Hoạt động xúc tiến thương mại đóng một vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp nói riêng và thị trường mua bán, trao đổi hàng hóa nói chung. Bài viết phân tích, làm rõ quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về hoạt động xúc tiến thương mại, từ đó liên hệ thực tiễn và đánh giá một số bất cập cũng như đề ra phương án hoàn thiện chế định này.
Trang 1MỤC LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO 2
PHẦN MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG CHÍNH 4
I Khái quát chung về hoạt động xúc tiến thương mại 4
1 Khái niệm chung về xúc tiến thương mại 4
2 Chủ thể hoạt động xúc tiến thương mại 4
3 Các hình thức xúc tiến thương mại của thương nhân 4
4 Vai trò của hoạt động xúc tiến thương mại 5
II Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về hoạt động xúc tiến thương mại 5
1 Quy định về hoạt động khuyến mại 5
2 Quy định về hoạt động quảng cáo thương mại 8
3 Quy định về hoạt động trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ 10
4 Quy định về hoạt động hội chợ, triển lãm thương mại 11
III Pháp luật về hoạt động xúc tiến thương mại tại Việt Nam hiện nay – một số bất cập và hướng hoàn thiện 13
1 Đối với hoạt động khuyến mại 13
2 Đối với hoạt động quảng cáo thương mại 14
3 Đối với hoạt động trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ 14
4 Đối với hoạt động hội chợ, triển lãm thương mại 15
PHẦN KẾT LUẬN 16
Trang 2TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Luật Thương mại năm 2005
2 Nghị định số 81/2018/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại
3 Luật Quảng cáo 2012
4 Trường ĐH Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Thương mại Tập 2, PGS.TS.
Nguyễn Viết Tý (chủ biên), Nxb CAND, Hà Nội, 2015
5 Nguyễn Thị Bích Hiệp, Hoạt động xúc tiến thương mại ở Việt Nam -Thực tiễn và hướng hoàn thiện, Luận văn tốt nghiệp
6 Thực trạng pháp luật về hoạt đông trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch
vụ và hội chợ, triển lãm thương mại ở Việt Nam và một số kiến nghị, Tiểu
luận Luật Thương mại, 2019
7 Pháp luật về khuyến mại, Tiểu luận Luật Thương mại,
https://thegioiluat.vn/bai-viet-hoc-thuat/Tieu-luan-luat-thuong-mai Phap-luat-ve-khuyen-mai-9295/, xem 02/05/2020
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với môi trường đầu
tư kinh doanh rộng mở đã và đang là điều kiện cực kì thuận lợi cho sự ra đời và phát triển của nhiều loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay Quyền tự do kinh doanh (quy định tại Điều 33 Hiến pháp 2013) cho phép mọi người tự do lựa chọn hình thức, ngành nghề kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật, tạo ra một hành lang pháp lý thông thoáng cho hoạt động đầu tư, sản xuất; đồng thời tất yếu dẫn đến sự trùng lặp trong lĩnh vực kinh doanh, thị trường của một số doanh nghiệp Như vậy, cạnh tranh là vấn đề không thể tránh khỏi
Trong cuộc ganh đua đó, các doanh nghiệp sẽ phải tìm cách để thu hút khách hàng, thúc đẩy cơ hội bán hàng và cung ứng dịch vụ như: tuyên truyền, giới thiệu về hàng hóa, dịch vụ; tổ chức bán hàng với mức giá ưu đãi; phát quà tặng… Những hoạt động này được gọi là xúc tiến thương mại, là hoạt động tất yếu của doanh nghiệp trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt trên thị trường
Có thể thấy hoạt động xúc tiến thương mại đóng một vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp nói riêng và thị trường mua bán, trao đổi hàng hóa nói chung Pháp luật Việt Nam hiện hành cũng đã có những quy định cụ thể về hoạt động xúc tiến thương mại tại Luật Thương mại
2005 (có hiệu lực ngày 01/01/2006); Nghị định số 81/2018/NĐ-CP quy định chi tiết luật thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại và Luật Quảng cáo 2012 Với mục đích, mong muốn có một cái nhìn sâu sắc, toàn diện hơn về quy định
của pháp luật đối với vấn đề này, người viết đã lựa chọn chủ đề “Pháp luật về hoạt động xúc tiến thương mại tại Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu.
Trong quá trình tìm hiểu đề tài chắc chắn không thể tránh khỏi sai sót, rất mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy/cô để đề tài có thể được hoàn thiện hơn!
Trang 4NỘI DUNG CHÍNH
I Khái quát chung về hoạt động xúc tiến thương mại
1 Khái niệm chung về xúc tiến thương mại
Dưới góc độ pháp lý, hoạt động xúc tiến thương mại được quy định cụ thể trong luật Thương mại Khoản 3 Điều 10 Luật Thương mại 2005 quy định:
“Xúc tiến thương mại là hoạt động thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội mua bán hàng hoá
và cung ứng dịch vụ, bao gồm hoạt động khuyến mại, quảng cáo thương mại, trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ và hội chợ, triển lãm thương mại” Đây
là định nghĩa duy nhất về xúc tiến thương mại trong pháp luật Việt Nam hiện nay
Bên cạnh việc tự mình tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội thương mại, thương nhân cũng có thể thông qua thương nhân khác thực hiện điều này, từ đó dẫn đến việc hình thành khái niệm dịch vụ xúc tiến thương mại Trong pháp luật thương mại, dịch vụ xúc tiến thương mại được hiểu là hoạt động kinh doanh, theo đó thương nhân thực hiện một hoặc một số hành vi nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội thương mại cho thương nhân khác để kiếm lời
2 Chủ thể hoạt động xúc tiến thương mại
Có thể chia các chủ thể tham gia vào hoạt động xúc tiến thương mại thành
ba nhóm: Chính phủ (hoàn thiện môi trường pháp lý, thành lập các cơ quan: Cục xúc tiến thương mại, Cơ quan đại diện thương mại Việt Nam ở nước ngoài…); Các tổ chức xúc tiến thương mại (Hiệp hội doanh nghiệp, Hiệp hội ngành hàng…) và thương nhân – chủ thể trực tiếp thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho mình Trong phạm vi bài viết, đối tượng nghiên cứu chủ yếu là hoạt động xúc tiến thương mại do thương nhân tiến hành
3 Các hình thức xúc tiến thương mại của thương nhân
Hiện nay các hình thức xúc tiến thương mại được thương nhân áp dụng rất
đa dạng, tuy nhiên theo khoản 10 Điều 3 Luật Thương mại 2005 quy định cụ thể xúc tiến thương mại bao gồm các hoạt động khuyến mại, quảng cáo thương mại,
Trang 5trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ và hội chợ, triển lãm thương mại Đây được xem là các hoạt động xúc tiến thương mại cơ bản ở Việt Nam, được các doanh nghiệp ưa chuộng và sử dụng nhiều vì những lợi ích nhất định của nó, mang lại cho doanh nghiệp khoản lợi nhuận lớn
4 Vai trò của hoạt động xúc tiến thương mại
Xúc tiến thương mại có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội, được thể hiện ở các khía cạnh khác nhau: thúc đẩy sự tiếp xúc giữa cung và cầu hàng hóa, dịch vụ trong từng khu vực, từng bộ phận và toàn bộ nền kinh tế; góp phần định hướng người tiêu dùng và nhà sản xuất; hình thành môi trường cạnh tranh lành mạnh, bảo vệ quyền lợi của các bên trong quan hệ thương mại; tạo cơ hội tăng trưởng cho nền kinh tế
II Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về hoạt động xúc tiến thương mại
1 Quy định về hoạt động khuyến mại
1.1 Khái niệm
“Khuyến mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân nhằm xúc tiến mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ bằng cách dành cho khách hàng những lợi ích nhất định” (Khoản 1 Điều 88 Luật Thương mại 2005) Theo đó,
khuyến mại là việc sử dụng hàng loạt biện pháp tác động đến lợi ích vật chất của khách hàng nhằm khuyến khích sự tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ Nó không gây ra thiệt hại cho nhà sản xuất hay người tiêu dùng, cả hai bên khi tham gia vào hoạt động này đều được hưởng những lợi ích nhất định
1.2 Nguyên tắc thực hiện
Để đảm bảo các hoạt động khuyến mại được tiến hành theo đúng pháp luật, Chính phủ đã đặt ra nguyên tắc thực hiện hoạt động này, quy định cụ thể tại Điều 3 Nghị định số 81/2018/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại, bao gồm một số nguyên tắc sau: Chương trình khuyến mại phải được thực hiện hợp pháp, trung thực, công khai, minh bạch và đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng, của các thương nhân, tổ
Trang 6chức hoặc cá nhân khác (khoản 1); Thương nhân thực hiện Chương trình khuyến mại phải bảo đảm những điều kiện thuận lợi cho khách hàng trúng thưởng nhận giải thưởng và có nghĩa vụ giải quyết các khiếu nại (nếu có) liên quan đến chương trình khuyến mại (khoản 2);…
1.3 Quyền và nghĩa vụ của thương nhân thực hiện khuyến mại
Thương nhân khi thực hiện hoạt động khuyến mại được hưởng những điều kiện quy định tại Điều 95 Luật Thương mại 2005 về quyền của thương nhân khi thực hiện khuyến mại chẳng hạn như lựa chọn hình thức, thời gian, địa điểm khuyến mại, hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại; thuê thương nhân kinh doanh dịch vụ khuyến mại thực hiện việc khuyến mại cho mình…
Song song đồng thời với quyền lợi được hưởng, thương nhân còn phải thực hiện nghĩa vụ quy định tại Điều 96 luật này: thực hiện đầy đủ các trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật để thực hiện các hình thức khuyến mại; tuân thủ các thỏa thuận trong hợp đồng dịch vụ khuyến mại nếu thương nhân thực hiện khuyến mại là thương nhân kinh doanh dịch vụ khuyến mại;…
1.4 Hàng hóa, dịch vụ khuyến mại
Khái niệm hàng hóa, dịch vụ khuyến mại được làm rõ tại Điều 93 Luật
Thương mại 2005: “Hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại là hàng hóa, dịch vụ được thương nhân sử dụng các hình thức khuyến mại để xúc tiến việc bán, cung ứng hàng hóa, dịch vụ đó” và phải được cho phép kinh doanh hợp pháp Quy
định về vấn đề này còn được làm rõ hơn tại Điều 5 Nghị định số
81/2018/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại
1.5 Các hình thức khuyến mại
Nghị định số 81/2018/NĐ-CP quy định cụ thể 08 hình thức khuyến mại như sau:
Điều 8 Đưa hàng mẫu, cung ứng dịch vụ mẫu để khách hàng dùng thử không phải trả tiền.
Điều 9 Tặng hàng hóa, cung ứng dịch vụ không thu tiền
Trang 7Điều 10 Bán hàng, cung ứng dịch vụ với giá thấp hơn giá bán hàng, cung ứng dịch vụ trước đó, được áp dụng trong thời gian khuyến mại đã thông báo (khuyến mại bằng hình thức giảm giá)
Điều 11 Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm theo phiếu mua hàng, phiếu
sử dụng dịch vụ
Điều 12 Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm theo phiếu dự thi cho khách hàng để chọn người trao thưởng theo thể lệ và giải thưởng đã công bố (hoặc các hình thức tổ chức thi và trao thưởng khác tương đương)
Điều 13 Bán hàng, cung ứng dịch vụ kèm theo việc tham dự các chương trình mang tính may rủi mà việc tham gia chương trình gắn liền với việc mua hàng hóa, dịch vụ và việc trúng thưởng dựa trên sự may mắn của người tham gia theo thể lệ và giải thưởng đã công bố (chương trình khuyến mại mang tính may rủi)
Điều 14 Tổ chức chương trình khách hàng thường xuyên, theo đó việc tặng thưởng cho khách hàng căn cứ trên số lượng hoặc trị giá mua hàng hóa, dịch vụ mà khách hàng thực hiện được thể hiện dưới hình thức thẻ khách hàng, phiếu ghi nhận sự mua hàng hóa, dịch vụ hoặc các hình thức khác
Điều 15 Khuyến mại hàng hóa, dịch vụ mà quá trình thực hiện có sử dụng internet, phương tiện, thiết bị điện tử, ứng dụng công nghệ thông tin
Ngoài ra thương nhân còn có thể sử dụng các hình thức khuyến mại khác trong khuôn khổ pháp luật quy định
1.6 Các hành vi bị cấm trong hoạt động khuyến mại
Để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, nhà sản xuất cũng như nhằm kiểm tra, giám sát hoạt động khuyến mại của thương nhân, Luật Thương mại
2005 đã quy định một số hành vi khuyến mại bị cấm tại Điều 100 như sau: khuyến mại cho hàng hoá, dịch vụ cấm/hạn chế/chưa được phép kinh doanh; khuyến mại hoặc sử dụng rượu, bia để khuyến mại cho người dưới 18 tuổi; hứa tặng, thưởng nhưng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng;…
Trang 82 Quy định về hoạt động quảng cáo thương mại
2.1 Khái niệm
Theo quy định tại Điều 102 Luật Thương mại 2005, “Quảng cáo thương mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân để giới thiệu với khách hàng về hoạt động kinh doanh hàng hoá, dịch vụ của mình” Trong khi đó, Luật Quảng cáo 2012 quy định “Quảng cáo là việc sử dụng các phương tiện nhằm giới thiệu đến công chúng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ có mục đích sinh lợi; sản phẩm, dịch vụ không có mục đích sinh lợi; tổ chức, cá nhân kinh doanh sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ được giới thiệu, trừ tin thời sự; chính sách xã hội; thông tin cá nhân” Như vậy, trong pháp luật hiện hành, quảng cáo thương mại
chỉ là một bộ phận của quảng cáo nói chung
2.2 Hàng hóa dịch vụ quảng cáo thương mại
Hàng hóa, dịch vụ là đối tượng của quảng cáo thương mại là hàng hóa, dịch vụ đang hoặc sẽ được thương nhân cung cấp trên thị trường, phải thuộc danh mục hàng hóa được phép lưu thông và thuộc phạm vi đăng kí kinh doanh của doanh nghiệp Thương nhân phải tuân thủ đúng quy định của pháp luật về quảng cáo, không được phép quảng cáo/ kinh doanh quảng cáo những sản phẩm quy định tại Điều 7 Luật Quảng cáo 2012
2.3 Sản phẩm và phương tiện quảng cáo
“Sản phẩm quảng cáo thương mại gồm những thông tin bằng hình ảnh, hành động, âm thanh, tiếng nói, chữ viết, biểu tượng, màu sắc, ánh sáng chứa đựng nội dung quảng cáo thương mại” (Điều 105 Luật Thương mại 2015) Quy định này được cụ thể hóa trong Luật Quảng cáo 2012, tại Điều 18 Tiếng nói, chữ viết trong quảng cáo và Điều 19 Yêu cầu đối với nội dung quảng cáo.
“Phương tiện quảng cáo thương mại là công cụ được sử dụng để giới thiệu các sản phẩm quảng cáo thương mại” (Khoản 1 Điều 106 Luật Thương mại
2015) Theo đó, phương tiện quảng cáo bao gồm tất cả những phương tiện có khả năng truyền tải thông tin đến công chúng như báo chí, trang thông tin điện
Trang 9tử, các sản phẩm in… (quy định tại Điều 17 Luật Quảng cáo 2012 và khoản 2 Điều 106 Luật Thương mại 2005)
2.4 Các chủ thể tham gia hoạt động quảng cáo
Hoạt động quảng cáo thương mại diễn ra với sự tham gia của nhiều chủ thể với những mục đích, cách thức và mức độ khác nhau Quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong hoạt động này được quy định trong Luật Quảng cáo 2012,
cụ thể:
Quyền và nghĩa vụ của người quảng cáo (quy định tại Điều 12)
Quyền và nghĩa vụ của người kinh doanh dịch vụ quảng cáo (quy định tại Điều 13)
Quyền và nghĩa vụ của người phát hành quảng cáo (quy định tại Điều 14) Quyền và nghĩa vụ của người cho thuê địa điểm, phương tiện quảng cáo (quy định tại Điều 15)
2.5 Hợp đồng dịch vụ quảng cáo thương mại
Hợp đồng dịch vụ quảng cáo thương mại chịu sự điều chỉnh của Luật Quảng cáo 2012 nói chung và Luật thương mại 2005 nói riêng, theo đó việc hợp tác giữa các chủ thể trong hoạt động quảng cáo phải thông qua hợp đồng dịch
vụ quảng cáo theo quy định của pháp luật, phải được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương
2.6 Các hoạt động quảng cáo thương mại bị cấm
Quảng cáo có thể mang lại cơ hội thương mại rất lớn cho thương nhân, đồng thời cũng gây ra nguy cơ làm giảm hoặc mất đi cơ hội của thương nhân khác Trên thực tế có không ít trường hợp thương nhân lợi dụng quyền quảng cáo của mình để hạ thấp uy tín của đối thủ, tạo ra một môi trường cạnh tranh thiếu lành mạnh Do đó, để đảm bảo trật tự thương mại trong xúc tiến thương mại, pháp luật Việt Nam nghiêm cấm những hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh theo quy định của pháp luật, chẳng hạn như quảng cáo sai sự thật, thiếu thẩm mỹ, trái với truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức, thuần
Trang 10phong mỹ tục… (quy định cụ thể tại Điều 8 Luật Quảng cáo và Điều 109 Luật Thương mại 2005)
3 Quy định về hoạt động trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ
3.1 Khái niệm
“Trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân dùng hàng hoá, dịch vụ và tài liệu về hàng hoá, dịch vụ để giới thiệu với khách hàng về hàng hoá, dịch vụ đó” (Điều 117 Luật Thương mại
2005) Theo đó, chủ thể trưng bày, giới thiệu hàng hóa trong thương mại là thương nhân, dùng hàng hóa, dịch vụ và các tài liệu kèm theo để cung cấp cho khách hàng thông tin về kiểu dáng, chất lượng, chủng loại, giá cả… nhằm kích thích nhu cầu mua sắm, xúc tiến cơ hội bán hàng
3.2 Hợp đồng dịch vụ trưng bày, giới thiệu hàng hóa
Việc thuê dịch vụ trưng bày giới thiệu hàng hóa phải được xác lập bằng hợp đồng, trong đó chứa đựng sự thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ của các bên
và mang một số đặc trưng nhất định Về chủ thể, bên thuê dich vụ và bên kinh doanh dịch vụ đều là thương nhân Về hình thức, “hợp đồng dịch vụ trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ phải được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương” (Điều 124 Luật Thương mại 2005) Về nội dung, hợp đồng dịch vụ trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ cần có các điều
khoản chủ yếu như sau: tên, địa chỉ các bên tham gia hợp đồng; hàng hóa trưng bày, giới thiệu; nội dung, hình thức, địa điểm, thời gian tiến hành; phí dịch vụ
và các chi phí khác; quyền và nghĩa vụ của các bên (quy định lần lượt tại các Điều 125; 126; 127; 128 Luật Thương mại 2005);…
3.3 Hàng hóa, dịch vụ trưng bày và các trường hợp cấm trưng bày, giới thiệu hàng hóa
Hàng hóa, dịch vụ để được trưng bày, giới thiệu phải đáp ứng các điều kiện sau: phải là những hàng hoá, dịch vụ kinh doanh hợp pháp trên thị trường; phải tuân thủ các quy định của pháp luật về chất lượng hàng hóa và ghi nhãn hàng hoá (Điều 121 Luật Thương mại 2005) Ngoài ra, đối với hàng hoá nhập khẩu