ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT BÀI TẬP NHÓM PHÁP LUẬT VỀ TRUNG GIAN THƯƠNG MẠI Giảng viên ThS Nguyễn Đăng Duy Bộ môn Luật Thương mại 2 Mã học phần BSL2002 Hà nội 2022 MỤC LỤC Khái quát về hoạt động trung gian thương mại 4 Khái niệm, đặc điểm của hoạt động trung gian thương mại 4 Phân loại hoạt động trung gian thương mại 5 Đại diện cho thương nhân 6 Khái niệm, đặc điểm 6 Nội dung của hợp đồng đại diện cho thương nhân 8 Chấm dứt hợp đồng đại diện cho thương nhân 8 Môi giới thương mại 10 Khá.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT - -
BÀI TẬP NHÓM PHÁP LUẬT VỀ TRUNG GIAN THƯƠNG MẠI
Giảng viên: ThS Nguyễn Đăng Duy
Bộ môn: Luật Thương mại 2
Mã học phần: BSL2002
Hà nội - 2022
Trang 2MỤC LỤC
1 Khái quát về hoạt động trung gian thương mại 4
1.1 Khái niệm, đặc điểm của hoạt động trung gian thương mại 4
1.2 Phân loại hoạt động trung gian thương mại 5
2 Đại diện cho thương nhân 6
2.1 Khái niệm, đặc điểm 6
2.2 Nội dung của hợp đồng đại diện cho thương nhân 8
2.3 Chấm dứt hợp đồng đại diện cho thương nhân 8
3 Môi giới thương mại 10
3.1 Khái niệm, đặc điểm 10
3.2 Nội dung của hợp đồng môi giới thương mại 11
3.2.1 Bên môi giới thương mại 12
3.2.2 Bên được môi giới thương mại 13
4 Uỷ thác mua bán hàng hoá 14
4.1 Khái niệm, đặc điểm 14
4.2 Nội dung của hợp đồng uỷ thác mua bán hàng hoá 14
4.2.1 Quyền và nghĩa vụ của bên nhận ủy thác 15
4.2.2 Quyền và nghĩa vụ của bên uỷ thác 16
5 Đại lý thương mại 16
5.1 Khái niệm, đặc điểm và các hình thức đại lý 16
5.2 Nội dung của hợp đồng đại lý 19
5.3 Chấm dứt hợp đồng đại lý 23
DANH MỤC THAM KHẢO 25
Trang 31 Khái quát về hoạt động trung gian thương mại
1.1 Khái niệm, đặc điểm của hoạt động trung gian thương mại
a) Khái niệm của hoạt động trung gian thương mại
Khoản 11 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005 quy định: “11 Các hoạt động
trung gian thương mại là hoạt động của thương nhân để thực hiện các giao dịch thương mại cho một hoặc một số thương nhân được xác định, bao gồm hoạt động đại diện cho thương nhân, môi giới thương mại, uỷ thác mua bán hàng hoá và đại lý thương mại.”
Có thể thấy giao dịch qua trung gian trong hoạt động thương mại là phươngthức giao dịch trong đó mọi việc thiết lập quan hệ giữa người mua và người bán hànghoá (người cung ứng dịch vụ và người sử dụng dịch vụ) và việc xác định các điều kiệngiao dịch phải thông qua một người trung gian Trong phương thức giao dịch quatrung gian sẽ xuất hiện một chủ thể thứ ba, người này đứng ở vị trí độc lập với hai bêncòn lại trong quan hệ và là người thực hiện dịch vụ theo sự ủy quyền và vì lợi ích củangười khác để hưởng thù lao Phương thức giao dịch qua trung gian được thực hiệnchủ yếu trong lĩnh vực phân phối thương mại và đối với nhà sản xuất thì thông quabên trung gian giúp họ tiếp cận với khách hàng, với người tiêu dùng một cách nhanhchóng hơn
Dưới giác độ pháp lý, hiện tượng thương nhân nhận ủy quyền của người khác
để tiến hành các hoạt động vì lợi ích của bên ủy quyền để mua, bán hàng hoá hoặccung ứng dịch vụ thương mại được pháp luật một số nước khái quát bằng khái niệm
“trung gian tiêu thụ” hoặc “đại diện thương mại”
b) Đặc điểm của hoạt động trung gian thương mại
Thứ nhất, hoạt động trung gian thương mại là loại hoạt động cung ứng dịch vụ
thương mại được thực hiện theo phương thức giao dịch qua trung gian Bên trung gianđược bên thuê dịch vụ trao quyền tham gia vào việc xác lập, thực hiện giao dịchthương mại với bên thứ ba vì lợi ích của bên thuê dịch vụ để hưởng thù lao
Trong hoạt động trung gian thương mại, bên trung gian (bên đại diện, bên môigiới, bên nhận ủy thác, bên đại lý) có vai trò làm cầu nối giữa bên thuê dịch vụ và bênthứ ba Bên trung gian thực hiện việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thương mạivới bên thứ ba không vì lợi ích của bản thân mình mà vì lợi ích của bên thuê dịch vụ
Trang 4(bên ủy quyền) Tuy nhiên, bên trung gian (bên được ủy quyền) sẽ được hưởng thù laokhi hoàn thành nhiệm vụ bên ủy quyền giao phó.
Thứ hai, bên trung gian phải là thương nhân và có tư cách pháp lý độc lập với
bên thuê dịch vụ và bên thứ ba
Để thực hiện các hoạt động trung gian thương mại, bên trung gian (bên đạidiện, bên môi giới, bên nhận ủy thác, bên đại lý) phải là thương nhân theo quy định tạiĐiều 6 Luật Thương mại năm 2005 Đối với một số hoạt động trung gian thương mạinhư: ủy thác mua bán hàng hoá, ngoài điều kiện là thương nhân bên trung gian cònphải có điều kiện khác như phải là thương nhân kinh doanh mặt hàng phù hợp vớihàng hoá được ủy thác (Điều 156 Luật Thương mại năm 2005)
Thứ ba, hoạt động trung gian thương mại song song tồn tại hai nhóm quan hệ:
(i) quan hệ giữa bên thuê dịch vụ và bên trung gian thực hiện dịch vụ; (ii) quan hệgiữa bên thuê dịch vụ, bên trung gian thực hiện dịch vụ với bên thứ ba Các quan hệnày đều phát sinh trên cơ sở hợp đồng
Xuất phát từ đặc trưng quan trọng nhất của hoạt động trung gian thương mại làloại hoạt động trong đó bên thuê dịch vụ sẽ trao cho bên trung gian quyền tham giathiết lập, thực hiện các giao dịch thương mại Do đó, để thực hiện hoạt động trunggian thương mại, trước tiên bên có nhu cầu sử dụng dịch vụ của người trung gian vàbên cung ứng dịch vụ trung gian phải thiết lập được quan hệ với nhau Quan hệ giữabên thuê dịch vụ và bên trung gian thực hiện dịch vụ được thiết lập trên cơ sở tự do,thống nhất ý chí của các bên và hình thức của nó là hợp đồng
1.2 Phân loại hoạt động trung gian thương mại
Có 4 hình thức trung gian thương mại bao gồm:
- Đại diện cho thương nhân;
- Môi giới thương mại;
- Ủy thác mua bán hàng hóa;
- Đại lý thương mại
Trang 52 Đại diện cho thương nhân
2.1 Khái niệm, đặc điểm
a) Khái niệm đại diện cho thương nhân
Đại diện là việc cá nhân, pháp nhân (gọi chung là người đại diện) nhân danh và
vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (gọi là người được đại diện) xác lập, thựchiện giao dịch dân sự
Trong hoạt động thương mại, đại diện cho thương nhân là việc một thươngnhân nhận ủy quyền (gọi là bên đại diện) của thương nhân khác (gọi là bên giao đạidiện) để thực hiện các hoạt động thương mại với danh nghĩa, theo sự chỉ dẫn củathương nhân đó và được hưởng thù lao về việc đại diện (Điều 141 Luật thương mạinăm 2005)
Từ đó có thể khẳng định đại diện cho thương nhân là một dạng của đại diệntheo ủy quyền được thực hiện trong hoạt động thương mại
b) Đặc điểm của đại diện cho thương nhân
- Quan hệ đại diện cho thương nhân phát sinh giữa bên đại diện và bên giao đạidiện Trong quan hệ đại diện cho thương nhân thì cả bên đại diện và bên giaođại diện đều phải là thương nhân Bên giao đại diện là một thương nhân cóquyền thực hiện những hoạt động thương mại nhất định (như mua bán hànghóa, cung ứng dịch vụ thương mại) nhưng lại muốn ừao quyền đó cho thươngnhân khác, thay mình thực hiện hoạt động thương mại Bên đại diện chothương nhân cũng phải là thương nhân thực hiện hoạt động đại diện một cáchchuyên nghiệp Do đó, có thể thấy hoạt động đại diện cho thương nhân liênquan tới 3 chủ thể: bên giao đại diện, bên đại diện và bên thứ ba (có thể là mộthoặc một số người) Trong quan hệ với bên giao đại diện, bên đại diện sẽ nhândanh chính mình nhưng trong quan hệ với bên thứ ba thì họ sẽ nhân danh bêngiao đại diện mà không nhân danh chính mình Do đó, trong phạm vi ủy quyền,bên đại diện được giao dịch với bên thứ ba và mọi hành vi do bên đại diện thựchiện trực tiếp mang lại hậu quả pháp lý cho bên giao đại diện Khi bên đại diệngiao dịch với bên thứ ba thì về mặt pháp lý, các hành vi do người này thực hiệnđược xem như là chính người ủy quyền (người giao đại diện) thực hiện Bên
Trang 6giao đại diện phải chịu trách nhiệm về các cam kết do bên đại diện thực hiệntrong phạm vi ủy quyền Đây là
Trang 7điểm khác biệt cơ bản của hoạt động đậi diện cho thương nhân so với các hoạtđộng trung gian thương mại khác Trong quan hệ đại diện cho thương nhân,giữa bên đại diện và bên giao đại diện có sự ràng buộc khá chặt chẽ.
- Nội dung của hoạt động đại diện cho thương nhân do các bên tham gia quan hệthỏa thuận Các bên có thể thỏa thuận về việc bên đại diện được thực hiện mộtphần hoặc toàn bộ các hoạt động thương mại thuộc phạm vi hoạt động của bêngiao đại diện Hoạt động đại diện cho thương nhân thường bao gồm: việc tìmkiếm các cơ hội kinh doanh cho thương nhân giao đại diện; được ủy quyền tiếnhành các hoạt động nghiên cứu thị trường, lựa chọn đối tác, đàm phán, giao kếthợp đồng với bên thứ ba trên danh nghĩa của bên giao đại diện và được tiếnhành trọng suốt thời gian đại diện Cùng một lúc, bên đại diện có thể tiến hànhhoạt động này cho nhiều thương nhân nhưng không được nhân danh bên đượcđại diện để xác lập giao dịch với chính mình hoặc với bên thứ ba mà mình cũng
là người đại diện của người đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác(Điều 141 bộ luật dân sự năm 2015)
- Quan hệ đại diện cho thương nhân phát sinh trên cơ sở hợp đồng đại diện chothương nhân Quan hệ đại diện cho thương nhân là quan hệ đại diện theo ủyquyền được quy định trong Bộ luật dân sự, bởi vậy, hợp đồng đại diện cho thươngnhân là một dạng đặc biệt của hợp đồng ủy quyền Khác với hợp đồng ủyquyền trong dân sự chỉ mang tính chất đền bù khỉ được các bên thỏa thuận hoặcpháp luật có quy định, hợp đồng đại diện cho thương nhân luôn mang tính chấtđền bù
Hợp đồng đại diện cho thương nhân là một dạng riêng của hợp đồng ủy quyền được quy định trong Bộ luật dân sự nhưng đồng thời là hợp đồng dịch vụ Bởi vậy, đối tượng của hợp đồng đại diện cho thương nhân là những công việc mà bên đại diện phải tiến hành trên danh nghĩa và theo sự chỉ dẫn của bên giao đại diện.
Hợp đồng đại diện cho thương nhân phải được lập thành văn bản hoặc bằnghình thức khác có giá trị pháp lý tương đương (Điều 142 Luật Thương mại)
Để đảm bảo quyền tự do của các bên khi giao kết hợp đồng, Luật Thương mạinăm 2005 đã bỏ quy định về nội dung chủ yếu của hợp đồng đại diện cho thương nhânnhưng xuất phát từ bản chất của quan hệ đại diện cho thương nhân và để hạn chế tranh
Trang 8chấp xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng đại diện cho thương nhân, khi giao kếthợp đồng này các bên có thể thỏa thuận về những điều khoản sau: Phạm vi đại diện;thời hạn đại diện; mức thù lao trả cho bên đại diện; thời điểm phát sinh quyền đượchưởng thù lao, thời gian và phương thức thanh toán tiền thù lao cho việc đại diện;quyền và nghĩa vụ của các bên; trách nhiệm do vi phạm hợp đồng; hình thức giảiquyết tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng.
2.2 Nội dung của hợp đồng đại diện cho thương nhân
- Số hợp đồng đại diện
- Căn cứ luật thương mại, căn cứ nhu cầu thực tế các bên
- Thời gian ký kết
- Bên ủy nhiệm: ghi rõ tên doanh nghiệp, trụ sở, mã số doanh nghiệp, tài khoản
số, người đại diện và chức vụ người đại diện
- Bên đại diện: ghi rõ chi nhánh doanh nghiệp, trụ sở, mã số doanh nghiệp, tàikhoản số, người đại diện và chức vụ
- Thỏa thuận và nêu rõ công việc ủy nhiệm cho bên đại diện, phạm vi đại diện,mức thù lao
- Quy định các điều khoản chung
- Trách nhiệm vật chất do vi phạm hợp đồng
- Điều khoản về tranh chấp
- Thời gian có hiệu lực về hợp đồng
- Hợp đồng được hai bên ký tên và đóng dấu
2.3 Chấm dứt hợp đồng đại diện cho thương nhân
- Hợp đồng đại diện cho thương nhân chấm dứt khi:
- Thời hạn đại diện cho thương nhân chấm dứt;
- Công việc đại diện cho thương nhân đã hoàn thành;
- Một trong hai bên tham gia hợp đồng chết, mất hoặc bị hạn chế năng lực hành
vi, mất tư cách thương nhân (theo Điều 589 Bộ luật dân sự 2015)
Trang 9Nếu trong hợp đồng không xác định thời hạn đại diện, các bên đều có quyềnđơn phương chấm dứt hợp đồng đại diện nhưng phải thông báo cho bên kia biết Luậtthương mại năm 2005 không quy định thời hạn các bên phải thông báo cho nhau biết
về việc chấm dứt hợp đồng So với Luật Thương mại 1997 thì có điều khoản này vàđược quy định tại Khoản 1 Điều 92 Luật Thương mại 1997: Trong trường hợp hợpđồng đại diện không xác định thời hạn cụ thể thì các bên có quyền đơn phương chấmdứt hợp đồng đại diện nhưng phải thông báo cho bên kia biết chậm nhất là sáu mươingày trước khi chấm dứt hợp đồng đại diện
Trong trường hợp bên giao đại diện đơn phương thông báo chấm dứt hợp đồngđại diện, bên đại diện có quyền yêu cầu được hưởng thù lao do việc bên đại diện giaokết các hợp đồng với khách hàng mà bên đại diện đã giao dịch và những khoản thù laokhác mà đáng lẽ mình được hưởng (theo Khoản 3 Điều 144 Luật thương mại 2005).Điều này có nghĩa là người đại diện vẫn có quyền hưởng thù lao đối với những hợpđồng được giao kết giữa bên giao đại diện với bên thứ ba trước và cả sau khi hợp đồngđại diện chấm dứt nếu những hợp đồng đó được giao kết là kết quả của những giaodịch do bên đại diện đem lại Trong trường hợp bên đại diện đơn phương chấm dứthợp đồng đại diện thì bên đại diện mất quyền hưởng thù lao đối với các giao dịchđáng lẽ mình được hưởng nếu các bên không có thỏa thuận khác
Luật thương mại năm 2005 không quy định nguyên tắc xác định khoản thù lao
mà bên đại diện được hưởng nếu bên giao đại diện đơn phương chấm dứt hợp đồng(trong trường hợp hợp đồng không xác định thời hạn đại diện)
Theo Điều 588 Bộ luật dân sự năm 2015, bên giao đại diện phải thông báobằng văn bản cho người thứ ba biết về về việc bên giao đại diện chấm dứt hợp đồng;nếu không thông báo thì hợp đồng với người thứ ba vẫn có hiệu lực, trừ trường hợpngười thứ ba biết hoặc phải biết về việc hợp đồng đại diện đã bị chấm dứt Tuy nhiên,Luật thương mại 2005 không quy định ai sẽ có nghĩa vụ phải thông báo cho bên thứ
ba biết trong trường hợp bên đại diện thông báo chấm dứt hợp đồng
Trang 103 Môi giới thương mại
3.1 Khái niệm, đặc điểm
a) Khái niệm môi giới thương mại
Theo từ điển Tiếng Việt thì môi giới được hiểu là người làm trung gian để chohai bên tiếp xúc, giao thiệp với nhau
Theo Điều 150 Luật thương mại 2005 thì: Môi giới thương mại là hoạt độngthương mại, theo đó một thương nhân làm trung gian (gọi là bên môi giới) cho các bênmua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ (gọi là bên được môi giới) trong việc đàm phán,giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá, dịch vụ và được hưởng thù lao theo hợp đồngmôi giới
b) Đặc điểm môi giới thương mại
- Chủ thể của quan hệ môi giới thương mại gồm bên môi giới và bên được môigiới Trong đó bên môi giới phải thương nhân và có đăng ký kinh doanh đểthực hiện dịch vụ môi giới thương mại và không nhất thiết phải có ngành nghềđăng ký kinh doah trùng với ngành nghề kinh doanh của các bên được môigiới Tuy nhiên pháp luật hiện hành không quy định bên môi giới là thươngnhân hay không Trong hoạt động thương mại, không phải tất cả các bên môigiới đều có quan hệ môi giới thương mại với bên môi giới mà chỉ bên được môigiới nào ký hợp đồng môi giới với bên ngoài môi giới thì giữa họ mới phát sinhquan hệ thương mại
Ví dụ: Công ty A ký hơp đồng thuê công ty B làm môi giới trong việc tiêu thụ
sản phẩm do công ty A sản xuất ra -> công ty A và công ty B phát sinh quan hệ môigiới thương mại
Công ty B tìm được công ty C có nhu cầu muốn mua sản phẩm của công ty A
mà công ty B đã môi giới Công ty B giới thiệu công ty c cho công ty A -> công ty B
và công ty C có thể tồn tại hợp đồng môi giới hoặc không Trường hợp mà công ty B
và C ký hợp đồng môi giới thì giữa họ cũng phát sinh quan hệ môi giới thương mại
Trang 11Khi sử dụng dịch mô giới thương mại chính bên môi giới nhân danh chínhmình để quan hệ với các bên được môi giới và giới thiệu các bên được môi giới vớinhau, để các bên được môi giới giao kết trực tiếp với nhau Bên môi giới có thể trởthành đại diện không đúng thẩm quyền nếu họ thay mặt bên được môi giới ký hợpđồng với khách hàng, bên được môi giới sẽ có tư cách là bên đại diện Hiện nay Luậtthương mại cũng không có quy định và cấm bên được môi giới ủy quyền cho bên môigiới.
- Nội dung của hoạt động môi giới rất rộng gồm các hoạt động như: Tìm kiếm vàcung cấp thông tin cần thiết về đối tác cho bên được môi giới, giới thiệu hànghóa, dịch vụ cần môi giới, sắp xếp cho các bên được môi giới tiếp xúc vớinhau, hỗ trợ các bên được môi giới khi kí kết hợp đồng Mục đích chính củahoạt động môi giới là các bên được môi giới ký kết hợp đồng với nhau Đây làhoạt động kinh doanh nên mục đích thuần túy của môi giới là tìm kiếm lợinhuận
- Phạm vi của môi giới thương mại bao gồm các lĩnh hoạt động như môi giớihàng hóa, cung ứng các dịch vụ liên quan đến mua bán hàng hóa ở các lĩnh vựcchứng khoán, bất động sản, bảo hiểm,…Tuy nhiên Luật thương mại chỉ điềuchỉnh các quy định chung về hoạt động môi giới, ở các lĩnh vực riêng biệt sẽ doluật chuyên ngành quy định
- Quan hệ môi giới thương mại được thực hiện trên cơ sở hợp đồng môi giới.Hợp đồng môi giới được giao kết giữa bên môi giới và bên được môi giới, bênmôi giới phải là thương nhân còn bên được môi giới không nhất thiết phải làthương nhân Đối tượng của hợp đồng môi giới chính là công việc môi giớinhằm chắp nối quan hệ giữa các bên được môi giới với nhau
Để hạn chế tranh chấp giữa xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng môigiới, vì vậy trong quá trình giao kết các bên có thể thỏa thuận những điều khoản vềnội dung cụ thể của việc môi giới, mức thù la, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do viphạm hợp đồng, hình thức giải quyết tranh chấp
3.2 Nội dung của hợp đồng môi giới thương mại
Trang 12Hợp đồng môi giới thương mại có thể gồm các nội dung sau:
Trang 13Đối tượng của hợp đồng: chính là công việc môi giới Thỏa thuận về đốitượng của hợp đồng môi giới thương mại bao gồm các thỏa thuận về loại hàng hóa,dịch vụ; số lượng, chất lượng, giá bán,…
- Yêu cầu và kết quả môi giới;
- Thời hạn thực hiện;
- Thù lao môi giới và phương thức thanh toán;
- Quyền, nghĩa vụ của các bên;
- Hiệu lực và chấm dứt hợp đồng
Các bên có thể thỏa thuận và bổ sung thêm một số nội dung khác của hợpđồng không trái với quy định của pháp luật Trong trường hợp các bên không có thỏathuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng thì các bên sẽ áp dụng những quy định của phápluật trong quá trình thực hiện hợp đồng
3.2.1 Bên môi giới thương mại
a) Nghĩa vụ của bên môi giới thương mại
Căn cứ vào điều 151 luật thương mại năm 2005 quy định về nghĩa vụ của bênmôi giới thương mại bao gồm:
Trang 14- Bảo quản các mẫu hàng hóa, tài liệu được giao để thực hiện việc môi giới và phải hoàn trả cho bên được môi giới sau khi hoàn thành việc môi giới;
- Không được tiết lộ, cung cấp thông tin làm phương hại đến lợi ích của bên được môi giới;
Trong quá trình thực hiện hợp đồng môi giới, có thể bên được môi giới phảiđược môi giới cung cấp cho bên môi giới các thông tin liên quan đến bí mật kinhdoanh của mình.Bên môi giới chỉ được sử dụng các thông tin này để sử dụng các hoạtđộng có lợi cho bên được môi giới, đương nhiên bên môi giới không được thông tinnày cho khách hang hay đối thủ cạnh tranh của người được môi giới
- Chịu trách nhiệm về tư cách pháp lý của các bên được môi giới, nhưng khôngchịu trách nhiệm về khả năng thanh toán của họ;
Trang 15Là người trung gian, bên môi giới có trách nhiệm cung cấp thông tin, tư vấncho bên được môi giới Bên môi giới phải có trách nhiệm cung cấp chính xác về tưcách pháp lý của đối tác cho các bên được môi giới
Được hưởng thù lao môi giới theo mức quy định trong hợp đồng môi giới thương
mại
Quyền hưởng thù lao của bên môi giới phát sinh từ thời điểm các bên được môigiới ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá hay cung ứng dịch vụ thương mại với nhau,trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác Tuy nhiên, trong hợp đồng môi giới cácbên có thể thỏa thuận thù lao môi giới chỉ phát sinh sau khi hợp đồng giữa các bênđược môi giới thực hiện dưới các điều kiện mà bên được môi giới mong muốn
Trong trường hợp, các bên được môi giới không giao kết được hợp đồng vớinhau, bên môi giới không được hưởng thù lao môi giới nhưng nếu các bên không cóthỏa thuận khác, bên môi giới vẫn có quyền yêu cầu bên được môi giới thanh toán chomình các chi phí hợp lý liên quan tới việc môi giới
b) Quyền của bên môi giới thương mại
3.2.2 Bên được môi giới thương mại
- Không được tham gia thực hiện hợp đồng giữa các bên được môi giới, trừ trường hợp có ủy quyền của bên được môi giới