1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT NGUYỄN THỊ MẬN PHÁP LUẬT VỀ QUỸ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ Ở VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Hà nội 2013 2 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT NGUYỄN THỊ MẬN PHÁP LUẬT VỀ QU[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ MẬN
PHÁP LUẬT
VỀ QUỸ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà nội - 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ MẬN
PHÁP LUẬT
VỀ QUỸ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số : 60 38 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Đặng Minh Tuấn
HÀ NỘI - 2013
Trang 3Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN ĐỐI VỚI VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT VỀ QUỸ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ Ở VIỆT NAM
8
1.1 Khái quát về trợ giúp pháp lý và Quỹ trợ giúp pháp lý Việt Nam 8
1.1.2 Khái niệm Quỹ trợ giúp pháp lý Việt Nam 19 1.2 Khái quát pháp luật về Quỹ trợ giúp pháp lý ở Việt Nam 22 1.2.1 Khái niệm pháp luật về Quỹ trợ giúp pháp lý ở Việt Nam 22 1.2.2 Đặc điểm pháp luật về Quỹ trợ giúp pháp lý ở Việt Nam 24 1.3 Pháp luật về Quỹ trợ giúp pháp lý của một số nước trên thế giới 25
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUỸ TRỢ GIÚP PHÁP
Trang 42.2.2 Mối quan hệ công tác, phối hợp của Quỹ trợ giúp pháp lý
Quỹ trợ giúp pháp lý Việt Nam
61
Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VỀ QUỸ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ VIỆT NAM
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TGPL : Trợ giúp pháp lý XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động trợ giúp pháp lý (TGPL) ở Việt Nam ra đời từ năm 1997 được xác định là việc cung cấp các dịch vụ pháp lý không thu phí cho người được TGPL (là những người có hoàn cảnh đặc biệt như: người nghèo, người
có công với cách mạng, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số ) nhằm giúp
họ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, đồng thời, góp phần phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật Hoạt động TGPL được xác định là trách nhiệm trước hết thuộc về Nhà nước, khuyến khích, thu hút sự tham gia đóng góp của xã hội và một trong những nguyên tắc cơ bản của hoạt động TGPL là không thu phí, lệ phí hay bất cứ một khoản thù lao nào từ người được TGPL Vì vậy, ngay từ khi mới thành lập, ngoài ngân sách nhà nước cấp, hệ thống TGPL đã nhận được sự quan tâm, tài trợ, viện trợ, đóng góp đáng kể của các tổ chức quốc tế
Để quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn kinh phí cho hoạt động TGPL cần phải
có một tổ chức chịu trách nhiệm trong việc tiếp nhận, phân phối, điều tiết nguồn kinh phí hỗ trợ đó cho các hoạt động TGPL trong toàn quốc nhằm bảo đảm đúng đối tượng, đúng mục đích và được sử dụng hiệu quả, thúc đẩy hoạt động TGPL phát triển Chẳng hạn, những địa phương khó khăn về kinh tế (thu không đủ chi hoặc gặp thiên tai đột xuất), không thể bảo đảm đủ kinh phí cấp cho hoạt động TGPL, ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động này thì các địa phương này có thể nhận được sự hỗ trợ về tài chính từ tổ chức này
Thực tế cho thấy, TGPL chính là một loại hình dịch vụ pháp lý công nhằm đáp ứng nhu cầu TGPL của những người yếu thế, hạn chế về điều kiện tiếp cận, khả năng nhận thức và sử dụng pháp luật Việc đáp ứng nhu cầu TGPL của mọi đối tượng ở các địa phương phải bình đẳng, công bằng và
Trang 7khách quan, tổ chức thực hiện TGPL không được phép từ chối trợ giúp cho các đối tượng có nhu cầu nếu đủ điều kiện theo quy định của pháp luật, không
kể đó là tổ chức ở địa phương "giàu" hay "nghèo" Nhóm người được TGPL thường tập trung nhiều ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, miền núi Tuy nhiên, ngân sách các vùng này lại hết sức hạn hẹp, rất cần sự hỗ trợ từ ngân sách Trung ương, trong khi ngân sách nhà nước nói chung (trong đó có ngân sách Trung ương) còn hạn chế, không thể đáp ứng kịp thời và đầy đủ các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, vì vậy, ngân sách dành cho hoạt động TGPL lại càng ít hơn Để đáp ứng được những yêu cầu này, tổ chức tài chính trong lĩnh vực TGPL nêu trên còn có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm việc phát triển đồng bộ của hệ thống TGPL trên toàn quốc, cân bằng giữa các vùng, miền trong việc thực hiện chính sách về TGPL của Đảng, Nhà nước, bảo đảm cho mọi người dân thuộc diện được TGPL có thể tiếp cận và thụ hưởng bình đẳng loại hình dịch vụ công này
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn trên, Quỹ TGPL Việt Nam đã được nghiên cứu, thành lập theo Quyết định số 258/2002/QĐ-BTP ngày 10/7/2002 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp nhằm hỗ trợ tài chính cho hoạt động TGPL miễn phí cho một
số đối tượng theo quy định của pháp luật trong phạm vi cả nước Thực hiện Luật và Nghị định số 07/2007/NĐ-CP của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 84/2008/QĐ-TTg ngày 30/6/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Quỹ TGPL Việt Nam, ngày 08/12/2008, Bộ trưởng Bộ
Tư pháp ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Quỹ TGPL Việt Nam
Tuy nhiên, sau hơn 10 năm thành lập và đi vào hoạt động, Quỹ TGPL Việt Nam đã bộc lộ những hạn chế, vướng mắc cần phải nghiên cứu một cách toàn diện và đầy đủ về địa vị pháp lý, về tổ chức, bộ máy và pháp luật về Quỹ Trong bối cảnh Việt Nam tuyên bố thoát khỏi danh sách các nước nghèo, các nguồn tài trợ, viện trợ của các quốc gia, tổ chức quốc tế cho hoạt động TGPL Việt Nam đã bị cắt giảm đáng kể, gây ra sự "hẫng hụt" rõ nét về kinh phí triển khai các hoạt động TGPL, rất cần thiết Quỹ TGPL Việt Nam
Trang 8phải huy động được các nguồn hỗ trợ, đóng góp của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cho hoạt động TGPL thì vai trò này thực hiện chưa hiệu quả Vì vậy, mục đích của Quỹ chưa đạt được, ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động TGPL Một trong những nguyên nhân quan trọng của tình trạng trên là
do pháp luật về Quỹ TGPL Việt Nam chưa hoàn thiện, quy định chưa đầy đủ,
còn chồng chéo, mẫu thuẫn Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài "Pháp luật về Quỹ
trợ giúp pháp lý ở Việt Nam" là yêu cầu khách quan, cần thiết cả về phương
diện lý luận và thực tiễn nhằm xác định rõ, đúng mức vị trí, vai trò của Quỹ
và nâng cao hiệu quả, phát triển hoạt động Quỹ TGPL Việt Nam, góp phần bảo đảm cho hoạt động TGPL phát triển bền vững theo định hướng của chiến lược phát triển TGPL ở Việt Nam đến năm 2020 định hướng đến năm 2030
2 Tình hình nghiên cứu
Trợ giúp pháp lý là nhiệm vụ quan trọng hệ thống chính trị trong đó ngành Tư pháp giữ vai trò trung tâm Việc ban hành chính sách TGPL và triển khai chính sách này trên thực tế đã thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước đối với người nghèo và đối tượng chính sách trên phương diện pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, đánh dấu bước phát triển vượt bậc của công cuộc xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam - xóa đói giảm nghèo về
cả vật chất và tinh thần, tạo điều kiện cho người chịu thiệt thòi trong xã hội được bình đẳng tiếp cận với pháp luật, công bằng trước pháp luật
Đến nay, đã có một số đề tài nghiên cứu tiến sĩ, thạc sĩ, đề tài cấp Bộ
và các bài báo, tạp chí, chuyên đề nghiên cứu làm sáng tỏ các vấn đề lý luận
và thực tiễn liên quan đến lĩnh vực TGPL, cụ thể như sau:
Luận án Tiến sĩ "Điều chỉnh pháp luật về trợ giúp pháp lý ở Việt Nam
trong điều kiện đổi mới", của Tạ Thị Minh Lý Luận án đã tập trung nghiên
cứu cơ sở lý luận, pháp lý của điều chỉnh pháp luật và điều chỉnh pháp luật về TGPL; thực trạng điều chỉnh pháp luật về TGPL và phương hướng hoàn thiện việc điều chỉnh pháp luật về TGPL trong điều kiện đổi mới
Trang 9Luận văn Thạc sĩ: "Hoàn thiện pháp luật về người thực hiện trợ giúp
pháp lý ở Việt Nam", của Vũ Hồng Tuyến Luận văn tập trung nghiên cứu cơ
sở lý luận, pháp lý và thực tiễn về người thực hiện TGPL, từ đó có các giải pháp xây dựng và hoàn thiện pháp luật về người thực hiện TGPL
Luận văn Thạc sĩ "Hoàn thiện các hình thức tiếp cận pháp luật của
người nghèo ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay", của Đỗ Xuân Lân Luận
văn tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận, thực trạng các hình thức tiếp cận pháp luật của người nghèo ở Việt Nam, các giải pháp nhằm bảo đảm cho người nghèo ở Việt Nam luôn được tiếp cận pháp luật
Luận văn Thạc sĩ "Bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý", của Phan
Thị Thu Hà Luận văn tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về quyền được TGPL và các giải pháp nhằm bảo đảm quyền được TGPL của người dân
Luận văn Thạc sĩ "Phát triển trợ giúp pháp lý ở cơ sở", của Đặng Thị
Loan Luận văn tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn về các mô hình TGPL ở cơ sở và đưa ra các giải pháp để phát triển mô hình TGPL ở cơ sở
Luận văn Thạc sĩ "Chất lượng hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt
Nam", của Phạm Quang Đại Luận văn đã nghiên cứu lý luận và thực tiễn vấn
đề chất lượng hoạt động TGPL cũng như làm rõ thực trạng chất lượng TGPL hiện nay và quan điểm, giải pháp nâng cao chất lượng TGPL
Các công trình trên đã nghiên cứu các mặt, khía cạnh khác nhau của hoạt động TGPL Tuy nhiên, vấn đề pháp luật về Quỹ TGPL ở Việt Nam đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện và tổng thể về lý
luận và thực tiễn Vì vậy, với đề tài "Pháp luật về Quỹ trợ giúp pháp lý ở
Việt Nam", tác giả luận văn đi sâu phân tích làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và
thực tiễn, thực trạng pháp luật điều chỉnh về Quỹ TGPL Việt Nam và tìm ra giải pháp, định hướng hoàn thiện pháp luật về Quỹ TGPL Việt Nam trong
Trang 10thời gian tới là hết sức cần thiết, tạo cơ sở pháp lý để kiện toàn, nâng cao vị trí, vai trò và năng lực của Quỹ, đáp ứng sự phát triển của hệ thống TGPL
3 Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn tập trung làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật về Quỹ TGPL ở Việt Nam, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp, định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm xác định rõ vị trí pháp lý, vai trò và nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ TGPL Việt Nam
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn có nhiệm vụ nghiên cứu các nội dung sau đây:
- Các khái niệm, đặc điểm của TGPL, Quỹ TGPL Việt Nam
- Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật điều chỉnh về Quỹ TGPL Việt Nam trong thời gian qua, phát hiện những hạn chế, khó khăn, vướng mắc, bất cập và nguyên nhân để có giải pháp hoàn thiện
- Trên cơ sở các yêu cầu khách quan, những quan điểm, đề xuất các giải pháp cụ thể có tính khả thi trên thực tế nhằm hoàn thiện pháp luật về Quỹ TGPL để nâng cao vị trí, vai trò của Quỹ TGPL Việt Nam trong thời gian tới
5 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận, thực tiễn về pháp luật điều chỉnh toàn diện về vị trí pháp lý tổ chức và hoạt động của Quỹ TGPL Việt Nam trên cơ sở nghiên cứu chung về mô hình Quỹ, nghiên cứu đặc thù về mô hình Quỹ TGPL ở Việt Nam theo quy định của pháp luật hiện hành, xác định các quan điểm, yêu cầu phát triển Quỹ TGPL Việt Nam làm căn cứ đề ra giải pháp hoàn thiện pháp luật về Quỹ để đáp ứng các yêu cầu về mặt lý luận và thực tiễn của Quỹ
Phạm vi nghiên cứu toàn bộ những vấn đề về Quỹ TGPL Việt Nam thuộc Cục TGPL, Bộ Tư pháp
Trang 116 Phương pháp nghiên cứu
- Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, những quan điểm của Đảng, quan điểm khoa học về hoạt động tư pháp nói chung và hoạt động TGPL nói riêng
- Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng phương pháp luận của triết học Mác - Lê nin là phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đồng thời sử dụng các phương pháp hệ thống, phân tích, tổng hợp, so sánh, thống
kê Ngoài ra, tác giả còn sử dụng phương pháp khai thác và sử dụng các tư liệu thực tiễn để hoàn chỉnh luận văn
7 Đóng góp của luận văn
Luận văn có ý nghĩa thiết thực cả về phương diện lý luận cũng như phương diện thực tiễn Luận văn nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống
về cơ sở lý luận, pháp lý về TGPL và tổ chức, hoạt động của Quỹ TGPL Việt Nam nhằm xác định rõ vị trí, vai trò, ý nghĩa của Quỹ đối với hệ thống TGPL; đánh giá được mức độ điều chỉnh của pháp luật về tổ chức và hoạt động của Quỹ TGPL Việt Nam trong thời gian qua, phát hiện những khó khăn, hạn chế, tồn tại làm ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của Quỹ mà gián tiếp là mức
độ đáp ứng về tài chính của Quỹ đối với toàn bộ hệ thống TGPL của Việt Nam; từ đó cho thấy sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật làm "động lực" tạo
sự thay đổi, biến chuyển rõ nét về tổ chức của Quỹ cũng như chức năng, nhiệm vụ và các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ TGPL Luận văn có thể phục vụ cho việc nghiên cứu, tìm hiểu về cơ chế huy động các nguồn lực cho hoạt động TGPL ở Việt Nam và là tài liệu tham khảo cho việc xây dựng chính sách phát triển bền vững hoạt động TGPL trong thời gian tới Luận văn phải mang tính thực tiễn và có tính khả thi nhằm giải quyết được những tồn tại cũng như kiến nghị những vấn đề cần khắc phục
Trang 128 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về trợ giúp pháp lý và pháp luật về Quỹ trợ
giúp pháp lý Việt Nam
Chương 2: Thực trạng pháp luật về Quỹ trợ giúp pháp lý ở Việt Nam Chương 3: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật về Quỹ trợ
giúp pháp lý ở Việt Nam
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN ĐỐI VỚI VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VỀ QUỸ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ Ở VIỆT NAM
1.1 KHÁI QUÁT VỀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ VÀ QUỸ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ VIỆT NAM
1.1.1 Khái niệm trợ giúp pháp lý
Thuật ngữ "Trợ giúp pháp lý" được sử dụng phổ biến trên thế giới từ
giữa thế kỷ XIX và xuất phát từ tiếng Anh là: Legal aid Theo Từ điển Anh -
Việt "Legal aid" được dịch là "Trợ cấp pháp lý" [32] Ngoài ra, trong một số tài liệu khác dịch "Legal aid" là "hỗ trợ pháp luật", "hỗ trợ pháp lý" hoặc "hỗ trợ tư pháp" , như vậy, bản chất là một nhưng hiện đang có rất nhiều sách, báo… có cách dịch khác nhau, sử dụng thuật ngữ khác nhau về vấn đề này Ở
Việt Nam thuật ngữ"Trợ giúp pháp lý" đang được sử dụng chính thức trong
các văn bản pháp luật và sách báo, nó thể hiện rõ bản chất, nội dung và hình thức hoạt động của loại dịch vụ pháp lý miễn phí ở Việt Nam
Ở các nước trên thế giới, hoạt động TGPL cho người nghèo, người yếu thế bắt đầu hình thành và phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của Nhà nước tư sản và được coi là chức năng xã hội của nhà nước, là một trong những tiêu chí bảo vệ quyền con người của nhà nước pháp quyền Mô hình tổ chức và hoạt động TGPL trên thế giới đang rất phong phú và đa dạng, có nhiều đặc thù do phụ thuộc vào điều kiện phát triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia Nhiều quốc gia đã có Chiến lược phát triển TGPL như Canada, Mỹ, Úc… nhưng chưa có một văn bản nào mang tầm quốc tế về TGPL nên chưa
có quan niệm chung, thống nhất về TGPL trên thế giới
Do có nhiều mô hình TGPL, với những quan niệm khác nhau về đối tượng, phạm vi, phương thức và chi phí TGPL trên thế giới, nên ở mỗi nước
Trang 14đều có quan niệm riêng của mình và được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau, nhưng nói chung các khái niệm của các nước đều thể hiện tính chính trị- pháp lý, nghề nghiệp, nhân đạo và tính kinh tế của hoạt động TGPL Chẳng hạn, dưới góc độ kinh tế mang tính nhân đạo, ở một số nước (như Đức) quan niệm TGPL là giúp đỡ một phần hoặc toàn bộ tài chính cho những người không có khả năng thanh toán cho các chi phí về tư vấn pháp luật, đại diện hoặc bào chữa trước tòa án Dưới góc độ pháp lý, theo pháp luật của Anh và xứ Wales thì TGPL là giúp đỡ pháp lý cho những người không có khả năng chi
trả cho việc tư vấn, hỗ trợ và đại diện pháp lý Điều 2 Đạo luật về đại diện và
tư vấn pháp lý 1995 của Singapore và Đạo luật số 26 của Malaysia về bảo trợ
tư pháp năm 1971 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 1992) cũng giải thích TGPL
theo nội hàm này Nhìn dưới góc độ mục đích của hoạt động TGPL, người Úc
cho rằng TGPL là sự giúp đỡ cho một người có được hoàn cảnh và điều kiện tương tự như người khác trong việc tiếp cận với pháp luật, tức là tạo ra sự
công bằng khi tiếp cận với pháp luật [42] Dưới góc độ chính trị, Mỹ, Trung
Quốc, Nga… cho TGPL là giải pháp yên lòng nhóm yếu thế, bần cùng, sử
dụng pháp luật làm công cụ để bảo vệ, nâng đỡ để tự tin, tự bảo vệ và vỗ về…
Nói chung, tính chính trị của TGPL thể hiện ở góc độ bảo đảm gỡ rối
và giải tỏa điểm nóng khiếu kiện; tính kinh tế thể hiện ở chỗ giúp đỡ cho đối tượng không có khả năng thanh toán cho các chi phí khi tiếp cận với dịch vụ pháp lý; tính pháp lý của TGPL thể hiện ở chỗ giúp đỡ đối tượng giải quyết các vụ, việc có liên quan đến pháp luật (luật nội dung và luật hình thức ); tính nhân đạo thể hiện ở góc độ đối tượng yếu thế trong xã hội được giúp đỡ theo cơ chế không phải hoàn trả lệ phí
Như vậy, khái niệm TGPL được quy định trong văn bản pháp luật của các nước nêu trên về cơ bản đều tương đối đồng nhất khi cho rằng TGPL là hoạt động giúp đỡ pháp luật cho người nghèo, người không có điều kiện về kinh tế để chi trả cho các dịch vụ pháp lý
Trang 15Trên cơ sở nghiên cứu những kinh nghiệm xây dựng tổ chức và hoạt động TGPL của các nước trên thế giới đã có từ hàng trăm năm nay và thực tiễn hoạt động TGPL ở Việt Nam trong thời gian qua, chúng ta có thể đưa ra quan niệm chung về TGPL một cách đầy đủ, thể hiện những đặc trưng cơ bản của nó Theo quan niệm chung hiện nay thì TGPL hiểu là sự giúp đỡ pháp lý miễn phí của Nhà nước và xã hội cho người nghèo, người có công với đất nước và các đối tượng khác theo quy định của pháp luật tiếp cận với các dịch vụ pháp lý (tư vấn pháp luật, đại diện, bào chữa, hòa giải ), nhằm bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật và thực hiện công bằng xã hội
Việc thành lập tổ chức TGPL ở Việt Nam năm 1997 là xuất phát từ chính những nguyên tắc Hiến định chủ quyền thuộc về nhân dân, mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật và bản chất của Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân Thuật ngữ "trợ giúp pháp lý" được sử dụng trong các sách, báo từ năm 1995, khi bắt đầu có nghiên cứu xây dựng Đề án hình thành
hệ thống TGPL ở Việt Nam và đã được sử dụng chính thức trong Quyết định
số 734/QĐ-TTg ngày 06/9/1997 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập
tổ chức TGPL cho người nghèo và đối tượng chính sách Đến nay, hệ thống văn bản pháp luật đề cập khá nhiều đến thuật ngữ "trợ giúp pháp lý"
Theo quy định tại Điều 3 Luật TGPL năm 2006 thì khái niệm TGPL được định nghĩa như sau:
Trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý giúp họ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng
xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật [40]
Có thể khẳng định rằng, khái niệm về TGPL ở Việt Nam theo quy định của Luật TGPL năm 2006 đã bao quát đầy đủ nội hàm của TGPL
Trang 16Đặc điểm trợ giúp pháp lý
Đặc điểm của hoạt động TGPL bao gồm: chủ thể thực hiện, đối tượng phục vụ, nguyên tắc hoạt động, hình thức thực hiện TGPL, phương thức TGPL, lĩnh vực TGPL, cụ thể như sau:
- Chủ thể thực hiện: Theo nghĩa rộng, chủ thể thực hiện TGPL gồm Nhà nước và xã hội; theo nghĩa hẹp thì chủ thể thực hiện TGPL là các tổ chức của Nhà nước (được giao nhiệm vụ thực hiện TGPL mà cụ thể là người thực hiện TGPL của Nhà nước) và các tổ chức xã hội hoặc cá nhân tự nguyện tham gia TGPL Hiện nay, ở Việt Nam, theo quy định pháp luật hiện hành chủ thể thực hiện TGPL bao gồm: Trung tâm TGPL nhà nước thông qua người thực hiện TGPL là trợ giúp viên pháp lý và cộng tác viên TGPL (cộng tác viên là luật sư và cộng tác viên không phải là luật sư); các tổ chức đăng ký tham gia TGPL (Văn phòng luật sư, Công ty luật, Trung tâm tư vấn pháp luật thuộc các
tổ chức chính trị - xã hội, chính trị xã hội - nghề nghiệp, xã hội - nghề nghiệp) thông qua các luật sư, tư vấn viên pháp luật thuộc các tổ chức này Các chủ thể trên trực tiếp tham gia vào việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí thông qua các vụ việc TGPL cụ thể
Ngoài ra, còn có chủ thể khác tham gia vào một hoặc một số hoạt động TGPL mà không phải trực tiếp cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí như:
Ủy ban nhân dân cấp huyện, xã, Phòng Tư pháp, cán bộ Tư pháp - Hộ tịch, cơ quan báo, đài phát thanh, truyền hình tham gia TGPL lưu động; thành viên Ban chủ nhiệm Câu lạc bộ TGPL; cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành
tố tụng phối hợp trong việc giải thích quyền được TGPL và cung cấp các thông tin TGPL cho các đương sự…
- Đối tượng phục vụ của hoạt động TGPL là người được hưởng các dịch vụ TGPL miễn phí Xuất phát từ mục đích, ý nghĩa và tính chất của hoạt động TGPL, không phải tất cả mọi người dân đều được hưởng dịch vụ TGPL
mà chỉ nhóm yếu thế mới được hưởng dịch vụ này Người được TGPL theo quy định tại Điều 10 của Luật TGPL bao gồm:
Trang 17Người nghèo là người thuộc hộ nghèo được xác định theo chuẩn nghèo
do Thủ tướng Chính phủ ban hành trong từng giai đoạn Hiện nay, hộ nghèo đang áp dụng theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011-
2015 thì hộ nghèo là những hộ có mức thu nhập bình quân đầu người dưới 400.000 đ/người/tháng ở nông thôn và 500.000 đồng trở xuống ở thành thị
Hộ nghèo được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận hộ nghèo (sổ hộ nghèo) để họ được hưởng các chính sách ưu đãi của nhà nước [21]
Người có công với cách mạng theo Pháp lệnh ưu đãi người có công
với cách mạng năm 2005 và đã được sửa đổi, bổ sung năm 2012 bao gồm những người sau:
+ Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945; người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945;
+ Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày; + Người có công giúp đỡ cách mạng bao gồm: Người được tặng Kỷ niệm chương "Tổ quốc ghi công" hoặc Bằng "Có công với nước"; người trong gia đình được tặng Kỷ niệm chương "Tổ quốc ghi công" hoặc Bằng "Có công với nước" trước Cách mạng tháng Tám năm 1945; người được tặng Huân chương kháng chiến hoặc Huy chương kháng chiến và người trong gia đình được tặng Huân chương kháng chiến hoặc Huy chương kháng chiến [45]
Trang 18Người già cô đơn không nơi nương tựa là những người từ 60 tuổi trở
lên, sống một mình và không có người chăm sóc, phụng dưỡng
Người tàn tật không nơi nương tựa là người bị khiếm khuyết một hay
nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn, người bị nhiễm chất độc hóa học, bị nhiễm HIV hoặc các bệnh khác làm mất khả năng dân sự mà không có ai nuôi dưỡng, chăm sóc
Trẻ em không nơi nương tựa là người dưới mười sáu tuổi, không có
gia đình hoặc bị gia đình bỏ rơi, tự kiếm sống hoặc có hoàn cảnh không bình thường về thể chất hoặc tinh thần, không đủ điều kiện để thực hiện các quyền
cơ bản và hòa nhập với gia đình, cộng đồng
Người dân tộc thiểu số thường trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội
đặc biệt khó khăn theo quy định của Chính phủ trong từng giai đoạn
Nạn nhân bị buôn bán là người bị xâm hại bởi hành vi mua, bán người
theo quy định tại Luật Phòng, chống mua bán người năm 2011
Các đối tượng khác được TGPL theo các quy định tại Công ước quốc
tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam là thành viên
- Nguyên tắc hoạt động TGPL: Đây là những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt hoạt động TGPL, là kim chỉ nam cho hoạt động TGPL buộc các chủ thể thực hiện TGPL phải tuân thủ trong quá trình TGPL Các nguyên tắc hoạt động TGPL bao gồm:
+ Không thu phí, lệ phí, thù lao từ người được TGPL: Theo nguyên tắc này, tổ chức thực hiện TGPL, người thực hiện TGPL không được thu phí,
lệ phí và nhận thù lao từ người được TGPL dưới bất kỳ hình thức nào, vật chất (tiền, tài sản, quà,…) hay tinh thần, tình cảm Người được TGPL không phải trả bất cứ một khoản lệ phí nào, kể cả phí in ấn tài liệu hay làm thủ tục TGPL
Trang 19+ Trung thực, tôn trọng sự thật khách quan: Khi thực hiện TGPL bằng các hình thức khác nhau, người thực hiện TGPL phải trung thực, chí công, vô
tư, tôn trọng sự thật khách quan; không bị tác động bởi bất cứ sức ép nào và không vì mục đích cá nhân ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được TGPL
+ Sử dụng các biện pháp phù hợp với quy định của pháp luật để bảo
vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của người được TGPL: Khi thực hiện TGPL, người thực hiện TGPL phải tận tâm, tận lực, có tinh thần trách nhiệm, coi việc TGPL cho người được TGPL như việc của mình Người thực hiện TGPL phải thực hiện tất cả quyền và nghĩa vụ của mình do pháp luật quy định, bằng tất cả kỹ năng và kinh nghiệm thực tiễn, đầu tư công sức, trí tuệ, không bỏ một công đoạn nào để tiến hành các hoạt động TGPL cho người được TGPL Chẳng hạn: Khi tham gia tố tụng, trợ giúp viên pháp lý phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của người bào chữa theo quy định của pháp luật tố tụng như gặp gỡ người làm chứng, xem xét hiện trường, thu thập chứng cứ để
có đầy đủ cơ sở, căn cứ bảo vệ tốt nhất cho người được TGPL Tuy nhiên, mặc dù lợi ích hợp pháp của người được TGPL là trên hết nhưng việc TGPL của người thực hiện phải phù hợp với pháp luật và quy tắc nghề nghiệp, không xúi giục người được TGPL làm trái quy định của pháp luật
+ Tuân thủ pháp luật và quy tắc nghề nghiệp TGPL: Trong quá trình thực hiện TGPL, tổ chức thực hiện TGPL, người thực hiện TGPL phải độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, quy tắc nghề nghiệp TGPL (là các chuẩn mực
về hành vi, ứng xử, cách thức tổ chức công việc, các yêu cầu nghiệp vụ và trách nhiệm cụ thể của tổ chức thực hiện TGPL, người thực hiện TGPL khi thực hiện TGPL) Người thực hiện TGPL phải thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật, chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép Nội dung TGPL phải phù hợp với pháp luật và đạo đức xã hội
+ Chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung TGPL: Việc thực hiện TGPL do người thực hiện TGPL chịu trách nhiệm cá nhân (Phiếu tư vấn do
Trang 20mình tự ký, khi tham gia tố tụng chịu trách nhiệm về tư cách tham gia của mình) Do đó, nếu TGPL sai thì tùy theo mức độ vi phạm mà người thực hiện TGPL bị xử lý theo quy định của pháp luật Trong trường hợp TGPL sai, gây thiệt hại cho người được TGPL thì người thực hiện TGPL phải bồi thường hoặc chịu trách nhiệm kỷ luật theo quy định của pháp luật
- Các hình thức cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí bao gồm: Tư vấn pháp luật (hướng dẫn, giải đáp, đưa ra ý kiến, cung cấp thông tin pháp luật, giúp soạn thảo văn bản liên quan đến vụ việc TGPL); tham gia tố tụng (tham gia tố tụng hình sự để bào chữa cho người được TGPL là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc để bảo vệ quyền lợi của người được TGPL là người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến
vụ án hình sự; tham gia tố tụng dân sự, tố tụng hành chính để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được TGPL trong vụ việc dân sự, vụ án hành chính); đại diện ngoài tố tụng (được thực hiện cho người được TGPL khi họ không thể tự bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của mình; việc đại diện ngoài tố tụng được thực hiện trong phạm vi yêu cầu của người được TGPL); các hình thức TGPL khác như: hòa giải, thực hiện những công việc liên quan đến thủ tục hành chính, khiếu nại và các hoạt động khác theo quy định của pháp luật Đây cũng là những nội dung thuộc dịch vụ pháp lý nói chung của luật sư Ngoài ra, còn có hoạt động kiến nghị thi hành pháp luật của Trung tâm TGPL nhà nước và Chi nhánh của Trung tâm nhằm bảo đảm thực hiện quyền và lợi ích hợp pháp của người dân Các tổ chức TGPL chỉ thực hiện các
vụ việc TGPL có liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của người được TGPL
- Lĩnh vực pháp luật được TGPL bao gồm: Pháp luật hình sự, tố tụng hình sự và thi hành án hình sự; pháp luật dân sự, tố tụng dân sự và thi hành án dân sự; pháp luật hôn nhân gia đình và pháp luật về trẻ em; pháp luật hành chính, khiếu nại, tố cáo và tố tụng hành chính; pháp luật đất đai, nhà ở, môi trường và bảo vệ người tiêu dùng; pháp luật lao động, việc làm, bảo hiểm; pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng và pháp luật về chính sách ưu
Trang 21đãi xã hội khác và các lĩnh vực pháp luật khác liên quan đến chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói, giảm nghèo hoặc liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân
- Phương thức thực hiện hoạt động TGPL: tại trụ sở của các tổ chức thực hiện TGPL, TGPL lưu động tại các xã, phường, thị trấn, Câu lạc bộ TGPL, sinh hoạt chuyên đề pháp luật, TGPL qua các phương tiện thông tin…
Ý nghĩa, vai trò của TGPL
Có thể nhận diện rõ hơn đặc điểm của TGPL ở Việt Nam qua phân tích về ý nghĩa, vai trò và đóng góp của hoạt động này:
Một là, chính sách TGPL đã và đang tạo sự chuyển biến tích cực trong
nhận thức của toàn xã hội về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của pháp luật trong bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người nghèo và người có hoàn cảnh đặc biệt khác, trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền, gắn tăng trưởng kinh tế với bảo đảm công bằng xã hội, hạn chế những vấn đề tiêu cực phát sinh từ nền kinh tế thị trường Từ chỗ TGPL ban đầu còn được coi là nhiệm vụ của riêng ngành Tư pháp, đến nay, công tác này được khẳng định thuộc trách nhiệm của Nhà nước và là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị Trong đó, Nhà nước giữ vai trò nòng cốt trong việc thực hiện và tổ chức thực hiện TGPL; khuyến khích, tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, tổ chức hành nghề luật sư và luật sư, cơ quan, tổ chức,
cá nhân khác tham gia, đóng góp, hỗ trợ hoạt động TGPL
Hai là, TGPL góp phần quan trọng vào công cuộc cải cách hành
chính, cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Công tác này không chỉ nâng cao ý thức pháp luật, trình độ dân trí pháp lý, tạo lập thói quen, nếp sống và làm việc theo pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được TGPL, tạo lập và củng cố niềm tin của nhân dân vào chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước mà còn tăng cường nhận thức trách nhiệm pháp lý
Trang 22của cán bộ, công chức đối với nhân dân Do đó, TGPL đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong đời sống pháp luật của xã hội Hoạt động này đã góp phần đưa pháp luật vào cuộc sống, trở thành cầu nối giữa Nhà nước với nhân dân, góp phần khắc phục những vướng mắc, bất cập trong hoạt động công vụ, giữ gìn trật tự an toàn xã hội và ổn định chính trị, giảm thiểu các khiếu kiện sai trái, vượt cấp Đồng thời, góp phần thực hiện chủ trương xóa đói, giảm nghèo toàn diện của Đảng ta cũng như tham gia tích cực vào các hoạt động thiết thực đền ơn, đáp nghĩa, giữ gìn đoàn kết cộng đồng, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật, thể hiện tính ưu việt của pháp luật và chế độ ta Từ đó, TGPL cũng hỗ trợ từng bước nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế trong việc bảo vệ nhân quyền, bảo đảm công lý trong phong trào giảm nghèo toàn cầu, phù hợp với
xu thế phát triển của thế giới
Ba là, TGPL góp phần thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế - xã
hội, giữ gìn ổn định trật tự xã hội ở các địa phương, góp phần giải quyết dứt điểm nhiều vụ việc khiếu kiện kéo dài hoặc liên quan đến quyền và lợi ích của nhiều người dân, giảm số vụ khiếu kiện không cần thiết, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân và uy tín của Nhà nước Nhiều Trung tâm TGPL nhà nước đã thực sự trở thành cầu nối tin cậy giữa chính quyền với người dân, giữa pháp luật với cuộc sống, tạo diễn đàn đối thoại để giải quyết các bất cập trong hoạt động công vụ, tăng niềm tin của người dân vào pháp luật Nhận thức của chính quyền các cấp về vị trí, vai trò, ý nghĩa của hoạt động TGPL
đã được nâng lên, chính quyền cơ sở ở hầu hết các nơi đã tích cực đề nghị hoặc tạo điều kiện để Trung tâm TGPL nhà nước tổ chức các hoạt động TGPL lưu động tại địa bàn, thành lập Câu lạc bộ TGPL ở cấp xã, tạo diễn đàn quan trọng cho người dân, góp phần tăng cường dân chủ ở cấp cơ sở, tăng tính công khai, minh bạch trong giải quyết các vụ việc của người dân
Bốn là, thông qua các vụ việc TGPL cụ thể, quyền và lợi ích hợp pháp
của nhiều người nghèo và các đối tượng yếu thế đã được bảo vệ kịp thời,
Trang 23người dân tin tưởng hơn vào công lý, công bằng cũng như chính sách, pháp luật của Nhà nước Nhiều người thuộc diện nghèo, yếu thế khi có vướng mắc pháp luật đã biết chủ động tìm đến tổ chức thực hiện TGPL thay vì sử dụng các biện pháp giải quyết bất hợp pháp (theo luật xã hội đen hoặc mua chuộc quan chức) Nhiều vụ được hòa giải thành trước khi phải đưa ra Tòa án đã giữ được tình đoàn kết cộng đồng, tình làng nghĩa xóm cho người dân, góp phần xây dựng điều kiện quan trọng để phát triển một nền văn hóa pháp lý và nếp sống văn minh tại cộng đồng TGPL còn góp phần quan trọng trong các chương trình xóa đói, giảm nghèo ở các địa phương, người dân được tư vấn các thủ tục pháp lý để vay vốn hoặc hưởng các chính sách ưu đãi khác để phát triển kinh tế gia đình, vươn lên thoát nghèo Việc các tổ chức thực hiện TGPL giải quyết kịp thời vướng mắc pháp luật của người được TGPL cũng giúp cho
họ tiết kiệm được đáng kể thời gian đi khiếu kiện để tập trung vào sản xuất, thúc đẩy kinh tế phát triển, ổn định trật tự xã hội
Năm là, TGPL góp phần vào quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật
Thông qua các vụ việc TGPL cụ thể, người thực hiện TGPL phát hiện ra các quy định pháp luật còn mâu thuẫn, chồng chéo và đề nghị tổ chức thực hiện TGPL kiến nghị đến các cơ quan có thẩm quyền để sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật có liên quan Hoạt động TGPL cũng góp phần quan trọng vào tiến trình cải cách tư pháp thông qua sự tham gia tố tụng của Trợ giúp viên pháp lý, luật sư là cộng tác viên TGPL - người thực hiện TGPL trong hoạt động tố tụng, tăng đáng kể số lượng vụ án được đưa ra xét xử với sự có mặt của người bào chữa, đại diện hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, thực hiện tranh tụng, góp phần nâng cao chất lượng xét xử
Sáu là, TGPL ra đời đã khắc phục một bước tình trạng thiếu luật sư
trong các vụ việc tranh tụng tại các cơ quan tiến hành tố tụng ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; tạo chuyển biến tích cực trong nhận thức của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng về vị trí, vai trò của người bào chữa, người bảo vệ
Trang 24quyền lợi trong các vụ việc tố tụng; đồng thời hỗ trợ tích cực cho công tác điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, bảo đảm giải quyết vụ án khách quan, công bằng, đúng pháp luật, góp phần thực hiện cải cách tư pháp theo chủ trương của Đảng trong Chiến lược cải cách tư pháp
1.1.2 Khái niệm Quỹ trợ giúp pháp lý Việt Nam
Theo Từ điển Tiếng Việt của tác giả Nguyễn Lân, thì khái niệm quỹ được định nghĩa là "số tiền bạc để dành lại để làm việc gì" [34, tr 1503] Xét
về góc độ là chủ thể trong các quan hệ pháp luật, Quỹ là tổ chức, đơn vị "giữ"
và "chi tiêu" tiền Nói đến Quỹ thường là nói đến vấn đề tài chính, Quỹ tài chính Quỹ tài chính có một số đặc điểm chính sau:
Một là, Quỹ là định chế tài chính do cơ quan nhà nước có thẩm quyền
thành lập hoặc do tổ chức phi chính phủ, cá nhân thành lập nhằm tập trung nguồn lực để đáp ứng một số nhiệm vụ chi được xác định
Hai là, các yếu tố cơ bản để hình thành một quỹ bao gồm: quyết định
thành lập của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; các nguồn thu theo quy định và được huy động nguồn thu để sử dụng cho một số nhiệm vụ chi theo quy định
Ba là, Quỹ có thể được hình thành ở Trung ương và địa phương, là
nguồn lực tài chính quan trọng của đất nước, có quan hệ mật thiết với ngân sách nhà nước và hỗ trợ ngân sách nhà nước sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của đất nước, góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế - xã hội Trong điều kiện hiện nay của Việt Nam, việc hình thành các quỹ là rất cần thiết nhằm huy động các nguồn lực đóng góp, hỗ trợ từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, tạo lập cơ chế linh hoạt cùng với ngân sách nhà nước để thực hiện kịp thời một số nhiệm vụ trọng yếu, bức thiết, bảo đảm an sinh xã hội, hỗ trợ người nghèo, người yếu thế trong xã hội…, góp phần ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, giảm bớt sự bao cấp từ ngân sách nhà nước
Trang 25Bốn là, các Quỹ hiện nay được thành lập theo nhiều văn bản quy
phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý khác nhau, có Quỹ thành lập theo Luật, Pháp lệnh, có Quỹ thành lập theo Nghị định hoặc Quyết định của Thủ tướng Chính phủ… Trong đó, các quỹ tài chính ở Trung ương hầu hết được quy định trong các văn bản Luật, Pháp lệnh, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập, sử dụng cho các mục tiêu chung của quốc gia hoặc của ngành, các quỹ tài chính ở địa phương do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập, quản lý và sử dụng cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội
ở địa phương
Năm là, cơ chế tài chính của Quỹ sẽ do Bộ chuyên ngành về tài chính
hướng dẫn thực hiện Các quỹ tài chính phải lập kế hoạch thu, chi tài chính quỹ hàng năm, báo cáo cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và thực hiện báo cáo quyết toán tài chính hàng năm
Quỹ tài chính có vai trò tác động tích cực đối với việc phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước thể hiện ở các mặt sau:
Thứ nhất, một số quỹ tài chính đã huy động bổ sung và tập trung
nguồn lực tài chính để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước: huy động đóng góp của các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, sự tài trợ của một số tổ chức, cá nhân quốc tế, qua đó động viên thêm nguồn tài chính để thực hiện một số mục tiêu của cộng đồng hoặc của ngành, lĩnh vực, thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội Trong điều kiện nguồn lực ngân sách nhà nước còn hạn chế thì việc tập trung một số nguồn thu riêng hoặc huy động thêm nguồn lực tài chính cho một số nhiệm vụ chi đã có tác động tích cực trong việc giải quyết một số nhiệm vụ quan trọng, các vấn đề an sinh xã hội Qua hoạt động của quỹ tài chính cùng góp phần thúc đẩy xã hội hóa, giải quyết có hiệu quả nhiều vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh, đặc biệt là các vấn đề xã hội bức xúc
Thứ hai, sự quản lý, điều hành các quỹ tài chính với cơ chế linh hoạt
đã kịp thời ứng phó với những tình huống đột xuất, yêu cầu cấp bách như
Trang 26những tác động bất lợi từ kinh tế, xã hội và thiên tai, dịch bệnh…, góp phần phát triển, mở rộng, đa dạng các hoạt động tài chính của nhà nước Thông qua hoạt động của quỹ tài chính, thị trường tài chính, thị trường tiền tệ phát triển, tạo dựng được nguồn vốn nhàn rỗi và tăng khả năng đối phó với các rủi ro
Quỹ TGPL Việt Nam là một trong những loại hình Quỹ tài chính, là tổ chức tài chính công; hoạt động không vì mục đích lợi nhuận được hình thành
từ các nguồn đóng góp tự nguyện, tài trợ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, ngân sách nhà nước và các nguồn hợp pháp khác để hỗ trợ nâng cao chất lượng hoạt động nghiệp vụ TGPL; hỗ trợ trang thiết bị, phương tiện làm việc cho tổ chức thực hiện TGPL ở các tỉnh thuộc diện ngân sách trung ương phải hỗ trợ, có khó khăn đột xuất và một số trường hợp đặc biệt khác
Có thể khẳng định rằng, việc thành lập Quỹ TGPL Việt Nam đã khẳng định chủ trương của ngành Tư pháp là hoàn toàn đúng đắn, chủ trương giúp người nghèo thoát nghèo về pháp luật bằng nhiều hình thức khác nhau: tư vấn, giúp đỡ pháp luật trực tiếp cho người nghèo, hỗ trợ nâng cao năng lực cho người thực hiện TGPL, hỗ trợ tài chính đối với các tổ chức thực hiện TGPL tại các địa phương còn khó khăn, cần ngân sách trung ương hỗ trợ giảm bớt áp lực ngân sách cho các địa phương này khi thực hiện các tác nghiệp cụ thể giúp cho người nghèo và các đối tượng chính sách tiếp cận pháp luật
Quỹ TGPL Việt Nam có một vai trò to lớn và có ý nghĩa quan trọng trong việc góp phần thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ của hoạt động TGPL, hạn chế sự phụ thuộc về hỗ trợ tài chính của nước ngoài đối với hoạt động TGPL ở Việt Nam Hoạt động của Quỹ TGPL còn góp phần giải quyết tình hình khó khăn về tài chính cho các tổ chức TGPL trong khi ngân sách của địa phương còn hạn chế Thông qua những nội dung hỗ trợ của Quỹ TGPL góp phần vào việc giúp các đối tượng được TGPL tiếp cận gần hơn với pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
Trang 27người dân, đối tượng yếu thế nhất là những đối tượng ở vùng sâu, vùng xa vùng đặc biệt khó khăn, vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số, qua đó nâng cao vị thế, vai trò của pháp luật trong quản lý xã hội, bảo vệ quyền công dân Tạo lập, củng cố và duy trì lòng tin của nhân dân vào đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước đề ra, góp phần khắc phục những vướng mắc, khiếu nại, tố cáo, khiếu kiện vượt cấp không đúng trình tự, thẩm quyền giải quyết Đồng thời, góp phần tạo ra sự đoàn kết, gắn bó giữa chính quyền địa phương với nhân dân, sự đoàn kết trong cộng đồng dân cư, đảm bảo việc thực hiện dân chủ ở cơ sở và ổn định trật tự ở địa phương
1.2 KHÁI QUÁT PHÁP LUẬT VỀ QUỸ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ Ở VIỆT NAM 1.2.1 Khái niệm pháp luật về Quỹ trợ giúp pháp lý ở Việt Nam Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí nhà nước của giai cấp thống trị trên
cơ sở ghi nhận các nhu cầu về lợi ích của toàn xã hội, được bảo đảm thực hiện bằng nhà nước nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội với mục đích trật tự và ổn định xã hội vì sự phát triển bền vững của xã hội [33, tr 288] Pháp luật ở Việt Nam thể hiện dưới hình thức văn bản quy phạm pháp luật Theo quy định tại khoản 1 Điều 1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 thì văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật, trong đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội
"Pháp luật về Quỹ" được hiểu là những quy định do cơ quan có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội có liên quan đến việc thu hút, huy động, quản lý và phân phối, sử dụng các nguồn lực tài chính của một lĩnh vực nào đó "Pháp luật về Quỹ trợ giúp pháp lý" là các quy định do các
cơ quan có thẩm quyền ban hành để điều chỉnh, quy định các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình hình thành, phát triển Quỹ, về tổ chức và hoạt động
Trang 28của Quỹ, việc huy động, thu hút, "nắm giữ", cấp phát, chi tiêu và kiểm tra, giám sát việc sử dụng nguồn tài chính của Quỹ TGPL Việt Nam
Pháp luật về Quỹ TGPL ở Việt Nam được xây dựng từ Luật TGPL năm 2006, Nghị định số 07/2007/NĐ-CP hướng dẫn một số điều của Luật TGPL, chiến lược phát triển hệ thống TGPL ở Việt Nam đến 2020, tầm nhìn đến năm
2030 Ngoài ra, các văn bản điều chỉnh về tổ chức và hoạt động của Quỹ bao gồm: 01 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ (Quyết định số 84/2008/QĐ-TTg ngày 30/6/2008 về việc thành lập Quỹ TGPL Việt Nam); 01 Thông tư của Bộ Tài chính (Thông tư số 174/2012/TT-BTC ngày 22/10/2012 hướng dẫn quản
lý tài chính đối với Quỹ TGPL Việt Nam); 01 Quyết định của Bộ trưởng Bộ
Tư pháp (Quyết định số 08/2008/QĐ-BTP ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Quỹ TGPL Việt Nam) Ngoài ra, thực hiện Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP ngày 28/12/2008 của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo đã có 01 Quyết định của Thủ tướng (Quyết đính số 52/2010/QĐ-TTg ngày 18/8/2010 về chính sách hỗ trợ pháp lý nhằm nâng cao nhận thức, hiểu biết pháp luật cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số tại các huyện nghèo giai đoạn 2011-2020);
02 Quyết định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp được ban hành có liên quan trực tiếp đến hoạt động của Quỹ TGPL Việt Nam (Quyết định số 2497/QĐ-BTP ngày 01/10/2010 ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Quyết định số 52/2010/QĐ-TTg và Quyết định số 4103/QĐ-BTP về lập, quản lý và sử dụng nguồn kinh phí thực hiện Quyết định số 52/2010/QĐ-TTg)
Nhìn chung, công tác xây dựng thể chế về Quỹ TGPL Việt Nam nằm trong tổng thể công tác xây dựng pháp luật về TGPL nói chung, công tác xây dựng gắn với công tác tổ chức thực hiện pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc sống Các văn bản này đều gắn với việc bảo đảm quyền được TGPL của công dân, bảo vệ các quyền con người, quyền công dân, đặc biệt là bảo vệ những đối tượng thuộc diện nghèo, yếu thế trong xã hội Vì vậy, khi đi vào cuộc sống đã có tác động mạnh mẽ đến tầng lớp dân nghèo, đối tượng yếu thế, nhất