Khái niệm Theo khoản 11 điều 3 Luật Thương mại năm 2005 ở Việt Nam: “Các hoạt động trung gian thương mại là hoạt động của thương nhân để thực hiện các giao dịch thương mại cho một hoặc
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT -0-0 -
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
MÔN LUẬT THƯƠNG MẠI 2
Đề tài: Pháp luật về trung gian thương mại
Họ và tên: Nguyễn Hồng Hà
Mã sinh viên: 19061088
Lớp: K64A Lớp học phần: BSL2002 3 Giảng viên: TS Hồ Ngọc Hiển
ThS Nguyễn Đăng Duy
Hà Nội – 2022
Trang 22
MỤC LỤC
6 Các bất cập trong quy định pháp luật hiện hành và đề xuất giải
pháp hoàn thiện pháp luật
10
Trang 33
A MỞ ĐẦU
Trong lĩnh vực kinh doanh, việc mua bán, trao đổi hàng hóa, chất lượng dịch vụ luôn là vấn đề mà mọi thương nhân đều quan tâm, điều đó ảnh hưởng tới cuộc sống
và công việc kinh doanh của họ Khi hoạt động kinh doanh này ngày càng phát triển,
mở rộng thì cũng đồng nghĩa với việc thương nhân không thể tự mình giao dịch hết với tất cả các khách hàng Lúc này, họ cần đến sự hỗ trợ của các trung gian thương mại và nhờ có các trung gian thương mại, việc kinh doanh của họ diễn ra thuận tiện, nhanh chóng hơn Việc phát triển các hoạt động trung gian thương mại như hiện nay cũng đồng thời phát triển các hoạt động thương mại, phát triển về các quan hệ và vấn
đề kinh tế, xã hội Bên cạnh đó, hoạt động trung gian thương mại tuy có nhiều thuận lợi nhưng cũng gặp không ít những bất cập, những vấn đề khúc mắc làm cho những người thực hiện hoạt động này gặp khó khăn, trở ngại
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, em chọn đề tài “Pháp luật về trung gian thương mại” làm đề tài tiểu luận kết thúc học phần và sử dụng phương pháp phân tích, so sánh nhằm phân tích, đánh giá, lý giải các vấn đề liên quan trực tiếp đến đề tài dựa trên cơ sở việc thu thập, xử lý thông tin
Trang 44
B NỘI DUNG
1 Khái niệm
Theo khoản 11 điều 3 Luật Thương mại năm 2005 ở Việt Nam: “Các hoạt động
trung gian thương mại là hoạt động của thương nhân để thực hiện các giao dịch thương mại cho một hoặc một số thương nhân được xác định, bao gồm hoạt động đại diện cho thương nhân, môi giới thương mại, ủy thác mua bán hàng hóa và đại lý thương mại.”
2 Bản chất hoạt động trung gian thương mại
Căn cứ vào định nghĩa về hoạt động trung gian thương mại và các điều khoản quy định tại chương V Luật thương mại 2005, có thể thấy hoạt động trung gian thương mại theo pháp luật Việt Nam có bản chất như sau:
Thứ nhất, hoạt động trung gian thương mại là loại hoạt động cung ứng dịch vụ
thương mại do bên trung gian thực hiện vì lợi ích của bên thuê dịch vụ để nhận thù lao
Thứ hai, trong hoạt động dịch vụ trung gian thương mại, bên trung gian là thương
nhân độc lập, có tư cách pháp lý độc lập
Thứ ba, trong hoạt động dịch vụ trung gian thương mại tồn tại hai mối quan hệ:
quan hệ giữa bên ủy nhiệm và bên được ủy nhiệm; mối quan hệ giữa bên được ủy nhiệm (hoặc bên ủy nhiệm) và bên thứ ba Các mối quan hệ này phát sinh trên cơ sở hợp đồng
Bản chất pháp lý của các hoạt động trung gian thương mại có ý nghĩa trong việc xác định những dấu hiệu pháp lý đặc trưng của hoạt động này, giúp chúng ta phân biệt hoạt động trung gian thương mại với các hoạt động khác Từ đó, pháp luật có những quy định điều chỉnh phù hợp với đặc điểm của các hoạt động này, tạo điều kiện cho chúng hình thành và phát triển
Trang 55
3 Các loại trung gian thương mại
Chương V Luật thương mại năm 2005 của Việt Nam quy định các hoạt động trung gian thương mại được phân chia thành bốn loại: đại diện cho thương nhân, môi giới thương mại, uỷ thác mua bán hàng hoá và đại lý thương mại
3.1 Đại diện cho thương nhân
Đây là hình thức trung gian thương mại phổ biến nhất trên thế giới Theo Điều
141 Luật thương mại 2005: “Đại diện cho thương nhân là việc một thương nhân
nhận ủy nhiệm (gọi là bên đại diện) của thương nhân khác (gọi là bên giao đại diện)
để thực hiện các hoạt động thương mại với danh nghĩa, theo sự chỉ dẫn của thương nhân đó và được hưởng thù lao về việc đại diện”
Hình thức đại diện cho thương nhân gồm các đặc điểm nổi bật như sau:
Thứ nhất, chủ thể chính bao gồm bên giao đại diện và bên đại diện
Thứ hai, hai bên chủ thể đều phải là thương nhân
Thứ ba, trong quan hệ đại diện, người làm đại diện phải giao dịch với bên thứ ba
trên danh nghĩa của bên giao đại diện và phải thực hiện theo sự chỉ dẫn của bên giao đại diện
Thứ tư, các bên có thể thỏa thuận về phạm vi của việc đại diện cũng như bên đại
diện có thể thực hiện một phần hoặc toàn bộ hoạt động thương mại trong phạm vi hoạt động của bên giao đại diện
Thứ năm, hợp đồng phải được thể hiện bằng văn bản hoặc các hình thức khác có
giá trị tương đương
3.2 Môi giới thương mại
Điều 150 Luật thương mại 2005 quy định khái niệm về môi giới trong trung gian
thương mại như sau: “Môi giới thương mại là hoạt động thương mại, theo đó một
Trang 66
thương nhân làm trung gian (gọi là bên môi giới) cho các bên mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ (gọi là bên được môi giới) trong việc đàm phán, giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá, dịch vụ và được hưởng thù lao theo hợp đồng môi giới.”
Môi giới thương mại gồm các đặc điểm chính như sau:
Thứ nhất, quan hệ giữa bên ủy thác và bên môi giới là quan hệ hợp đồng ngắn
hạn và riêng biệt giữa các lần hợp tác Theo quy định như trên, trung gian thương mại là cầu nối giữa bên mua và bên bán và chỉ có chuyên môn về một lĩnh vực nhất định Họ có thể hợp tác với nhiều khách hàng khác nhau và chỉ hợp tác trong những
trường hợp, hoàn cảnh cần thiết Ví dụ, khi cần gấp một số lượng xe tải chuyên chở
hàng lớn, người xuất nhập khẩu có thể tìm đến bên trung gian để thuê cho đủ với số lượng cần thiết tuy nhiên không phải lúc nào cũng cần một số lượng xe nhiều như vậy Chính vì thế, họ sẽ chỉ hợp tác với nhau trong trường hợp cần thiết và cụ thể Thứ hai, bên môi giới không đại diện quyền lợi cho bên nào Có thể nói rằng bên
môi giới là một bên trung gian đơn thuần giữa hai bên mua và bán nên họ không đại diện quyền lợi của ai
Thứ ba, người môi giới chỉ tham gia vào việc thực hiện hợp đồng giữa các bên
khi được bên môi giới cho phép bằng giấy ủy quyền Họ có thể tham gia vào các công việc tương ứng với các lĩnh vực
3.3 Ủy thác mua bán hàng hóa
“Ủy thác mua bán hàng hoa là hoạt động thương mại, theo đó bên nhận ủy thác
thực hiện việc mua bán hàng hóa với danh nghĩa của mình theo những điều kiện đã thỏa thuận với bên ủy thác và được nhận thù lao ủy thác”1
Ủy thác mua bán hàng hóa gồm 4 đặc điểm chính:
1 Điều 155 Luật thương mại 2005
Trang 77
Thứ nhất, chủ thể là bên ủy thác và bên nhận ủy thác
Thứ hai, cũng theo luật thương mại quy định: “Bên ủy thác có thể là thương nhân
hoặc không phải là thương nhân Bên nhận ủy thác sử dụng danh nghĩa của chính mình để mua hoặc bán hàng hóa thay cho bên ủy thác Đồng thời, bên ủy thác không được quyền ủy thác lại cho bên thứ ba thực hiện hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa nếu như không có sự đồng ý của bên ủy thác (bằng văn bản)”
Thứ ba, bên nhận ủy thác chỉ thực hiện công việc trao đổi hàng hóa trong phạm
vi được ủy thác
Thứ tư, hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa bắt buộc phải được thực hiện trên cơ
sở hợp đồng lập bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương
3.4 Đại lý thương mại
“Đại lý thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên giao đại lý và bên đại
lý thỏa thuận việc bên đại lý nhân danh chính mình mua, bán hàng hóa cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng để hưởng thù lao.”2
Đại lý thương mại có những đặc điểm như sau:
Thứ nhất, đại lý được quyền đứng tên trong hợp đồng Họ có thể thay mặt người
ủy quyền xử lý mọi vấn đề có liên quan đến mua bán, trao đổi hàng hóa với khách hàng vì họ đã trở thành chủ thể của hợp đồng mua bán, cung ứng dịch vụ
Thứ hai, quan hệ giữa người đại lý và người ủy thác là quan hệ hợp đồng dài hạn
Đây chính là điểm khác biệt cơ bản giữa môi giới thương mại và đại lý thương mại
Thứ ba, bên ủy thác chính là người chủ sở hữu về hàng hóa hay tiền tệ đã được
giao cho người đại lý
2 Theo Điều 166 Luật thương mại 2005
Trang 88
Đại lý trong trung gian thương mại chia làm 4 loại gồm: đại lý bao tiêu, đại lý độc quyền, tổng đại lý, các loại đại lý khác
4 Phân biệt các loại trung gian thương mại
4.1 Điểm chung của 4 loại hình trung gian thương mại
Thứ nhất, hoạt động trung gian thương mại là tất cả các loại hoạt động nhằm cung
ứng dịch vụ thương mại được thực hiện theo phương thức giao dịch trung gian Người trung gian được bên thuê dịch vụ ủy quyền tham gia xác lập, thực hiện các giao dịch thương mại với bên thứ ba vì lợi ích của bên thuê dịch vụ để nhận thù lao
Thứ hai, các hoạt động trung gian thương mại được thực hiện trong các lĩnh vực
thương mại
Thứ ba, trong hoạt động trung gian thương mại, bên trung gian phải có tư cách
pháp lý độc lập với bên thuê dịch vụ và bên thứ ba
Thứ tư, trong hoạt động dịch vụ trung gian thương mại tồn tại hai mối quan hệ:
quan hệ giữa bên ủy nhiệm và bên được ủy nhiệm; mối quan hệ giữa bên được ủy nhiệm (hoặc bên ủy nhiệm) và bên thứ ba Các mối quan hệ này phát sinh trên cơ sở hợp đồng
4.2 Điểm khác biệt của 4 loại hình trung gian thương mại
Trong hoạt động môi giới thương mại, bên môi giới chỉ đóng vai trò trung gian tạo điều kiện cho các bên liên hệ với nhau chứ không tham gia giao kết hoặc tham gia thực hiện hợp đồng, giao dịch giữa các bên, không đại diện cho lợi ích của bên nào, cũng không có tên trên hợp đồng mua bán và cung cấp dịch vụ Còn trong hoạt động đại diện cho thương nhân, bên đại diện được bên giao đại diện ủy quyền thực hiện các hoạt động thương mại với danh nghĩa bên giao đại diện Trong hoạt động
ủy thác mua bán hàng hóa, bên nhận ủy thác được nhân danh mình tham gia mua bán hàng hóa với bên thứ ba Hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa chỉ áp dụng trong lĩnh
Trang 99
vực mua bán hàng hóa (không áp dụng cho dịch vụ) Và trong đại lý thương mại, bên đại lý là chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ, là bên đứng tên trên hợp đồng mua bán, cung ứng dịch vụ Tuy nhiên, hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa có một số điểm khác biệt so với hoạt động đại lý thương mại: Một là, quan
hệ ủy thác thường phát sinh trong từng trường hợp cụ thể, thời gian không dài và bên
ủy thác sẽ ít quyền kiểm soát hoạt động của bên nhận ủy thác hơn so với bên giao đại lý trong quan hệ đại lý thương mại; hai là theo Luật thương mại Việt Nam, hoạt động ủy thác chỉ thực hiện trong lĩnh vực mua bán hàng hóa, còn đại lý thương mại được thực hiện trong tất cả các lĩnh vực hoạt động thương mại
5 Các vấn đề pháp lý về trung gian thương mại
Thứ nhất, cơ sở pháp lý của hoạt động trung gian thương mại là hợp đồng do các
bên thoả thuận Trong hoạt động trung gian thương mại, giữa bên cung ứng dịch vụ
và bên thuê dịch vụ thường có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và phát sinh trên cơ sở hợp đồng bao gồm hợp đồng đại diện của thương nhân, hợp đồng môi giới thương mại, hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa, hợp đồng đại lý thương mại Các hợp đồng này đều có tính chất song vụ (quyền của một bên là nghĩa vụ của bên kia), thỏa thuận
và có tính chất đền bù Theo Điều 142, 159, 168 Luật Thương mại năm 2005 các hợp đồng đại diện cho thương nhân, hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa, hợp đồng đại
lý phải được lập thành văn bản hoặc các hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương như: điện báo, fax, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác theo quy định của pháp luật Như vậy, các thỏa thuận trong các loại hợp đồng trên không thể giao kết bằng miệng Tuy nhiên, đối với hợp đồng môi giới, Luật Thương mại 2005 không quy định về hình thức của loại hợp đồng này nên theo quy định của Luật Thương mại 2005, hợp đồng môi giới có thể được thể hiện bằng lời nói hoặc văn bản hoặc thiết lập bằng hành vi cụ thể
Thứ hai, căn cứ vào các quy định trong chương V của Luật Thương mại năm 2005
thì đặc điểm chung về chủ thể trong các hoạt động trung gian thương mại đó là, bên
Trang 1010
trung gian phải là thương nhân, có tư cách pháp lý độc lập với bên thuê dịch vụ và bên thứ ba Có nghĩa là bên đại diện, bên môi giới, bên nhận ủy thác, bên đại lý đều phải là thương nhân Theo khoản 1 Điều 6 Luật Thương mại năm 2005 thì thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thương xuyên và có đăng kí kinh doanh
6 Các bất cập trong quy định pháp luật hiện hành và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật
6.1 Các bất cập trong quy định pháp luật hiện hành
Thứ nhất, theo quy định của Luật thương mại năm 2005 thì “thương nhân bao
gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một
doanh” là điều kiện đủ để trở thành thương nhân Tuy nhiên, luật thương mại 2005
lại quy định “đăng kí kinh doanh là một nghĩa vụ của thương nhân, trường hợp chưa đăng kí kinh doanh, thương nhân vẫn chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của mình
đăng kí kinh doanh với hình thành nên thương nhân” nhưng Điều 7 thì lại quy định
“có loại thương nhân chưa có đăng kí kinh doanh” nên Điều 6 và Điều 7 có mâu thuẫn với nhau
Thứ hai, Chính phủ đã ban hành nhiều Nghị định hướng dẫn thực thi Luật thương
mại năm 2005 nhưng không có văn bản dưới luật nào hướng dẫn thực hiện riêng các quy định về hoạt động trung gian thương mại Điều này phần nào cho thấy khung pháp luật chung cho hoạt động trung gian thương mại là chưa đầy đủ Các quy định
về hoạt động trung gian thương mại chưa hệ thống, chỉ nằm rải rác trong một số văn bản, gây khó khăn trong quá trình thực thiện
3 Điều 6 Luật thương mại 2005
4 Điều 7 Luật thương mại 2005
Trang 1111
Thứ ba, theo quy định tại Điều 3 Khoản 11 của Luật thương mại 2005, trung gian
thương mại là hoạt động của thương nhân để thực hiện các giao dịch thương mại cho một hoặc một số thương nhân được xác định tức là trong quan hệ trung gian thương mại, cả bên thuê trung gian và bên trung gian đều phải là thương nhân Nhưng tại các quy định riêng về các loại hình trung gian thương mại thì không thể hiện rõ điều ấy nên trong thực tiễn, quan hệ trung gian thương mại vẫn có sự tham gia của các chủ thể không phải là thương nhân Vì vậy, cần quy định thêm về điều kiện chủ thể tham gia hoạt động trung gian thương mại
Thứ tư, theo Luật thương mại 2005, bên giao đại diện có thể ủy quyền cho bên
đại diện thực hiện các hoạt động thương mại trong phạm vi các hoạt động kinh doanh của mình, từ mua bán hàng hóa, thực hiện các dịch vụ,… và các hoạt động sinh lời khác Vậy trong trường hợp thương nhân giao đại diện ủy quyền cho bên đại diện thực hiện hoạt động trong các lĩnh vực hạn chế kinh doanh là lĩnh vực mà bên giao đại diện đủ điều kiện để được phép kinh doanh, thì bên đại diện có cần đáp ứng các điều kiện kinh doanh trong các lĩnh vực hạn chế này không? Vấn đề này Luật thương
mại cùng với Nghị định 59/2006/NĐ-CP hướng dẫn Luật thương mại về hàng hóa,
dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện chưa làm
rõ, còn quy định chung chung dẫn đến có các cách hiểu khác nhau Có thể hiểu là bên đại diện phải đáp ứng các điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực hạn chế kinh doanh thì mới được phép thực hiện các hoạt động thương mại mà bên giao đại diện
ủy quyền hay bên đại diện thực hiện hoạt động thương mại trên danh nghĩa người
giao đại diện cho nên bên đại diện không cần thiết phải đáp ứng các điều kiện nêu trên
6.2 Đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật
Thứ nhất, các nhà làm luật cần ban hành Nghị định riêng về hoạt động trung gian
thương mại một cách đầy đủ, chi tiết, cụ thể để thuận lợi cho việc hiểu và sử dụng pháp luật