Do vậy,pháp luật phá sản đã đặt yêu cầu bảo vệ lợi ích của các chủ nợ Pháp luật phá sản quy định các chủ nợ có quyền chú động yêu cầu mở thủ tục phá sản, đồng thời cho phép các chủ nợ đư
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
_ 0 _
BÀI TIỂU LUẬN TÌM HIỂU VẤN ĐỀ PHÁP LUẬT VỀ PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP
Tiểu luận kết thúc học phần luật Thương mại 2
Giảng viên : TS Hồ Ngọc Hiển – Th.S Nguyễn Đăng Duy
Họ và tên : Ma Thị Khiêm
Msv : 19061162
Mã lớp học phần: BSL 2002 3
Trang 2Hà Nội -2022
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 3
PHẦN NỘI DUNG 3
I.Khái quát chung về phá sản và pháp luật về phá sản 3
1 Khái niệm 3
2 Phân loại phá sản 4
3 Ý nghĩa và vai trò của pháp luật phá sản 5
4 Bản chất của thủ tục phá sản 6
II Pháp luật phá sản Việt Nam 7
1 Phạm vi và đối tượng áp dụng của luật phá sản 7
2 Thủ tục phá sản 7
2.1 Chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản 7
2.2 Chủ thể có nghị vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản 8,9 2.3 Chủ thể tiền hành giải quyết thủ phá sản 9
2.4 Quy trình giải quyết thủ tục phá sản 9,10 3 Hội nghị chủ nợ 10,11 III.Một số bất cập trong thực tế áp dụng luật phá sản 12
PHẦN KẾT LUẬN 13
Trang 3DANH MỤC TÀI LIỆU KHẢO 13
PHẦN MỞ ĐẦU Trong nền kinh tế thị trường, do sự tác động của quy luật kinh tế trong đó có quy luật cạnh tranh nên đã làm nảy sinh các mối quan hệ mới mà bản thân kinh tế kế hoạch hoá không hàm chứa được Đó là hiện tượng phá sản Phá sản doanh nghiệp là hiện tượng kinh tế tồn tại khách quan ,tính tất yếu khách quan được lí giải như sau: Thứ nhất ,về thực chất doanh nghiệp cũng chỉ là một thực thể xã hội và như vậy cũng như các thực thể khác,doanh nghiệp cũng sẽ có quá trình sinh ra ,phát triển và diệt vong Thứ
hai,trong nền kinh tế thị trường lợi nhuận luôn là mục đích hướng tới của các doanh nghiệp là cơ sở tồn tại của mỗi doanh nghiệp đồng thời cũng là động lực thúc đẩy họ lao vào cạnh tranh nhằm tối đa hóa lợi nhuận Thứ ba, kinh doanh phải chấp nhận rủi ro vì vấn đề rủi ro sảy ra là điều tất yếu và ảnh hưởng rất lớn đến doanh nghiệp có thể dẫn đến phá sản ngay khi mới thành lập doanh nghiệp
Khi một doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản nó sẽ ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế và đặc biệt là quyền lợi của người lao động ít nhiều sẽ bị xáo trộn như tiền lương, các chế
độ, việc làm và các vấn đề tiêu cực phát sinh và các khoản nợ của doanh nghiệp
Đối với nước ta việc phá sản vẫn là một vấn đề mới mẻ Cho nên thực tiễn giải quyết phá sản của nước ta trong thời gian qua còn gặp không ít khó khăn vướng mắc Chính vì vậy mà việc nắm bắt, hiểu biết đầy đủ về thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản của doanh nghiệp là sự cần thiết và cấp bách Trong thời kỳ kinh tế hiện nay của nước ta thì càng phải biết rõ thêm về luật kinh doanh mà luật phá sản là một phần rất nhỏ trong
hệ thống luật pháp nhà nước ta khi mới vừa gia nhập WTO
Trang 4PHẦN NỘI DUNG
I Khái quát chung về phá sản và pháp luật về phá sản
1 Khái niệm
Phá sản là tình trạng của doanh nghiệp ,hợp tác xã mất khả năng thanh toán và bị Tòa án nhân dân là quyết định tuyên bố phá sản Tức là doanh nghiệp trong 1 thời gian làm ăn ,kinh doanh thua lỗ dẫn đến việc hoàn toàn mất khả năng thanh toán nợ không thể xoay
sở trả nợ khi đến kì hạn và bị tòa án dựa theo những thủ tục của luật định buộc doanh nghiệp phải thanh lý tài sản để trả nợ cho các chủ nợ
Phá sản là hiện tượng khách quan của nền kinh tế thị trường, là hậu quả tất yếu của quy luật cạnh tranh
2 Phân loại phá sản
a Dựa trên cơ sở nguyên nhân gây ra phá sản có phá sản trung thực và phá sản gian trá:
- Phá sản trung thực là hậu quả của việc mất khả năng thanh toán do những nguyên văn khách quặng những rủi ro bất khả kháng không dự đoán được trước.Phá sản trung thực cũng có thể từ những nguyên nhân chủ quan nhưng không phải do có chủ ý hay dự tính nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác Ví dụ như sự yếu kém về năng lực tổ chức, quản lý hoạt động, thiếu khả năng thích ứng với những biến động trên thị trường
- Phá sản gian trá là hậu quả của những thủ đoạn gian trá, có sắp đặt trước nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác Ví dụ: có hành vi gian lận trong khi ký hợp đồng, tẩu tán tài sản, cố tình báo cáo sai để qua đó tạo ra lý do phá sản không đúng sự thật
b Trên cơ sở phát sinh quan hệ pháp lý có phá sản tự nguyện và phá sản bắt buộc: Cụ thể là dựa trên căn cứ ai là người làm đơn yêu cầu phá sản
- Phá sản tự nguyện là do phía doanh nghiệp mắc nợ tự làm đơn yêu cầu phá sản khi thấy mình mất khả năng thanh toán, không có điều kiện thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với chủ nợ
- Phá sản bắt buộc là do phía các chủ nợ làm đơn yêu cầu phá sản doanh nghiệp mắc nợ nhằm thu hồi các khoản nợ từ doanh nghiệp mắc nợ
c Dựa vào đối tượng bị giải quyết phá sản:
Trang 5Gồm phá sản cá nhân và phá sản pháp nhân Tuỳ theo pháp luật ở mỗi nước mà đối tượng bị giải quyết phá sản có quy định khác nhau Ở nước ta áp dụng cho doanh
nghiệp và HTX Trung Quốc: áp dụng với thành phần kinh tế quốc doanh Úc : áp dụng với cả cá nhân
- Phá sản cá nhân: theo quy định này cá nhân bị phá sản phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với các khoản nợ
- Phá sản pháp nhân: đó là phá sản một tổ chức, tổ chức này phải gánh chịu hậu quả của việc phá sản việc trả nợ cho chủ nợ của pháp nhân dựa trên tài sản của pháp nhân
3 Ý nghĩa, vai trò của pháp luật phá sản
Pháp luật phá sản có vai trò quan trọng đối với đời sống kinh tế -xã hội nói chung và
các chủ thể nói riêng,điều này được thể hiện qua những khía cạnh sau:
- Pháp luật phá sản bảo vệ lợi ích chính đáng của các chủ nợ,là cơ sở pháp lí để các chủ
nợ thực hiện việc đòi nợ một cách hợp pháp Khi doanh nghiệp hay hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản,chủ nợ là những người đầu tiên có nguy cơ không đòi được các khoản
nợ Do vậy,pháp luật phá sản đã đặt yêu cầu bảo vệ lợi ích của các chủ nợ
Pháp luật phá sản quy định các chủ nợ có quyền chú động yêu cầu mở thủ tục phá sản, đồng thời cho phép các chủ nợ được bảo vệ tối đa lợi ích của mình như: kiểm tra, giám sát hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác xã, giải quyết những vấn đề lớn quan trực tiếp đến quyền lợi của mình,khiếu nại các quyết định của Tòa án, nhằm mục đích thu hồi các khoản nợ của các chủ nợ
Pháp luật phá sản bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ,tạo cơ hội cho các doanh nghiệp, hợp tác xa lâm vào tình trạng phá sản phục hồi hoạt động kinh doanh hoặc rút khỏi thị thương trường một cách hợp pháp
- Pháp luật phá sản bảo vệ quyền và lợi ích cho doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ thông qua các qui định như: ấn định thời gian ngừng trả nợ, tạo điều kiện cho doanh nghiệp, hợp tác xã thương lượng với các chủ nợ để được xóa nợ, mua nợ, giảm nợ…
- Pháp luật phá sản bảo vệ lợi ích hợp pháp cho người lao động Bằng những quy định
cụ thể ,pháp luật phá sản xác định rõ cơ sở pháp lý để người lao động bảo vệ lợi ích của mình thông qua việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, tham gia hội nghị chủ nợ, quy định thứ tự ưu tiên phân chia giá trị tài sản còn lại của doanh ,hợp tác xã
Trang 6- Pháp luật phá sản góp phần tạo động lực cạnh tranh, cơ cấu lại nền kinh tế
Khi doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản, pháp luật phá sản quy định
thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh Phục hồi kinh doanh được coi là biện pháp thiết thực và hiệu quả nhằm giúp doanh nghiệp, hợp tác xã thoát khỏi tình trạng phá sản, góp phần tạo dựng một nền kinh tế ổn định
4 Bản chất của thủ tục phá sản
Thủ tục phá sản là một thủ tục về pháp lý nhằm giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán Nếu kết quả giải quyết không thể đưa doanh nghiệp thoát khỏi tình trạng mất khả năng thanh toán thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ ra quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp
• Bản chất thủ tục phá sản
-Thủ tục phá sản là một thủ tục đòi nợ tập thể
Trong quá trình thực hiện hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp tiến hành các hoạt động trao đổi mua bán hàng hóa ,cung ứng dịch vụ đã xuất hiện các hình thức mua chậm,trả dần hoặc vay mượn với những cam kết sẽ hoàn trả theo thời gian Các khoản vay mượn này có thể được đảm bảo hoặc không được bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp mắc nợ Theo đó đối với những khoản nợ có bảo đảm thì chủ nợ có quyền yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ Trường hợp khoản nợ không có tài sản bảo đảm thì chủ nợ có thể yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền như Tòa án, cơ quan thi hành án ban hành các quyết định cưỡng chế bán tài sản của doanh nghiệp để thu hồi nợ Đây là cách đòi nợ thông thường và được tiến hành một cách trực tiếp giữa chủ nợ và doanh nghiệp mắc nợ Nhưng nếu doanh nghiệp mắc nợ có nhiều chủ nợ và tài sản của doanh nghiệp không đủ để thanh toán cho tất cả các chủ nợ thì việc đòi nợ theo cách thức này trở nên kém hiệu quả
-Thủ tục phá sản là một thủ tục giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán
Thủ tục phá sản theo luật phá sản được xem như như là một thủ tục đòi nợ đặc biệt.Nếu xét ở khía cạnh các chủ nợ thì đây cũng là cách thanh toán nợ đặc biệt Tuy nhiên, trong quá trình tìm kiếm giải pháp tối đa hóa giá trị tài sản và tối ưu hóa khả năng thu hồi nợ cho các chủ nợ ,các cuộc đàm phán giữa chủ nợ và các con nợ đã diễn ra.Trong đó vấn
đề tối đa hóa giá trị kinh tế của các tài sản phá sản đã được đặt ra như một trong những
Trang 7mục tiêu chính Tuy vậy, việc định giá các tài sản phá sản trong bối cảnh của vụ việc phá sản đang diễn ra có thể thấp hơn so với giá trị thực do tâm lý e ngại việc thu mua tài sản phá sản.Việc thanh lý hàng loạt các tài sản phá sản cũng dẫn đến giá bán thấp hơn so với giá mà những người mua thông thường có nhu cầu mua đưa ra
Trong những trường hợp như vậy, tổ chức lại doanh nghiệp thay vì thanh lý doanh nghiệp mất khả năng thanh toán là cần thiết để giúp các chủ nợ thu được giá trị cao nhất
từ các tài sản phá sản Đối với các chủ nợ, mở thủ tục phá sản vẫn giữ nguyên giá trị là một thủ tục đòi nợ đặc biệt Chỉ có điều để đòi được nợ, người ta không nhất thiết phải thanh lý tài sản của doanh nghiệp mắc nợ, mà trong rất nhiều trường hợp, việc tái phục hồi doanh nghiệp mắc nợ mà thành công sẽ đạt được hiệu quả đòi nợ tối ưu hơn cho các chủ nợ Chính vì thế, luật phá sản, đứng ở góc độ của doanh nghiệp mắc nợ đã phát triển theo hướng là luật về giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán cho doanh nghiệp mắc nợ
II Pháp luật phá sản Việt Nam
1 Phạm vi và đối tượng áp dụng
Theo quy định tại các điều 1 điều 2 luật phá sản 2014 thì phạm vi điều chỉnh và đối tượng
áp dụng của luật pha sản được quy định như sau:
-Phạm vi điều chỉnh :”Luật này quy định về trình tự, thủ tục nộp đơn ,thụ lý và mở thủ tục phá sản; xác định nghĩ vụ về tài sản và biện pháp bảo toàn tài sản trong quá trình giải quyết phá sản; thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh;tuyên bố phá sản và thi hành quyết định tuyên bố phá sản” (điều 1)
-Đối tượng áp dụng : “Luật này áp dụng đối với doanh nghiệp và hợp tác xã ,liên hiệp hợp tác xã (sau đây gọi chung là hợp tác xã)được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật”.(điều 2)
2 Thủ tục phá sản
2.1 Chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
*Chủ nợ
Theo quy định tại khoản 1 điều 5 Luật phá sản 2014: “Chủ nợ không có bảo đảm,chủ
nợ có bảo đảm một phần có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi hết thời hạn
03 tháng kể từ ngày khoản nợ đến hạn mà doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán”
Trang 8Theo đó chủ thể là chủ nợ có nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản ở đây là chủ nợ
không có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần Luật phá sản 2014 vẫn giữ nguyên thành phần chủ nợ có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản,quy định này tạo điều kiện cho các chủ nợ không có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần có cơ hội lựa chọn thủ tục thích hợp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi doanh nghiệp, hợp tác xã lầm vào tình trạng phá sản
*Người lao động, công đoàn cơ sở, công đoàn cơ sở cấp trên trực tiếp cơ sở ở những nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở
Theo khoản 2 điều 5 Luật phá sản quy định
“Người lao động, công đoàn cơ sở, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở ở những nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở có quyền nộp đơn yêu cầu mở tủ tục phá sản khi hết thời hạn
03 tháng kể từ ngày phải thực hiện nghĩa vụ trả lương, các khoản nợ khác đến hạn đối với người lao động mà doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán” Luật phá sản 2014 đã quy định thêm hai đối tượng có quyền nộp đơn trong nhóm này là công đoàn cơ sở và công đoàn cơ sở cấp trên trực tiếp Đây là điểm mới đã ngăn ngừa bất cập trong Luật phá sản 2014 là người lao động cử người đại diện nộp đơn, Bên cạch
đó dựa vào chức năng nhiệm vụ của công đoàn cơ sở ta thấy quy định thêm chủ thể này
là phù hợp có thể bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động
*Cổ đông hoặc nhóm cổ đông
Khoản 5 Điều 5 Luật phá sản nă 2014 quy định:
“Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 20% số cổ phần phổ thong trở lên trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi công ty
cổ phần mất khả năng thanh toán Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu dưới 20% số cổ phần phổ thông trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi công ty cổ phàn mất khả năng thanh toán trong trường hợp Điều lệ công ty quy định”
*Thành viên hợp tác xã hoặc người đại diện theo pháp luật của hợp tác xã thành viên của liên hiệp hợp tác xã
Khoản 6 Điều 5 Luật phá sản quy định:
Trang 9“thành viên hợp tác xã hoặc người đại diện theo pháp luật của hợp tác xã thành viên của liên hiệp hợp tác xã có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã mất khả năng thanh toán”
2.2 Chủ thể có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
- Khoản 3 Điều 5 Luật phá sản 2014 quy định:
“người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán”
- Khoản 4 Điều 5 Luật phá sản 2014 quy định:
“Chủ doanh nghiệp tư nhân, Chủ tịch Hội đồng quản trị của công ty cỏ phần, Chủ tịch Hội đồng thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, thành viên hợp danh của công ty hợp danh
có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán”
Theo đó, chủ thể co nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản bao gồm:
Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã
Chủ doanh nghiệp tư nhân, Chủ tịch Hội đồng quản trị của công ty cỏ phần, Chủ tịch Hội đồng thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, thành viên hợp danh của công ty hợp danh Riêng nhóm chủ thể thứ hai chỉ áp dụng cho đối tượng là doanh nghiệp vì thành viên chỉ ở các loại hình doanh nghiệp mới xuất hiện các chủ thể trên ở Hợp tác xã thì chỉ có thành viên hợp tác xã và hợp tác xã thành viên của liên hiệp hợp tác xã, các chủ thể này
đã được quy định có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản tại Khoản 6 Điều 5 Luật này
Thời điểm phát sinh nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là khi doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán, không trả được các khoản nợ đến hạn
2.3 Chủ thể tiến hành thủ tục phá sản
Căn cứ pháp lý Điều 4 Luật Phá sản 2014 người có quyền tiến hành thủ tục phá sản là: Chánh án Tòa án nhân dân, Thẩm phán; Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên ; Quản tài viên,doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản ; Thủ trưởng cơ quan thi hành
án dân sự, Chấp hành viên trong quá trình giải quyết phá sản
2.4 Quy trình giải quyết thủ tục phá sản
Trang 10Đầu tiên : người có quyền, nghĩa vụ chuẩn bị đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản và những tài liệu, giấy tờ liên quan đến các khoản nợ đến hạn của doanh nghiệp
Sau khi chuẩn bị đầy đủ giấy tờ cần thiết liên quan thì đến nộp hồ sơ tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền để giải quyết Phương thức nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản: Nộp trực tiếp hoặc gửi bưu điện đến tòa án nhân dân Ngày nộp đơn được tính từ ngày
Tòa án nhân dân nhận đơn hoặc ngày có dấu bưu điện nơi gửi (Điều 30 Luật Phá sản 2014)
-Tiếp đó Tòa án nhận đơn yêu cầu và thụ lý yêu cầu phá sản đối với doanh nghiệp nếu xem xét thấy hồ sơ hợp lệ Sau khi nhận đơn yêu cầu Tòa án sẽ xem xét tính hợp lệ của
hồ sơ và tiến hành thông báo cho người yêu cầu nộp tiền tạm ứng án phí(nếu có);hay yêu cầu sửa đổi ,bổ sung hồ sơ hoặc chuyển đơn đến tòa án khác có thẩm quyền ;hoặc
trả lại đơn (Điều 32 Luật Phá sản 2014)
-Tòa án nhân dân tiến hành thụ lý đơn khi nhận được biên lai nộp lệ phí phá sản, biên lai nộp tạm ứng chi phí phá sản, trường hợp được miễn thì thời điểm thụ lý tính từ ngày
Tòa án nhận đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản (Điều 39 Luật Phá sản 2014)
- Tòa án nhân dân ra quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản và gửi quyết định cho các bên liên quan Trong quá trình đó, Tòa án sẽ tiến hành các biện pháp nhằm bảo toàn tài sản
doanh nghiệp (Điều 42 Luật Phá sản 2014)
Người tham gia thủ tục phá sản có quyền đề nghị xem xét lại quyết định mở hoặc không
mở thủ tục phá sản trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định
Tiếp đến Tòa án tiến hành triệu tập hội nghị chủ nợ trong vòng 20 ngày kể từ ngày kết thúc việc kiểm kê tài sản hoặc ngày kết thúc việc lập danh sách chủ nợ tùy điều kiện nào đến sau
Sau khi hội nghị chủ nợ kết thúc Tòa án ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác
xã phá sản
Tòa án ra quyết định tuyên bố phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã khi:
– Hội nghị chủ nợ triệu tập lần 2 nhưng không đủ điều kiện tiến hành hoặc hội nghị chủ
nợ không thể thông qua nghị quyết: trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận được báo cáo kết quả họp hội nghị chủ nợ