Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội BÀI TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN Pháp luật về trung gian thương mại Một số khó khăn, bất cập trong thi hành pháp luật về trung gian thương mại tại Việt Nam và kiến nghị hoàn thiện Họ và tên Ngô Thương Huyền – MSV 19061142 Lớp học phần BSL2002 3 Môn học Luật Thương mại 2 Giảng viên bộ môn ThS Nguyễn Đăng Duy TS Hồ Ngọc Hiển 1 Hà Nội, năm 2022 MỤC LỤC A LÝ DO LỰA CHỌN ĐỀ TÀI 2 B NỘI DUNG 2 I Lý luận chung về trung gian thương mại 2 1 Khái niệm trung gian thư.
Trang 1
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
- -
BÀI TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
Pháp luật về trung gian thương mại Một số khó khăn, bất cập trong thi hành pháp luật về trung gian thương mại tại Việt
Nam và kiến nghị hoàn thiện
Lớp học phần: BSL2002 3
Môn học: Luật Thương mại 2
TS Hồ Ngọc Hiển
Trang 2
Hà Nội, năm 2022 MỤC LỤC A LÝ DO LỰA CHỌN ĐỀ TÀI……….……… 2
B NỘI DUNG……… …… 2
I Lý luận chung về trung gian thương mại….……… ……….2
1 Khái niệm trung gian thương mại……… 2
2 Đặc điểm của trung gian thương mại……… ….2
3 Vai trò của trung gian thương mại………… ……….……… 4
II Các loại hình trung gian thương mại……….……….…4
1 Đại diện cho thương nhân……… 4
2 Môi giới thương mại……….…5
3 Ủy thác mua bán hàng hóa………6
4 Đại lý thương mại……… 7
III Một số khó khăn, bất cập trong thi hành pháp luật về xúc tiến thương mại tại Việt Nam và kiến nghị hoàn thiện ……… …… 8
1 Một số khó khăn, bất cập trong thi hành pháp luật về trung gian thương mại tại Việt Nam ……….……… 8
2 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về trung gian thương mại tại Việt Nam …… 11
C KẾT LUẬN……… 13
D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……… …… 14
Trang 3
A LÝ DO LỰA CHỌN ĐỀ TÀI
Trong nền kinh tế sản xuất hàng hóa, việc trao đổi hàng hóa, dịch vụ thông qua mua bán
là điều kiện cần thiết để phát triển kinh tế xã hội Tùy vào mục đích, đối tượng và thời gian giao dịch, có thể lựa chọn những cách thức giao dịch khác nhau Một trong các phương thức giao dịch phổ biến hiên nay đó chính là trung gian thương mại Bên cạnh việc giao dịch trực tiếp với khách hàng, nhiều doanh nghiệp đã cân nhắc lựa chọn các hình thức trung gian thương mại để tiết kiệm thời gian, chi phí và tăng cường sự hiện diện của doanh nghiệp trên thị trường Trong bài viết này, em xin đi sâu vào nghiên cứu
“Pháp luật về trung gian thương mại Một số khó khăn, bất cập trong thi hành pháp luật
về trung gian thương mại tại Việt Nam và kiến nghị hoàn thiện”
B NỘI DUNG
I LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRUNG GIAN THƯƠNG MẠI
1 Khái niệm trung gian thương mại
Căn cứ vào khoản 11 điều 3 Luật Thương mại năm 2019: Các hoạt động trung gian thương mại là hoạt động của thương nhân để thực hiện các giao dịch thương mại cho một hoặc một số thương nhân được xác định, bao gồm hoạt động đại diện cho thương nhân, môi giới thương mại, ủy thác mua bán hàng hóa và đại lý thương mại
2 Đặc điểm của trung gian thương mại
Hoạt động trung gian thương mại là loại hoạt động cung ứng dịch vụ thương mại được thực hiện theo phương thức giao dịch qua trung gian Bên trung gian được bên thuê dịch vụ trao quyền tham gia vào việc xác lập, thực hiện giao dịch thương mại với bên thứ ba vì lợi ích của bên thuê dịch vụ để hưởng thù lao
Trong hoạt động trung gian thương mại, bên trung gian (bên đại diện, bên môi giới, bên nhận ủy thác, bên đại lý) có vai trò làm cầu nối giữa bên thuê dịch vụ và bên thứ ba Bên trung gian thực hiện việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ thương mại với bên thứ
ba vì lợi ích của bên thuê dịch vụ (bên ủy quyền) chứ không vì lợi ích của bản thân mình Tuy nhiên, bên trung gian (bên được ủy quyền) sẽ được hưởng thù lao khi hoàn thành nhiệm vụ bên ủy quyền giao phó
Bên trung gian phải là thương nhân và có tư cách pháp lý độc lập với bên thuê dịch vụ
và bên thứ ba
Trang 4
Để thực hiện các hoạt động này, bên trung gian (bên đại diện, bên môi giới, bên nhận
ủy thác, bên đại lý) phải là thương nhân theo quy định tại Điều 6 Luật Thương mại năm
2005 Đối với một số hoạt động trung gian thương mại như ủy thác mua bán hàng hoá, ngoài điều kiện là thương nhân bên trung gian còn phải có điều kiện khác như phải là thương nhân kinh doanh mặt hàng phù hợp với hàng hoá được ủy thác (Điều 156 Luật Thương mại năm 2005) Trong quan hệ với bên thuê dịch vụ (bên ủy quyền) và bên thứ
ba, bên trung gian thực hiện các hoạt động thương mại với tư cách pháp lý hoàn toàn độc lập và tự do Bên trung gian là bên được ủy quyền cung ứng một dịch vụ thương mại cho bên ủy quyền
Hoạt động trung gian thương mại song song tồn tại hai nhóm quan hệ: quan hệ giữa bên thuê dịch vụ và bên trung gian thực hiện dịch vụ; quan hệ giữa bên thuê dịch vụ, bên trung gian thực hiện dịch vụ với bên thứ ba Các quan hệ này đều phát sinh trên cơ
sở hợp đồng
Đặc trưng quan trọng nhất của hoạt động trung gian thương mại là bên thuê dịch vụ sẽ trao cho bên trung gian quyền tham gia thiết lập, thực hiện các giao dịch thương mại
Do đó, để thực hiện hoạt động trung gian thương mại, trước tiên, bên có nhu cầu sử dụng dịch vụ của người trung gian và bên cung ứng dịch vụ trung gian phải thiết lập được quan hệ với nhau Quan hệ giữa bên thuê dịch vụ và bên trung gian thực hiện dịch vụ đuợc thiết lập tự do, thống nhất ý chí của các bên thông qua hình thức hợp đồng Tuy nhiên, hoạt động trung gian thương mại sẽ không thể thực hiện được nếu chỉ tồn tại quan
hệ giữa bên thuê dịch vụ và bên trung gian mà bên trung gian phải tham gia giao dịch với bên thứ ba để hoàn thành yêu cầu mà bên thuê dịch vụ giao cho Khi tham gia giao dịch với bên thứ ba, bên trung gian có thể làm việc với nhiều tư cách như: nhân danh chính mình hoặc nhân danh bên thuê dịch vụ, hoặc cũng có thể họ chỉ thực hiện nhiệm
vụ giới thiệu bên thứ ba với bên thuê dịch vụ mà không có quan hệ gì với bên thứ ba Trong trường hợp bên trung gian thực hiện các hoạt động thương mại với bên thứ ba nhân danh bên thuê dịch vụ (trong phạm vi được ủy quyền) sẽ làm phát sinh quan hệ hợp đồng giữa bên thuê dịch vụ và bên thứ ba Trong trường hợp bên trung gian nhân danh chính mình thực hiện các hoạt động thương mại với bên thứ ba, quan hệ hợp đồng theo đó sẽ phát sinh giữa bên trung gian với bên thứ ba
Trang 5
3 Vai trò của trung gian thương mại
Hoạt động trung gian thương mại mang lại hiệu quả lớn cho các thương nhân trong quá trình tổ chức mạng lưới phân phối, tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ ở trong nước cũng như ở ngoài nước
Các trung gian thương mại là chuyên gia trong lĩnh vực phân phối, tiêu thụ nên hơn ai hết, họ hiểu rõ những gì liên quan đến công việc của họ Thương nhân trung gian nắm
rõ tình hình thị trường, pháp luật, tập quán địa phương, có những mối quan hệ khách hang tiềm năng Chính vì vậy, họ có thể tư vấn cho nhà sản xuất, nhà đầu tư những điều tốt nhất trong lĩnh vực phân phối hàng hoá, giúp cho các nhà sản xuất dồn được toàn bộ thời gian và nguồn lực vào chuyên môn sản xuất mà không phải tự mình tìm kiếm nguồn lưu thông hàng hóa Nhờ vậy, hoạt động định doanh của cả hai bên đều đạt được hiệu quả cao
Ví dụ, người môi giới cổ phiếu có thể khuyên nhà đầu tư nên mua hoặc không nên mua loại cổ phiếu nào bởi họ biết rõ địa điểm, cách thức và thời gian mua hoặc bán cổ phiếu
có lợi nhất cho nhà đầu tư Họ có thể làm những công việc đó giúp nhà đầu tư một cách nhanh chóng và ít có sai sót
Các hoạt động trung gian thương mại góp phần thúc đẩy sản xuất, lưu thông hàng hoá
và từ đó thúc đẩy kinh tế phát triển
Hoạt động trung gian thương mại phát triển làm cho khối lượng hàng hoá lưu thông trên thị trường tăng lên, giao lưu kinh tế giữa các vùng trong một nước cũng như giữa các nước với nhau được đẩy mạnh, góp phần thúc đẩy hoạt động kinh tế của đất nước Thông qua các trung gian thương mại, người sản xuất có thể thiết lập một hệ thống phân phối hàng hoá đa dạng Tiêu biểu là hoạt động đại lý - được đánh giá là một phương thức kinh doanh có lợi cho người tiêu dùng Khách hàng có thể tiếp cận dễ dàng, thuận tiện, nhanh chóng với các sản phẩm chính hãng qua mạng lưới đại lý có mặt tại nhiều nơi mà vẫn đảm bảo về chất lượng và giá thành Trên cơ sở đó, thương nhân có thể mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hoá, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế
II CÁC LOẠI HÌNH TRUNG GIAN THƯƠNG MẠI
1 Đại diện cho thương nhân
• Khái niệm
Trang 6
Đại diện cho thương nhân được cho là hình thức trung gian thương mại phổ biến nhất trên thế giới Theo Luật Thương mại năm 2005: “Đại diện cho thương nhân là việc một thương nhân nhận uỷ nhiệm (gọi là bên đại diện) của thương nhân khác (gọi là bên giao đại diện) để thực hiện các hoạt động thương mại với danh nghĩa, theo sự chỉ dẫn của thương nhân đó và được hưởng thù lao về việc đại diện”
• Đăc điểm
Chủ thể: Quan hệ đại diện cho thương nhân phát sinh giữa bên đại diện và bên giao đại
diện Cả hai bên đều phải là thương nhân
Nội dung của hoạt động đại diện: Rất đa dạng, có thể thỏa thuận thực hiện một phần
hoặc toàn bộ các hoạt động thương mại thuộc phạm vi hoạt động của bên giao đại diện
Nó có thể bao gồm các hoạt động như tìm kiếm cơ hội kinh doanh cho bên giao đại diện, thay mặt bên giao đại diện để thực hiện các hoạt động nghiên cứu thị trường, lựa chọn đối tác, đàm phán, giao kết hợp đồng với bên thứ ba,…
Hình thức pháp lý: Thông qua hợp đồng đại diện cho thương nhân (phải được lập thành
văn bản hoặc các hình thức có giá trị tương đương)
Phạm vi đại diện: Các bên có thể thoả thuận về phạm vi của việc đại diện
Thời hạn đại diện cho thương nhân: Thời hạn đại diện sẽ do các bên thỏa thuận; trong
trường hợp các bên không có thỏa thuận, thời hạn đại diện chấm dứt khi bên giao đại diện thông báo cho bên đại diện về việc chấm dứt hợp đồng đại diện hoặc bên đại diện thông báo cho bên giao đại diện về việc chấm dứt hợp đồng
2 Môi giới thương mại
• Khái niệm
Theo Luật Thương mại 2005: “Môi giới thương mại là hoạt động thương mại, theo đó một thương nhân làm trung gian (gọi là bên môi giới) cho các bên mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ (gọi là bên được môi giới) trong việc đàm phán, giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá, dịch vụ và được hưởng thù lao theo hợp đồng môi giới”
• Đặc điểm
Chủ thể: Gồm bên môi giới và bên được môi giới, trong đó bên môi giới phải là thương
nhân, có đăng kí kinh doanh để thực hiện dịch vụ môi giới thương mại và không nhất thiết phải có ngành nghề đăng kí kinh doanh trùng với ngành nghề kinh doanh của các bên được môi giới Bên được môi giới không nhất thiết phải là thương nhân
Trang 7
Nội dung của hoạt động môi giới: Rất rộng, bao gồm nhiều hoạt động như tìm kiếm và
cung cấp thông tin cần thiết về đối tác cho bên được môi giới, tiến hành các hoạt động
về giới thiệu hàng hóa, dịch vụ cần môi giới, thu xếp để các bên được môi giới tiếp xúc
với nhau, giúp đỡ các bên được môi giới soạn thảo hợp đồng,…
Hình thức pháp lý: Quan hệ môi giới thương mại được thực hiện trên cơ sở hợp đồng
môi giới Hợp đồng môi giới được giao kết giữa bên môi giới và bên được môi giới
Phạm vi của hoạt động môi giới thương mại: Môi giới thương mại bao gồm tất cả các
hoạt động môi giới có mục đích kiếm lợi như môi giới mua bán hàng hóa, môi giới chứng khoán, môi giới bảo hiểm, môi giới tàu biển,…
3 Ủy thác mua bán hàng hóa
• Khái niệm
Theo Luật thương mại 2005: “Ủy thác mua bán hàng hoá là hoạt động thương mại, theo
đó bên nhận uỷ thác thực hiện việc mua bán hàng hoá với danh nghĩa của mình theo những điều kiện đã thoả thuận với bên uỷ thác và được nhận thù lao uỷ thác”
• Đặc điểm
Chủ thể: Quan hệ ủy thác mua bán hàng hoá được xác lập giữa bên ủy thác và bên nhận
ủy thác Bên nhận ủy thác phải là thương nhân kinh doanh mặt hàng phù hợp với hàng hoá được ủy thác và thực hiện mua bán hàng hoá theo những điều kiện đã thỏa thuận với bên ủy thác Thương nhân nhận ủy thác có thể nhận ủy thác mua bán hàng hoá cho nhiều bên ủy thác khác nhau Bên ủy thác là bên giao cho bên nhận ủy thác thực hiện việc mua bán hàng hoá theo yêu cầu và không nhất thiết phải có tư cách thương nhân Quan hệ ủy thác có thể bao gồm ủy thác mua và ủy thác bán hàng hoá
Nội dung của hoạt động ủy thác mua bán hàng hoá: Bao gồm việc giao kết, thực hiện
hợp đồng ủy thác giữa bên ủy thác và bên nhận ủy thác và giao kết, thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá giữa bên nhận ủy thác với bên thứ ba theo yêu cầu của bên ủy thác Nội dung của hoạt động ủy thác mua bán hàng hoá hẹp hơn so với nội dung của hoạt động đại diện cho thương nhân Bởi lẽ, đại diện cho thương nhân có thể được bên giao đại diện ủy quyền thực hiện nhiều hành vi thương mại khác nhau, trong khi bên nhận ủy thác chỉ được bên ủy thác ủy quyền mua bán hàng hoá cụ thể nào đó cho bên thứ ba
Hình thức pháp lý: Việc ủy thác mua bán phải được xác lập bằng hợp đồng Hợp đồng
Trang 8
ủy thác mua bán hàng hoá phải được lập thành văn bản hoặc các hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương
Phạm vi ủy thác: Bên nhận ủy thác thực hiện việc mua bán hàng hóa trong phạm vi ủy
thác của bên ủy thác
4 Đại lý thương mại
• Khái niệm
Theo Luật Thương mại 2005: “Đại lý thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên giao đại lý và bên đại lý thoả thuận việc bên đại lý nhân danh chính mình mua, bán hàng hoá cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng để hưởng thù lao”
• Đặc điểm
Chủ thể: Bên giao đại lý, bên đại lý và bên thứ ba Trong mối quan quan hệ đại lý tồn
tại song song hai nhóm quan hệ: quan hệ giữa bên giao đại lý và bên đại lý, quan hệ giữa bên đại lý và bên thứ ba Các quan hệ này phát sinh trên cơ sở hợp đồng Hai nhóm quan
hệ này có mối quan hệ vô cùng mật thiết với nhau Quan hệ giữa bên đại lý và bên giao đại lý là tiền đề cho những giao dịch của bên đại lý với bên thứ ba, vì chỉ khi bên giao đại lý ủy quyền cho bên đại lý thực hiện việc mua bàn hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho mình thì bên đại lý mới được tiến hành giao dịch thương mại với bên thứ ba vì lợi ích của bên giao đại lý
Nội dung của hoạt động đại lý: Bao gồm việc giao kết, thực hiện hợp đồng đại lý giữa
bên giao đại lý và bên đại lý và giaó kết, thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá hoặc cung ứng dịch vụ giữa bên đại lý với bên thứ ba theo yêu cầu của bên giao đại lý
Phạm vi hoạt động của đại lý thương mại: Đại lý thương mại trong Luật thương mại
2005 đã mở rộng phạm vi, quy định đại lý thương mại không chỉ hoạt động trong lĩnh vực mua bán hàng hóa nà còn cả cung ứng dịch vụ (như đại lý bảo hiểm, đại lý làm thủ
tục hải quan, đại lý internet )
Hình thức pháp lý: Quan hệ đại lý thương mại được xác lập bằng hợp đồng, được gọi là hợp đồng đại lý Hợp đồng đại lý được giao kết giữa thương nhân giao đại lý và thương nhân làm đại lý Hợp đồng đại lý phải được giao kết bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương
Trang 9
II MỘT SỐ KHÓ KHĂN, BẤT CẬP TRONG THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ TRUNG GIAN THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN
1 Một số khó khăn, bất cập trong thi hành pháp luật về trung gian thương mại tại Việt Nam
• Về đại diện cho thương nhân
Còn thiếu vắng các quy định pháp luật về nghĩa vụ của các bên trong quan hệ đại diện Nghĩa vụ về trung thành, cam kết không cạnh tranh, nghĩa vụ cẩn trọng,… của người đại diện chưa được đề cập đến Đối với nghĩa vụ của thương nhân đại diện, Luật Thương
mại quy định không rõ ràng về nghĩa vụ tiếp nhận các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch mà người đại diện cho thương nhân đã giao kết trong phạm vi đại diện Điều này đã góp phần tạo điều kiện cho các hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh của người đại diện đối với người được đại diện (biểu hiện qua các hành vi lôi kéo khách hang, nhận hoa hồng từ bên thứ ba,…) Bên cạnh đó, còn xảy ra tình huống người được đại diện từ chối thực hiện cam kết do người đại diện cứ đi đàm phán đã xác lập trong quá trình bàn đàm phán với lý do thiếu thẩm quyền
Thời hạn đại diện và chấm dứt quan hệ đại diện cần được sửa đổi và bổ sung Thời hạn
đại diện không được quy định một cách cụ thể, tập trung về nội dung thời hạn, ngoại trừ quy định về thời hạn ủy quyền theo chế định hợp đồng ủy quyền Về chấm dứt mối quan
hệ, các quy định nhìn chung cần được sửa đổi về cả nội dung và cấu trúc
Còn kém linh hoạt trong việc thừa nhận phạm vi đại diện, thẩm quyền đại diện Việc
xác định thẩm quyền đại diện theo ủy quyền và quan hệ đại diện cho thương nhân phải thể hiện bằng văn bản, quá coi trọng hình thức văn bản, không thừa nhận thông lệ thương mại, tập quán thương mại
• Về ủy thác mua bán hàng hóa
Mâu thuẫn giữa quy định của Luật Thương mại và Bộ luật Dân sự Về bản chất, hoạt
động ủy thác mua bán hàng hóa là một giao dịch đặc thù của giao dịch dân sự trong thương mại Bộ luật Dân sự sử dụng thuật ngữ giao dịch dân sự hay hợp đồng dân sự để chỉ các hoạt động trong giao lưu dân sự, trong khi Luật Thương mại sử dụng thuật ngữ hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa Khi nghiên cứu chế định này có thể nhận thấy, hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa thể hiện đầy đủ các yếu tố của một giao dịch thương mại và là một trong những giao dịch thương mại chủ yếu, quan trọng, cơ sở pháp lý cho
Trang 10
hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa được thực hiện nhưng không được quy định là giao dịch hay hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa trong Luật Thương mại Hơn thế, các điều luật trong chế định hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa về thực chất, phản ánh những yếu tố của các điều khoản hợp đồng Rõ ràng, có sự mâu thuẫn giữa nội dung và hình thức thể hiện của chế định Hơn nữa, Luật Thương mại sử dụng thuật ngữ uỷ thác trong khi Bộ luật Dân sự dùng thuật ngữ uỷ quyền mà chưa có sự phân định rõ ràng Tuy bản chất của uỷ quyền trong dân sự khác uỷ thác trong thương mại ở tư cách pháp lý của người thụ uỷ khi thực hiện nghĩa vụ uỷ nhiệm, nhân danh người chủ uỷ (trong uỷ quyền)
và nhân danh chính người thụ uỷ (trong uỷ thác)
Phạm vi ủy thác giới hạn Nguyên tắc thiện chí được coi là một trong những nguyên tắc
nền tảng khi xác lập và thực hiện các quyền, nghĩa vụ dân sự được Bộ luật Dân sự quy định và là điều kiện căn bản để các bên giao kết và thực hiện hợp đồng Sẽ không thể hình thành cam kết hay thoả thuận nếu không có thiện chí hay biểu hiện của thiện chí ở bất cứ giai đoạn nào của cam kết hay thoả thuận Tuy nhiên , điều 161 Luật Thương mại quy định: “Bên nhận uỷ thác có thể nhận uỷ thác mua bán hàng hoá của nhiều bên uỷ thác khác nhau” Trong thực tế, nếu bên nhận uỷ thác nhận uỷ thác bán hàng cho nhiều bên uỷ thác mà hàng hoá nhận uỷ thác cùng chủng loại, cùng tính năng sử dụng thì trong một chừng mực, đã vi phạm yêu cầu của nguyên tắc thiện chí Sẽ không thể coi là thiện chí thực hiện hợp đồng khi đang trong quá trình thực hiện hợp đồng với một bên, bên nhận uỷ thác nhận uỷ thác một chủng loại hàng tương tự của một đơn vị khác, dẫn đến khả năng không thể thực hiện đúng cam kết, vi phạm nghĩa vụ hợp đồng đã ký kết hoặc gây áp lực tăng phí uỷ thác
Thiếu nhiều quy định cần thiết liên quan đến phân chia lợi nhuận chênh lệch phát sinh
từ hoạt động ủy thác Đó là trường hợp bên nhận uỷ thác ký hợp đồng với khách hàng
theo những điều kiện thuận lợi hơn so với các điều kiện do bên uỷ thác đặt ra (bán hàng với giá cao hơn hoặc mua hàng với giá thấp hơn giá bên uỷ thác chỉ định) nhưng Luật Thương mại chưa có quy định cụ thể Thông thường, các bên có thể thoả thuận để phân chia khoản chênh lệch đó, tuy nhiên, đối với những khoản lợi nhuận có giá trị lớn hoặc trường hợp bên nhận uỷ thác mua hàng với giá cao hơn hoặc bán hàng với giá thấp hơn giá bên uỷ thác yêu cầu thì thoả thuận khó có thể đạt được
• Về môi giới thương mại