Lời mở đầu Chế tài trong Luật Thương mại có thể được hiểu một cách chung nhất là hậu quả pháp lý bất lợi mà bên vi phạm hợp đồng phải gánh chịu theo thỏa thuận của các bên hoặc do luật đ
Trang 1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
-🙞🙜🕮🙞🙜 -
TIỂU LUẬN CUỐI KỲ CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM THEO LUẬT THƯƠNG MẠI
2005 LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
Họ và tên: Ngô Văn Quyền MSV: 19061299
Môn Học: Thương Mại 2 Giảng viên: TS Hồ Ngọc Hiển
Hà Nội, 2021
Trang 2MỤC LỤC
Lời mở đầu 1
I Tổng quan về chế tài phạt vi phạm 2
1.1 Khái niệm chế tài phạt vi phạm 2
1.2 Điều kiện áp dụng chế tài phạt vi phạm 3
1.3 Mối quan hệ giữa chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại 5
II Một số bất cập trong việc áp dụng chế tài phạt vi phạm 6
2.1 Về mức phạt vi phạm 6
2.2 Về các trường hợp miễn trách do hành vi vi phạm 8
III Giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật về chế tài phạt vi phạm 10
3.1 Về quy định mức phạt vi phạm 10
3.2 Về các trường hợp miễn trách 12
KẾT LUẬN 13
TÀI LIỆU THAM KHẢO 14
Trang 3Lời mở đầu
Chế tài trong Luật Thương mại có thể được hiểu một cách chung nhất là hậu quả pháp lý bất lợi mà bên vi phạm hợp đồng phải gánh chịu theo thỏa thuận của các bên hoặc do luật định Đây là biện pháp đặt ra nhằm mục đích phòng ngừa và răn đe những bên có hành vi vi phạm, nhất là trong quan hệ hợp đồng khi một bên hoặc các bên không thực hiện hay thực hiện không đúng nghĩa vụ trong hợp đồng thường xuyên diễn
ra
Luật Thương mại 2005 với tư cách là đạo luật chuyên ngành đã liệt kê 06 loại chế tài thương mại1, trong đó có phạt vi phạm Phạt vi phạm là một trong những chế tài được áp dụng phổ biến nhất trong quan hệ hợp đồng, là biện pháp phòng ngừa vi phạm hợp đồng, góp phần thúc đẩy các quan hệ hợp đồng trong kinh doanh, thương mại phát triển Tuy nhiên, trên thực tế các quy định về chế tài phạt vi phạm giữa BLDS 2015 và luật Thương mại 2005 còn có nhiều điểm chưa thống nhất, dẫn việc áp dụng các quy định của pháp luật liên quan đến chế tài này và các căn cứ miễn trách nhiệm khi có vi phạm xảy ra tồn tại nhiều bất cập, vướng mắc Điều này đã gây ảnh hưởng đến quyền
và lợi ích chính đáng của các chủ thể tham gia vào quan hệ thương mại cũng như những khó khăn, lúng túng trong việc xử lý các tranh chấp vi phạm xảy ra trong hoạt động kinh doanh thương mại
Từ những phân tích trên, sinh viên đã lựa chọn chủ đề “Chế tài phạt vi phạm theo
luật Thương mại 2005 lý luận và thực tiễn áp dụng” làm đề tài tiểu luận kết thúc môn
học Nội dung bài tiểu luận nhằm làm rõ nội hàm của chế tài phạt vi phạm theo các quy định của pháp luật Việt Nam, phân tích những đặc điểm, những hạn chế trong thực tiễn
áp dụng đồng thời đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật Thương mại về chế tài phạt vi phạm
Trang 4
I Tổng quan về chế tài phạt vi phạm
1.1 Khái niệm chế tài phạt vi phạm
Trên thế giới hiện nay, ở các hệ thống pháp luật khác nhau lại có những quan điểm khác nhau về chế tài phạt vi phạm Trong khi các nước theo hệ thống pháp luật Civil Law đều ghi nhận và áp dụng chế tài này thì ở các nước theo hệ thống pháp luật Anh – Mỹ lại cho rằng các biện pháp pháp lý trong lĩnh vực dân sự chỉ có thể mang tính
chất đền bù (damages) và không mang tính chất trừng phạt bên vi phạm nghĩa vụ, do
đó không thừa nhận chế tài này
Trong khi đó ở Việt Nam, phạt vi phạm là chế tài được áp dụng phổ biến trong quan hệ hợp đồng, các quy định về phạt vi phạm đã sớm được ghi nhận trong các văn bản như Luật thương mại năm 1997, Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 và Bộ luật Dân sự 2005, 2015 và Luật thương mại 2005 Theo Điều 418, Bộ luật Dân sự năm
2015 định nghĩa: “Phạt vi phạm là sự thoả thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo
đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm”
Theo quy định tại Điều 300 Luật Thương mại năm 2005: “Phạt vi phạm là việc
bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm phải trả một khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong các trường hợp có thoả thuận, trừ trường hợp hành vi này thuộc một trong các trường hợp được miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật Thương mại năm 2005”
Từ hai khái niệm trên cho thấy BLDS 2015 và Luật Thương mại 2005 đều có cách tiếp cận về chế tài phạt vi phạm là hậu quả pháp lý bất lợi mà một bên hoặc các bên trong quan hệ hợp đồng phải gánh chịu khi có hành vi vi phạm hợp đồng xảy ra Theo
đó, trong hợp đồng thương mại nếu: “một bên không thực hiện, thực hiện không đầy
đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thoả thuận giữa các bên hoặc theo quy định của Luật này”2 được quy định là vi phạm hợp đồng Khi có hành vi vi phạm hợp đồng xảy ra, khiến mục đích của các bên không đạt được thậm chí còn gây thiệt hại cho bên còn lại Trên cơ sở nguyên tắc thiện chí, cũng như để đảm bảo lợi ích của các
Trang 5
bên thì trách nhiệm pháp lý đối với bên vi phạm được đặt ra, trong đó bao gồm phạt vi phạm và các loại chế tài khác
Như vậy, khi có hành vi vi phạm hợp đồng xảy ra và “không thuộc các trường
hợp được miễn trách quy định tại Điều 294” thì bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bên
vi phạm nghĩa vụ phải trả một số tiền đã được ấn định trước cho bên bị vi phạm theo thoả thuận của các bên mà không phụ thuộc đến các yếu tố liệu rằng hành vi vi phạm
đó có gây thiệt hại đối với bên bị vi phạm hay không Đây có thể được xem như một thứ hình phạt trong lĩnh vực dân sự, đặc biệt trong trường hợp mức phạt mà các bên ấn định lớn hơn giá trị của hợp đồng3.Trong trường hợp bên vi phạm không thực hiện nghĩa vụ trả tiền phạt, bên bị vi phạm có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp, để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình
1.2 Điều kiện áp dụng chế tài phạt vi phạm
Căn cứ áp dụng chế tài phạt vi phạm phải đáp ứng một số yếu tố sau: (i) Hợp đồng
phải hiệu lực pháp luật, (ii) Có thỏa thuận phạt vi phạm, (iii) Có hành vi vi phạm hợp đồng
Thứ nhất, hợp đồng phải có hiệu lực pháp luật
Bản chất của Hợp đồng nói chung là sự thỏa thuận giữa các bên để làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự Dưới sự điều chỉnh của luật Thương mại đã phân biệt “hợp đồng thương mại” với “hợp đồng dân sự theo nghĩa rộng”, theo
đó hợp đồng thương mại là hợp đồng mà trong đó ít nhất một bên là thương nhân nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong việc thực hiện các hoạt động thương mại Thông qua hợp đồng các bên có mối quan hệ ràng buộc quyền và nghĩa vụ với nhau Tuy nhiên, việc giao kết một hợp đồng không có nghĩa là các bên đã phải chịu sự ràng buộc mà chỉ khi Hợp đồng có hiệu lực pháp luật mới làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ tương ứng, giữa các chủ thể giao kết hợp đồng, trong
đó có phạt vi phạm hợp đồng
Trang 6
Thứ hai, phải có thoả thuận phạt vi phạm
Khác với các loại chế tài khác như buộc thực hiện đúng hợp đồng, bồi thường thiệt hại, chế tài phạt vi phạm chỉ được áp dụng khi các bên có “thoả thuận về phạt vi phạm” trong hợp đồng Pháp luật tôn trọng quyền tự do ý chí, tự do định đoạt của các chủ thể Theo đó, các bên có quyền tự do thỏa thuận áp dụng hay không áp dụng phạt
vi phạm Chế tài này sẽ chỉ được áp dụng nếu các bên có sự thống nhất ý chí và thể hiện trong hợp đồng điều khoản phạt vi phạm Nếu các bên không có thoả thuận trong trường hợp tranh chấp xảy ra một bên không thể yêu cầu bên kia phải chịu phạt vi phạm khi có hành vi vi phạm hợp đồng Do đó, thỏa thuận “phạt vi phạm” trong hợp đồng giữa các bên là yêu cầu bắt buộc phải có khi áp dụng chế tài phạt vi phạm
Thứ ba, có hành vi vi phạm hợp đồng là điều kiện để áp dụng chế tài phạt vi phạm
Đây là căn cứ pháp lý quan trọng để áp dụng chế tài phạt vi phạm và các loại chế tài khác Khi có hành vi vi phạm hợp đồng xảy ra, do một bên “không thực hiện”, “thực hiện không đúng” hoặc “thực hiện không đầy đủ” thì bên bị vi phạm mới có quyền yêu cầu bên vi phạm phải chịu phạt vi phạm hợp đồng Hành vi vi phạm hợp đồng có thể
là vi phạm nghĩa vụ về thời gian, địa điểm giao hàng, vi phạm nghĩa vụ cung ứng dịch
vụ, vi phạm nghĩa vụ hợp tác kinh doanh, hay vi phạm số lượng, chất lượng hàng hóa dịch vụ… Khác với bồi thường thiệt hại, phạt vi phạm không bắt buộc phải có thiệt hại xảy ra, bên bị vi phạm không cần chứng minh thiệt hại thực tế và mức phạt vi phạm cũng không căn cứ vào thiệt hại thực tế do hành vi vi phạm gây ra mà được ấn định theo sự thỏa thuận của các bên
Ngoài ra, để áp dụng chế tài phạt vi phạm, các bên còn phải xem xét các căn cứ miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm có áp dụng khi xảy ra vi phạm hay không Bản chất của các trường hợp miễn trách là việc loại trừ những trách nhiệm pháp lý bất lợi đối với bên vi phạm mà theo như thỏa thuận họ sẽ phải gánh chịu, trong đó có chế tài phạt vi phạm Vấn đề này được quy định trong Luật Thương mại 20054 Cụ thể, nếu
1 Bên vi phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm trong các trường hợp sau đây:
Trang 7các bên có thoả thuận về các trường hợp miễn trách nhiệm hoặc bên vi phạm chứng minh được vi phạm của mình thuộc các trường hợp được miễn trách nhiệm quy định tại Khoản 2, Điều 294 Luật Thương mại năm 2005 thì bên vi phạm không phải chịu phạt vi phạm
1.3 Mối quan hệ giữa chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại
Phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại là 2 loại chế tài riêng biệt Tuy nhiên hai loại chế tài này có một điểm chung đó là đều nhằm mục đích thúc đẩy các bên tham gia quan hệ hợp đồng phải có trách nhiệm và thiện chí thực hiện các cam kết đã thỏa thuận Xét về bản chất, phạt vi phạm là chế tài mang tính “trừng phạt”, răn đe, nhằm ngăn ngừa hành vi vi phạm và chỉ có thể được áp dụng trong trường hợp các bên đã có thỏa thuận cụ thể về một khoản tiền mà bên vi phạm phải trả cho bên bị vi phạm Còn BTTH
là biện pháp khắc phục hậu quả nhằm khôi phục, bù đắp, bồi hoàn lợi ích vật chất bị thiệt hại cho bên bị vi phạm Như vậy, khác với BTTH, phạt vi phạm dù chưa có thiệt hại xảy ra thì vẫn có thể phát sinh nghĩa vụ trả tiền phạt vi phạm hợp đồng
Theo quy định tại Khoản 3, Điều 418, BLDS 2015 thì “Các bên có thể thoả thuận
về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải chịu phạt vi phạm vừa phải bồi thường thiệt hại Trường hợp các bên có thoả thuận về phạt vi phạm nhưng không thoả thuận về việc vừa phải chịu phạt vi phạm vừa phải bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt
vi phạm”
Theo Điều 307 LTM 2005 quy định về quan hệ giữa phạt vi phạm và bồi thường
thiệt hại: “Trường hợp các bên không có thoả thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm
chỉ có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp Luật này có quy định khác
a) Xảy ra trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thoả thuận;
b) Xảy ra sự kiện bất khả kháng;
c) Hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia;
d) Hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng
2 Bên vi phạm hợp đồng có nghĩa vụ chứng minh các trường hợp miễn trách nhiệm
Trang 8Trường hợp các bên có thoả thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm có quyền áp dụng
cả chế tài phạt vi phạm và buộc bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp Luật này có quy định khác.”
Như vậy, khác với quy định của BLDS năm 2015 phạt vi phạm và BTTH chỉ được
áp dụng cùng nhau khi các bên có thỏa thuận là áp dụng đồng thời, Luật Thương mại
2005 cho phép bên bị vi phạm được quyền áp dụng song song hai chế tài này ngay cả khi các bên không có thoả thuận về việc kết hợp cả hai hình thức
II Một số bất cập trong việc áp dụng chế tài phạt vi phạm
Hiện nay, việc giao kết các loại hợp đồng trong kinh doanh, thương mại có thoả thuận áp dụng chế tài phạt vi phạm ngày càng phổ biến nhằm tăng cường trách nhiệm,
sự thiện chí của các bên trong việc thực hiện hợp đồng Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng chế tài phạt vi phạm còn nhiều những vướng mắc, bất cập gây lúng túng trong việc áp dụng pháp luật, làm ảnh hưởng không nhỏ đến quyền và lợi ích của các bên tham gia quan hệ hợp đồng
2.1 Về mức phạt vi phạm
Vấn đề về mức phạt vi phạm chưa có sự thống nhất giữa quy định của LTM năm
2005 so với quy định của BLDS 2015 Theo đó, căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều
418 BLDS năm 2015: “Mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp luật
liên quan có quy định khác”
So với quy định tại Điều 301 Luật thương mại 2005 về mức phạt vi phạm: “Mức
phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thỏa thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, trừ trường hợp quy định tại Điều 266 của Luật này.”
Từ các quy định trên cho thấy sự khác biệt giữa LTM 2005 và BLDS 2015 về
mức phạt vi phạm Theo đó, trong hợp đồng kinh doanh thương mại, các bên có thể thỏa thuận về mức vi phạm tuy nhiên mọi thỏa thuận về mức phạt bị giới hạn ở mức trần là 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, trừ trường hợp phạt vi phạm do
Trang 9kết quả giám định sai do lỗi cố ý thì chịu phạt theo mức đã thỏa thuận nhưng không quá mười lần thù lao dịch vụ giám định theo Khoản 1 Điều 266 Luật thương mại 2005 Phạt vi phạm là thỏa thuận xuất phát từ ý chí, tự do, tự nguyện giữa các bên Mục đích áp dụng chế tài này là nhằm phòng ngừa và răn đe các hành vi vi phạm Việc LTM
2005 quy định mức trần tối đa là 8% đối với hợp đồng thương mại có lẽ xuất phát từ những đặc điểm về chủ thể và đặc điểm vì mục đích sinh lợi của các bên Tuy nhiên, trên thực tế nếu áp dụng quy định về mức phạt tối đa là 8% thì sẽ dẫn đến hệ quả là dù
có thiệt hại đáng kể hoặc có hậu quả nghiêm trọng do hành vi vi phạm gây ra thì bên
vi phạm chỉ phải trả số tiền tối đa trong giới hạn đó Nhiều trường hợp bên vi phạm hợp đồng sẵn sàng chấp nhận trả tiền phạt vì sao mức phạt 8% thì việc tiếp tục thực hiện hợp đồng có thể gây tốn kém hơn chi phí hoặc gây tổn thất, thiệt hại nên họ sẵn sàng vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, sẵn sàng chịu phạt để đạt được lợi ích cao hơn, điều này vi phạm nguyên tắc thiện chí, trung thực trong giao kết hợp đồng, cũng như gây ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của bên bị vi phạm mà đáng lẽ họ phải được hưởng Trên thực tế, khi giao kết hợp đồng nhiều trường hợp các bên đã thỏa thuận mức phạt vi phạm đặt ra vượt quá 8% giá trị nghĩa vụ vi phạm, có thể lên đến 20, 30, 50 % hoặc cao hơn Vậy thoả thuận phạt đó có được chấp nhận? Về vấn đề này hiện nay, khi xét xử Tòa án/ Trọng tài thường giải quyết theo hướng không chấp nhận phần thỏa thuận vượt quá mức 8% nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm và buộc bên vi phạm phải chịu
mức phạt là 8% giá trị nghĩa vụ bị vi phạm Ví dụ như: Vụ tranh chấp hợp đồng mua
bán gỗ giữa nguyên đơn là ông Nguyễn Văn Ninh và bị đơn là Công ty TNHH Thương mại và dịch vụ Lộc Phát tại Bản án sơ thẩm kinh doanh số 05/2014/KDTM-ST ngày 20/01/2014 của Tòa án nhân dân (TAND) quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh5, khi xem xét yêu cầu của nguyên đơn (ông Nguyễn Văn Vinh) về yêu cầu phạt vi phạm bị đơn (Công ty TNHH Thương mại và dịch vụ Lộc Phát) với mức phạt là 10% giá trị hợp đồng vì không giao hàng đúng hẹn; Toà án đã ra phán quyết không chấp nhận yêu
https://r.search.yahoo.com/_ylt= caselaw.vn%2ftong-hop-ban-an%2ftuyen-tap-15-ban-an-lien-quan-den-phat-vi-pham-hop-dong/RK=2/RS=.UhoGm59NMRaJsOFTeWY8Ahx7VQ- truy cập ngày 12/1/2022
Trang 10cầu phạt vi phạm của nguyên đơn vì nguyên đơn không chứng minh được lỗi của bị đơn và mức phạt vượt quá quy định của Luật Thương mại
Bên cạnh đó, việc xác định giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm cũng là vấn
đề khó khăn trong thực tiễn giải quyết các vụ án liên quan đến tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh thương mại Việc thiếu nguyên tắc, thiếu các quy định về xác định giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, đặc biệt các nghĩa vụ khó định giá được bằng tiền như nghĩa vụ tiếp thị, nghĩa vụ trong hợp đồng quảng cáo, các nghĩa vụ vụ liên quan đến sức lao động, công việc phải làm… dẫn đến nhiều trường hợp giá trị hợp đồng được xác định không phù hợp6, dẫn đến những khó khăn trong việc áp dụng phạt
vi phạm
2.2 Về các trường hợp miễn trách do hành vi vi phạm
Khoản 1 Điều 294 LTM năm 2005 đã quy định các trường hợp bên vi phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm do hành vi vi phạm:
i) Xảy ra trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thoả thuận;
ii) Xảy ra sự kiện bất khả kháng;
iii) Hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia;
iv) Hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng
- Xảy ra trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thỏa thuận
Đây là quy định thể hiện thể hiện sự tôn trọng sự tự do ý chí của các bên trong việc giao kết hợp đồng thương mại Tuy nhiên, trên thực tế có nhiều trường hợp, một bên lợi dụng sự tồn tại của những thỏa thuận miễn trừ này để cố ý vi phạm hợp đồng
mà không chịu trách nhiệm phạt vi phạm hay các chế tài khác, gây ảnh đến quyền và lợi ích chính đáng của bên còn lại
yếu hội thảo khoa học cấp trường - Luật Thương mại Việt Nam trong thời kỳ hội nhập, NXB Lao động, 2021, tr.350-365