt;
b) Sách, báo, trang thông tin điện tử và các ấn phẩm được phép xuất bản bằng tiếng dân tộc thiểu số Việt Nam, tiếng nước ngoài; chương trình phát thanh, truyền hình bằng tiếng dân tộc thiểu số Việt Nam, tiếng nước ngoài
2 Trong trường hợp sử dụng cả tiếng Việt, tiếng nước ngoài trên cùng một sản phẩm quảng cáo thì khổ chữ nước ngoài không được quá ba phần tư khổ chữ tiếng Việt và phải đặt bên dưới chữ tiếng Việt; khi phát trên đài phát thanh, truyền hình hoặc trên các phương tiện nghe nhìn, phải đọc tiếng Việt trước tiếng nước ngoài.”
1.2 Phương tiện quảng cáo thương mại
Phương tiện quảng cáo thương mại là công cụ được sử dụng để giới thiệu các sản phẩm quảng cáo thương mại Phương tiện quảng cáo thương mại sẽ bao gồm tất cả các phương tiện có khả năng truyền tải thông tin đến công chúng bao gồm: các phương tiện thông tin đại chúng; các phương tiện truyền tin; các loại xuất bản phẩm; các loại
Trang 8bảng, biển, băng, pa-nô, áp-phích, vật thể cố định, các phương tiện giao thông hoặc các vật thể di động khác; và các phương tiện quảng cáo thương mại khác.7
Khi sử dụng các phương tiện quảng cáo, thương nhân phải bảo đảm các yêu cầu
sau đây: “Tuân thủ các quy định của pháp luật về báo chí, xuất bản, thông tin, chương
trình hoạt động văn hoá, thể thao, hội chợ, triển lãm; Tuân thủ quy định về địa điểm quảng cáo, không gây ảnh hưởng xấu đến cảnh quan, môi trường, trật tự an toàn giao thông, an toàn xã hội; Đúng mức độ, thời lượng, thời điểm quy định đối với từng loại
bảo trật quản lý nhà nước trong hoạt động quảng cáo, đảm bảo hài hoà lợi ích kinh tế, chính trị, văn hoá của tổ chức, cá nhân kinh doanh, của Nhà nước, của công chúng
2 Các chủ thể tham gia vào hoạt động quảng cáo thương mại
Thực tế cho thấy, có nhiều chủ thể tham gia vào hoạt động quảng cáo thương
mại với mục đích, cách thức và mức độ khác nhau Đó có thể là thương nhân quảng cáo (người quảng cáo), thương nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo, người phát hành quảng cáo, người cho thuê phương tiện quảng cáo
Chủ thể đầu tiên là người quảng cáo: Theo định nghĩa tại Khoản 5 Điều 3
Luật Quảng cáo 2012: “Người quảng cáo là tổ chức, cá nhân có yêu cầu quảng cáo
sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của mình hoặc bản thân tổ chức, cá nhân đó”.Trong
quảng cáo thương mại, người có quyền quảng cáo là thương nhân Việt Nam, Chi nhánh của thương nhân Việt Nam, Chi nhánh của thương nhân nước ngoài được phép hoạt động thương mại tại Việt Nam Các tổ chức, cá nhân trên đây có quyền quảng cáo
về hoạt động kinh doanh hàng hoá, dịch vụ của mình hoặc thuê thương nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo thực hiện việc quảng cáo thương mại cho mình Thương nhân nước ngoài muốn quảng cáo thương mại về hoạt động kinh doanh hàng hoá, dịch
vụ của mình tại Việt Nam phải thuê thương nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo thương mại Việt Nam thực hiện.9
Cùng với đó, Điều 12 Luật Quảng cáo năm 2012 cũng quy định cụ thể về quyền
và nghĩa vụ của người quảng cáo Theo đó, người quảng cáo có quyền: Quảng cáo về
tổ chức, cá nhân, sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của mình; quyết định hình thức và
7 Điều 106 Luật Thương mại năm 2005
8 Điều 107 Luật Thương mại năm 2005
9 Điều 103 Luật Thương mại năm 2005
Trang 98
phương thức quảng cáo; được cơ quan có thẩm quyền về quảng cáo của địa phương thông tin về quy hoạch quảng cáo ngoài trời đã phê duyệt; và yêu cầu thẩm định sản phẩm quảng cáo Đi liền với đó, người quảng cáo có nghĩa vụ cung cấp cho người kinh doanh dịch vụ quảng cáo hoặc người phát hành quảng cáo thông tin cần thiết, trung thực, chính xác về cơ quan, tổ chức, cá nhân, sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, các tài liệu liên quan đến điều kiện quảng cáo và chịu trách nhiệm về các thông tin đó; bảo đảm chất lượng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ phù hợp với nội dung quảng cáo; chịu trách nhiệm về sản phẩm quảng cáo của mình trong trường hợp trực tiếp thực hiện quảng cáo trên các phương tiện; liên đới chịu trách nhiệm về sản phẩm quảng cáo trong trường hợp thuê người khác thực hiện; và cung cấp tài liệu liên quan đến sản phẩm quảng cáo khi người tiếp nhận quảng cáo hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu
Chủ thể thứ hai là thương nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo: Tại Điều 104
Luật Thương mại 2005 quy định về kinh doanh dịch vụ quảng cáo thương mại như
sau: “Kinh doanh dịch vụ quảng cáo thương mại là hoạt động thương mại của thương
nhân để thực hiện việc quảng cáo thương mại cho thương nhân khác.”
Thương nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo được hiểu là tổ chức, cá nhân thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình hoạt động quảng cáo nhằm mục đích sinh lời (theo Khoản 6 Điều 3 Luật Quảng cáo 2012)
Tổ chức, cá nhân muốn kinh doanh dịch vụ quảng cáo phải có giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật Thương nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo thương mại có quyền đặt chá nhanh hoặc văn phòng đại diện tại các tỉnh thành phố khác Khi mở chi nhánh, văn phòng đại diện tại các tỉnh, thành phố khác, thương nhân phải thông báo cho Phòng đăng kí kinh doanh cấp tỉnh và Sở Văn hóa - Thông tin nơi đặt chi nhánh, văn phòng đại diện Sau khi được Phòng đăng kí kinh doanh cấp tỉnh cấp giấy chứng nhận đăng kí hoạt động, chi nhánh, văn phòng đại diện của thương nhận được phép bắt đầu kinh doanh dịch vụ quảng cáo
Theo Điều 13 Luật Quảng cáo năm 2012, người kinh doanh dịch vụ quảng cáo
có các quyền sau: Quyết định hình thức và phương thức kinh doanh dịch vụ quảng cáo; được người quảng cáo cung cấp thông tin trung thực, chính xác về tổ chức, cá nhân, sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ được quảng cáo và các tài liệu liên quan đến điều kiện quảng cáo; tham gia ý kiến trong quá trình xây dựng quy hoạch quảng cáo của địa
Trang 10phương và được cơ quan có thẩm quyền về quảng cáo của địa phương thông tin về quy hoạch quảng cáo ngoài trời; và yêu cầu thẩm định sản phẩm quảng cáo
Bên cạnh đó, chủ thể này có các nghĩa vụ sau:hoạt động theo đúng phạm vi, lĩnh vực đã được quy định trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và tuân thủ quy định của pháp luật về quảng cáo; kiểm tra các tài liệu liên quan đến điều kiện quảng cáo của tổ chức, cá nhân, sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cần quảng cáo và thực hiện thủ tục có liên quan theo hợp đồng dịch vụ quảng cáo; chịu trách nhiệm về sản phẩm quảng cáo do mình trực tiếp thực hiện; và cung cấp tài liệu liên quan đến sản phẩm quảng cáo khi người tiếp nhận quảng cáo hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu
Chủ thể thứ ba là người phát hành quảng cáo: Tại Khoản 7 Điều 3 Luật
Quảng cáo 2012 định nghĩa người phát hành quảng cáo như sau: “Người phát hành
quảng cáo là tổ chức, cá nhân dùng phương tiện quảng cáo thuộc trách nhiệm quản lý của mình giới thiệu sản phẩm quảng cáo đến công chúng, bao gồm cơ quan báo chí, nhà xuất bản, chủ trang thông tin điện tử, người tổ chức chương trình văn hóa, thể thao và tổ chức, cá nhân sử dụng phương tiện quảng cáo khác.” Tại Điều 115 Luật
Thương mại 2005 cũng có quy định về người phát hành quảng cáo thương mại như
sau: “Người phát hành quảng cáo thương mại là người trực tiếp phát hành sản phẩm
quảng cáo thương mại.”
Quan hệ quảng cáo có thể hình thành trên cơ sở hợp đồng phát hành quảng cáo giữa người quảng cáo hoặc thương nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo với người phát hành quảng cáo Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào cách thức quảng cáo và phương tiện quảng cáo được sử dụng, thương nhân thực hiện việc quảng cáo và thương nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo có thể thực hiện luôn các công việc của người phát hành quảng cáo.10
Người phát hành quảng cáo được quảng cáo trên phương tiện của mình và thu phí dịch vụ phát hành quảng cáo Người phát hành quảng cáo có nghĩa vụ tuân thủ các quy định pháp luật về sử dụng phương tiện quảng cáo thương mại, pháp luật về báo chí, xuất bản, về quản lí mạng thông tin máy tính, chương trình hoạt động văn hoá thể thao, hội chợ, triển lãm trong việc sử dụng báo chí, xuất bản phẩm, mạng thông tin máy tính, chương trình hoạt động văn hoá thể thao, hội chợ triển lãm và các phương
10 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật thương mại tập II, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, năm 2014, tr 160