ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN THƯƠNG MẠI 2 Đề bài Pháp luật về trung gian thương mại THỰC HIỆN Họ và tên Ngô Hải Minh MSV 19061221 Lớp BSL 2002 3 Giảng viên ThS Nguyễn Đăng Duy, TS Hồ Ngọc Hiển MỤC LỤC Lời mở đầu 2 I Cơ sở lý thuyết về trung gian thương mại 3 1 Khái niệm trung gian thương mại 3 2 Phân loại trung gian thương mại 3 3 Đặc điểm của hoạt động trung gian thương mại 4 II Thực trạng hoạt động trung gian thương mại và một số kiến nghị 7 1 Một số vấn.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT -& -
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
MÔN THƯƠNG MẠI 2
Đề bài: Pháp luật về trung gian thương mại
THỰC HIỆN
Họ và tên : Ngô Hải Minh
MSV : 19061221
Lớp : BSL 2002 3
Giảng viên : ThS.Nguyễn Đăng Duy, TS.Hồ Ngọc Hiển
Trang 2MỤC LỤC
Lời mở đầu 2
I Cơ sở lý thuyết về trung gian thương mại 3
1.Khái niệm trung gian thương mại 3
2 Phân loại trung gian thương mại 3
3 Đặc điểm của hoạt động trung gian thương mại 4
II.Thực trạng hoạt động trung gian thương mại và một số kiến nghị 7
1 Một số vấn đề pháp lý trong hoạt động trung gian thương mại 7
1.1 Vấn đề pháp lý trong hoạt động đại diện cho thương nhân 7
1.2 Vấn đề pháp lý liên quan đến môi giới thương mại 8
1.3 Vấn đề pháp lý trong hoạt động ủy thác hàng hóa 8
1.4.Vấn đề pháp lý trong đại lý thương mại 9
2.Một số kiến nghị về hoạt động trung gian thương mại 10
Kết luận 11
Danh mục tài liệu tham khảo 11
Lời mở đầu
Trong nền kinh tế sản xuất hàng hoá, hoạt động trao đổi hàng hoá, dịch vụ giữa các thương nhân thông qua mua bán là điều kiện quan họng cho sự tồn tại và phát triển của xã hội Khi mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ trên thị trường, tùy thuộc vào đối tượng giao dịch, thời gian giao dịch, thị trường cũng như tính chất, thời cơ của từng thương vụ, thương nhân có thể lựa chọn phương thức giao dịch cho phù hợp Trong lịch sử phát triển thương mại có rất nhiều phương thức giao dịch khác nhau Phương thức giao dịch mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ phổ biến nhất là phương thức giao dịch trực tiếp
Tuy nhiên, đối với các thương nhân vừa và nhỏ hoặc lần đầu tiên tham gia thị trường, đặc biệt là thị trường quốc tế hoặc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ mới hoặc tại thị trường mới thì phương thức giao dịch trực tiếp chưa hẳn đã tốt, dễ gây rủi
ro Trong những trường hợp này, thương nhân thường sẽ lựa chọn phương thức giao dịch qua trung gian Vì vậy, em đã chọn đề tài “ pháp luật về trung gian thương mại”
Trang 3Bài viết, hy vọng có thể giúp người đọc có hình dung một cách khái quát nhất cơ sở lý thuyết, các vấn đề pháp lý, những điểm còn bất cập trong hoạt động trung gian thương mại
I Cơ sở lý thuyết về trung gian thương mại
1.Khái niệm trung gian thương mại
Giao dịch qua trung gian trong hoạt động thương mại là phương thức giao dịch trong đó mọi việc thiết lập quan hệ giữa người mua và người bán hàng hoá (người cung ứng dịch vụ và người sử dụng dịch vụ) và việc xác định các điều kiện giao dịch phải thông qua một người trung gian Trong phương thức giao dịch qua trung gian sẽ xuất hiện một chủ thể thứ ba, người này đứng ở vị trí độc lập với hai bên còn lại trong quan hệ và là người thực hiện dịch vụ theo sự ủy quyền và vì lợi ích của người khác
để hưởng thù lao Phương thức giao dịch qua trung gian được thực hiện chủ yếu trong lĩnh vực phân phối thương mại và đối với nhà sản xuất thì thông qua bên trung gian giúp họ tiếp cận với khách hàng, với người tiêu dùng một cách nhanh chóng hơn Dưới góc độ pháp lý, hiện tượng thương nhân nhận ủy quyền của người khác để tiến hành các hoạt động vì lợi ích của bên ủy quyền để mua, bán hàng hoá hoặc cung ứng dịch vụ thương mại được pháp luật một số nước khái quát bằng khái niệm “trung gian tiêu thụ” hoặc “đại diện thương mại” Các hiện tượng này được khái quát theo luật Anh - Mỹ dưới khái niệm Agency, luật Pháp: Agent commercial, luật Đức:
Absazmittler
Ở Việt Nam, hoạt động trung gian thương mại được xác định là hoạt động của thương nhân để thực hiện các giao dịch thương mại cho một hoặc một số thương nhân được xác định và bao gồm hoạt động đại diện cho thương nhân, môi giới thương mại,
ủy thác mua bán hàng hoá và đại lý thương mại (Khoản 11 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005)
2 Phân loại trung gian thương mại
Theo Khoản 11 Điều 3 Luật Thương mại 2005 thì hoạt động trung gian
thương mại gồm: hoạt động đại diện cho thương nhân, môi giới thương mại, ủy thác mua bán hàng hoá và đại lý thương mại
Đại diện cho thương nhân là việc một thương nhân nhận uỷ nhiệm (gọi là
bên đại diện) của thương nhân khác (gọi là bên giao đại diện) để thực hiện các hoạt động thương mại với danh nghĩa, theo sự chỉ dẫn của thương nhân đó và được hưởng thù lao về việc đại diện Trong hoạt động này ta có thể hiểu đây là hoạt động thương mại giữa bên giao đại diện và bên đại diện với điều kiện cả hai bên đều phải là thương nhân Trong đó bên đại diện phải thay mặt bên giao đại diện thực hiện giao dịch với
Trang 4một bên thứ ba, các hành động của người đại diện phải tuân theo chỉ dẫn của người giao đại diện.Hai bên phải thỏa thuận với nhau dưới hình thức hợp đồng bên có thể ghi những vấn đề như: phạm vi đại diện; thời hạn đại diện; mức thù lao trả cho bên đại diện; thời điểm phát sinh quyền được hưởng thù lao, thời gian và phương thức thanh toán tiền thù lao cho việc đại diện; quyền và nghĩa vụ của các bên; trách nhiệm do vi phạm hợp đồng; hình thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng
Môi giới thương mại là hoạt động thương mại, theo đó một thương nhân làm
trung gian (gọi là bên môi giới) cho các bên mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ (gọi
là bên được môi giới) trong việc đàm phán, giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá, dịch
vụ và được hưởng thù lao theo hợp đồng môi giới”.Điều kiện để thực hiện hoạt động môi giới thương mại chính là bên môi giới phải là thương nhân có đăng ký kinh doanh ngành môi giới thương mại
Ủy thác mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên nhận uỷ thác
thực hiện việc mua bán hàng hoá với danh nghĩa của mình theo những điều kiện đã thoả thuận với bên uỷ thác và được nhận thù lao uỷ thác Giống với với các hoạt động trung bên ở trên bên trung gian(bên nhận ủy thác) bắt buộc phải là thương nhân, bên
ủy thác có thể là thương nhân hoặc không phải thương nhân.Bên nhận ủy thác sử dụng danh nghĩa của chính bên nhận ủy thác để mua hoặc bán hàng hóa thay cho bên ủy thác Đồng thời, bên ủy thác không được quyền ủy thác lại cho bên thứ ba thực hiện hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa nếu như không có sự chấp thuận bằng văn bản của bên ủy thác.Hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa bắt buộc phải được lập bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị tương đương.Bên nhận ủy thác thực hiện việc mua bán hàng hóa trong phạm vi ủy thác của bên ủy thác được ghi rõ trong hợp đồng
Đại lý thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên giao đại lý và bên đại
lý thỏa thuận việc bên đại lý nhân danh chính mình mua, bán hàng hóa cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng để hưởng thù lao Giống với hoạt động đại diện thì điều kiện để thực hiện hoạt động thương mại này là
cả hai bên đều phải là thương nhân.Trong quan hệ thương mại này, bên đại lý sẽ nhân danh chính mình để giao dịch với khách hàng Bên đại lý sẽ theo thỏa thuận, thực hiện bán hàng cho bên giao đại lý hoặc mua hàng hóa cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ giao đại lý cho khách hàng.Hợp đồng đại lý phải được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương
3 Đặc điểm của hoạt động trung gian thương mại
Thứ nhất, hoạt động trung gian thương mại là loại hoạt động cung ứng dịch
vụ thương mại được thực hiện theo phương thức giao dịch qua trung gian Bên trung gian được bên thuê dịch vụ trao quyền tham gia vào việc xác lập, thực hiện giao dịch thương mại với bên thứ ba vì lợi ích của bên thuê dịch vụ để hưởng thù lao
Trang 5Trong hoạt động trung gian thương mại, bên trung gian (bên đại diện, bên môi giới, bên nhận ủy thác, bên đại lý) có vai trò làm cầu nối giữa bên thuê dịch vụ và bên thứ ba Bên trung gian thực hiện việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thương mại với bên thứ ba không vì lợi ích của bản thân mình mà vì lợi ích của bên thuê dịch vụ (bên ủy quyền) Tuy nhiên, bên trung gian (bên được ủy quyền) sẽ được hưởng thù lao khi hoàn thành nhiệm vụ bên ủy quyền giao phó
Khác với những hoạt động thương mại thực hiện theo phương thức giao dịch trực tiếp, chỉ có sự tham gia của hai bên, hoạt động trung gian thương mại có sự tham gia của ba bên: Bên ủy quyền (bên thuê dịch vụ, gồm một hoặc một số tổ chức, cá nhân kinh doanh), bên thực hiện dịch vụ (bên được ủy quyền) và bên thứ ba (gồm một hoặc một số tổ chức, cá nhân kinh doanh) Trong các hoạt động trung gian thương mại này, bên được thuê làm dịch vụ là người trung gian nhận sự ủy quyền của bên thuê dịch vụ và thay mặt bên thuê dịch vụ thực hiện các hoạt động thương mại với bên (hoặc các bên) thứ ba Bên thuê dịch vụ sẽ ủy quyền cho bên thực hiện dịch vụ thay mặt mình mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thương mại với bên thứ ba (bên này
có thể do bên ủy quyền chỉ định trước hoặc do bên được ủy quyền tìm kiếm theo yêu cầu của bên ủy quyền), theo đó bên được ủy quyền sẽ có nhiệm vụ đàm phán giao dịch với bên thứ ba để thực hiện việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho bên ủy quyền theo yêu cầu của bên ủy quyền Khi giao dịch với bên thứ ba, thương nhân trung gian có thể sử dụng danh nghĩa của mình hoặc danh nghĩa của bên thuê dịch vụ Theo quy định của Luật Thương mại năm 2005, trong trường hợp thực hiện hoạt động đại lý thương mại, ủy thác mua bán hàng hoá hoặc môi giới thương mại, thương nhân trung gian sử dụng danh nghĩa của chính mình, còn khi thực hiện hoạt động đại diện cho thương nhân thì họ lại nhân danh bên ủy quyền để giao dịch với bên thứ ba Điều này có ý nghĩa quan trọng đối với việc xác định các nghĩa vụ phát sinh trong giao dịch đối với bên thứ ba sẽ thuộc về ai
Thứ hai, bên trung gian phải là thương nhân và có tư cách pháp lý độc lập với
bên thuê dịch vụ và bên thứ ba
Để thực hiện các hoạt động trung gian thương mại, bên trung gian (bên đại diện, bên môi giới, bên nhận ủy thác, bên đại lý) phải là thương nhân theo quy định tại Điều 6 Luật Thương mại năm 2005 Đối với một số hoạt động trung gian thương mại như: ủy thác mua bán hàng hoá, ngoài điều kiện là thương nhân bên trung gian còn phải có điều kiện khác như phải là thương nhân kinh doanh mặt hàng phù hợp với hàng hoá được ủy thác (Điều 156 Luật Thương mại năm 2005)
Trong quan hệ với bên thuê dịch vụ (bên ủy quyền) và bên thứ ba, bên trung gian thực hiện các hoạt động thương mại với tư cách pháp lý hoàn toàn độc lập và tự
do Bên trung gian là bên được ủy quyền cung ứng một dịch vụ thương mại cho bên
ủy quyền chứ không phải là người làm công ăn lương Điều này thể hiện qua việc bên
Trang 6trung gian cô trụ sở riêng, có tư cách pháp lý độc lập, tự định đoạt thời gian làm việc,
tự chịu trách nhiệm về các hoạt động của mình Điều này giúp ta phân biệt bên trung gian trong hoạt động thương mại với các chi nhánh, văn phòng đại diện do thương nhân lập ra để thực hiện hoạt động kinh doanh của thương nhân và những người lao động làm thuê cho thương nhân cũng như những người có chức năng đại diện như: giám đốc doanh nghiệp, thành viên hợp danh của công ty hợp danh Các chủ thể nói trên không có tư cách pháp lý độc lập và chỉ được thực hiện các hoạt động trong phạm
vi, quyền hạn theo quy định trong nội bộ của thương nhân đó
Thứ ba, hoạt động trung gian thương mại song song tồn tại hai nhóm quan hệ: (i) quan hệ giữa bên thuê dịch vụ và bên trung gian thực hiện dịch vụ; (ii) quan hệ giữa bên thuê dịch vụ, bên trung gian thực hiện dịch vụ với bên thứ ba Các quan hệ này đều phát sinh trên cơ sở hợp đồng
Xuất phát từ đặc trưng quan trọng nhất của hoạt động trung gian thương mại là loại hoạt động trong đó bên thuê dịch vụ sẽ trao cho bên trung gian quyền tham gia thiết lập, thực hiện các giao dịch thương mại Do đó, để thực hiện hoạt động trung gian thương mại, trước tiên bên có nhu cầu sử dụng dịch vụ của người trung gian và bên cung ứng dịch vụ trung gian phải thiết lập được quan hệ với nhau Quan hệ giữa bên thuê dịch vụ và bên trung gian thực hiện dịch vụ được thiết lập trên cơ sở tự do, thống nhất ý chí của các bên và hình thức của nó là hợp đồng
Tuy nhiên, hoạt động trung gian thương mại sẽ không thể thực hiện được nếu chỉ tồn tại quan hệ giữa bên thuê dịch vụ và bên trung gian Đe thực hiện hoạt động này, bên trung gian phải tham gia giao dịch với bên thứ ba để hoàn thành yêu cầu mà bên thuê dịch vụ giao cho Khi tham gia giao dịch với bên thứ ba, bên trung gian có thể làm việc với nhiều tư cách Họ có thể tạo ra một giao dịch thương mại nhân danh chính mình hoặc nhân danh bên thuê dịch vụ nhưng cũng có thể họ chỉ thực hiện nhiệm vụ giới thiệu bên thứ ba với bên thuê dịch vụ mà không có quan hệ gì với bên thứ ba
Trong trường hợp bên trung gian thực hiện các hoạt động thương mại với bên thứ
ba nhân danh bên thuê dịch vụ (trong phạm vi được ủy quyền) sẽ làm phát sinh quan
hệ hợp đồng giữa bên thuê dịch vụ và bên thứ ba Trong trường hợp bên trung gian nhân danh chính mình thực hiện các hoạt động thương mại với bên thứ ba thì quan hệ hợp đồng sẽ phát sinh giữa bên trung gian với bên thứ ba Tùy thuộc vào đối tượng của hợp đồng giao kết với bên thứ ba mà các hợp đồng đó có thể là hợp đồng mua bán hàng hoá hoặc hợp đồng dịch vụ
Các hoạt động dịch vụ trung gian thương mại đều phát sinh trên cơ sở hợp đồng như: hợp đồng đại diện cho thương nhân; hợp đồng môi giới thương mại; hợp đồng ủy thác mua bán hàng hoá; hợp đồng đại lý thương mại Các hợp đồng này đều có tính chất là hợp đồng song vụ, ưng thuận và có tính đền bù Hình thức của các hợp đồng
Trang 7đại diện cho thương nhân, hợp đồng ủy thác mua bán hàng hoá, hợp đồng đại lý
thương mại phải được thể hiện bằng văn bản hoặc các hình thức khác có giá trị pháp
lý tương đương với văn bản bao gồm: điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu (là thông tin được tạo ra, được gửi đi, được nhận và được lưu trữ bằng phương tiện điện tử) và các hình thức khác theo quy định của pháp luật
II.Thực trạng hoạt động trung gian thương mại và một số kiến nghị
1 Một số vấn đề pháp lý trong hoạt động trung gian thương mại
Ngày nay, trong điều kiện toàn cầu hoá, vai trò của các trung gian thương mại không chỉ được quan tâm trong hoạt động thương mại nội địa mà được chú trọng trong thương mại quốc tế Thương nhân có thể mở rộng sản xuất kinh doanh, nâng cao
uy tín của mình khi vươn tới thị trường nước ngoài Khi xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ
ra nước ngoài, các nhà xuất khẩu sẽ gặp nhiều khó khăn và luôn phải đối mặt với những rủi ro về việc lựa chọn đối tác, về thị trường, về tín dụng, về sự am hiểu pháp luật của nước nhập khẩu Các rủi ro này có thể hạn chế được nếu nhà xuất khẩu hợp tác với các trung gian thương mại của nước nhập khẩu
Thực tế đã cho thấy, có nhiều tranh chấp phát sinh trong hoạt động trung gian thương mại Các tranh chấp này khá phong phú, đa dạng về chủ thể cũng như nội dung Chúng có thể là tranh chấp giữa bên thuê dịch vụ và bên trung gian phát sinh từ việc bên trung gian không trung thực làm ảnh hưởng tới lợi ích của bên thuê dịch vụ hoặc khi bên thuê dịch vụ không thực hiện nghĩa vụ trả thù lao hay đã đơn phương chấm dứt hợp đồng hoặc là tranh chấp giữa bên thứ ba với bên thuê dịch vụ, bên trung gian do các bên không thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ của mình …
1.1 Vấn đề pháp lý trong hoạt động đại diện cho thương nhân
Trong thực tiễn, trong hoạt động đại diện cho thương nhân các trường hợp
giao dịch dân sự do một người đại diện cho người khác xác lập, thực hiện mà không
có thẩm quyền hoặc vượt quá thẩm quyền đại diện diễn ra rất nhiều Việc người đại diện vượt quá thẩm quyền của mình có thể vì lợi ích của pháp nhân, cũng có thể vì lợi ích cá nhân mà khiến người đại diện có thêm lợi ích hoặc nhiều thiệt hại mà người đại diện không hề biết.Trong Bộ luật Dân sự 2015 đã quy định trong hai điều: Điều 142
“Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện thực hiện”
và Điều 143 “Hậu quả của giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện” Sau khi đọc hai điều luật này ta có thể thấy hai điều luật này có
sự tương đồng nhau về mặt nội dung đến sự khác nhau ở hai từ “đồng ý” và “công nhận” cũng có ý nghĩa tương đương nhau, đều thể hiện ý chí của người được đại diện đồng thuận với hành động của người đại diện thể hiện ở việc chủ thể đó biết được hợp
Trang 8đồng được người đại diện xác lập, thực hiện trên danh nghĩa của mình mà không phản đối hoặc biết nhưng im lặng và vẫn tiếp nhận hậu quả phát sinh từ hợp đồng hoặc biết nhưng im lặng và có tham gia vào một hoặc một số công đoạn trong thực hiện hợp đồng đó như nhận tiền, ký các văn bản liên quan đến việc thực hiện hợp đồng Việc quy định như trên không những không có ý nghĩa phân biệt giao dịch do người không
có thẩm quyền đại diện xác lập đối với giao dịch do người đại diện xác lập vượt quá thẩm quyền mà còn gây rườm rà khó hiểu cho người tra cứu
1.2 Vấn đề pháp lý liên quan đến môi giới thương mại
So với các hoạt động trung gian thương mại khác được quy định trong Luật
thương mại 2005, có thể thấy đối với môi giới thương mại luật không quy định về hình thức của hợp đồng, trong khi đó các hoạt động trung gian thương mại khác đều
có quy định về hình thức của hợp đồng phát sinh giữa bên thực hiện dịch vụ và bên nhận dịch vụ Luật thương mại 2005 không đề cập tới vấn đề hình thức của hợp đồng môi giới thương mại, điều này tạo điều kiện cho các hoạt động môi giới có thể tiến hành nhanh chóng, thuận tiện Tuy nhiên việc không quy định như vậy cũng có mặt trái, đó là làm phát sinh những vấn đề tiềm ẩn về tranh chấp giữa các bên thực hiện dịch vụ môi giới và bên được môi giới Trên thực tế có những hợp đồng môi giới được giao kết với giá trị lớn như môi giới bất động sản, môi giới chứng khoán, môi giới đưa người lao động ra nước ngoài làm việc… việc không quy định về hình thức của hợp đồng rất dễ gây rủi ro cho các bên đặc biệt là những hợp đồng có giá trị lớn như trên
Để tránh những vướng mắc này xảy ra giữa các bên, pháp luật cần có hướng dẫn cụ thể về hợp đồng môi giới thương mại sao cho có sự phù hợp, thống nhất với các hoạt động môi giới chuyên ngành khác
Một vướng mắc khác mà hoạt động môi giới thương mại trong thực tế gặp phải,
đó là vấn đề về chế độ thanh toán chi phí, thù lao Thù lao trong hoạt động thương mại
là khoản tiền mà bên được môi giới phải trả cho bên môi giới khi bên môi giới giúp bên được môi giới làm việc với bên thứ ba Thù lao có thể bao gồm cả những chi phí
mà bên môi giới bỏ ra khi thực hiện công việc giao dịch, được gọi là chi phí môi giới Luật thương mại 2005 chưa có quy định về trường hợp khi các bên không có thỏa thuận thì khi nào bên môi giới được hưởng thù lao môi giới, khi nào được hưởng chi phí môi giới Hay trường hợp bên môi giới ký hợp đồng môi giới với cả hai bên được môi giới thì thù lao tính như thế nào?
1.3 Vấn đề pháp lý trong hoạt động ủy thác hàng hóa
Trong hoạt động ủy thác hàng hóa các vấn đề thường gặp có thể kể tới như:
Thứ nhất,về nhận uỷ thác của nhiều bên Nguyên tắc thiện chí được coi là một
trong những nguyên tắc nền tảng khi xác lập và thực hiện các quyền, nghĩa vụ dân sự
và là điều kiện căn bản để các bên giao kết và thực hiện hợp đồng Tuy nhiên, giữa nguyên tắc chung và các quy định cụ thể của Luật thương mại lại không thống nhất
Trang 9Luật thương mại quy định, bên nhận uỷ thác có thể nhận uỷ thác mua bán hàng hoá của nhiều bên uỷ thác khác nhau Trong thực tế, nếu bên nhận uỷ thác nhận uỷ thác bán hàng cho nhiều bên uỷ thác mà hàng hoá nhận uỷ thác cùng chủng loại, cùng tính năng sử dụng thì trong một chừng mực, đã vi phạm yêu cầu của nguyên tắc thiện chí
Thứ hai,về lợi nhuận chênh lệch phát sinh Đó là trường hợp bên nhận uỷ thác ký
hợp đồng với khách hàng theo những điều kiện thuận lợi hơn so với các điều kiện do bên uỷ thác đặt ra Thông thường các bên có thể thỏa thuận để phân chia khoản chênh lệch đó, tuy nhiên đối với những khoản lợi nhuận có giá trị lớn hoặc trường hợp
bên nhận uỷ thác mua hàng với giá cao hơn hoặc bán hàng với giá thấp hơn giá bên uỷ thác yêu cầu thì thoả thuận khó có thể đạt được
Thứ ba, về xử lý hàng hoá uỷ thác không được tiếp nhận Trong thực tế, hàng hoá
được uỷ thác mua đã sẵn sàng giao nhận theo yêu cầu của bên uỷ thác nhưng người chủ uỷ, vì nhiều lý do khác nhau, không tiếp nhận hàng hóa được uỷ thác mặc dù người nhận uỷ thác, trong quá trình thực hiện hợp đồng, đã thực hiện theo các chỉ dẫn và đã nhận thù lao uỷ thác Điều này có thể dẫn đến nhiều rắc rối cho người nhận
uỷ thác trong việc giải phóng hàng và thanh lý hợp đồng (thời hạn cập cảng, phí thuê tàu, địa điểm và phí lưu kho ) Đây cũng là những đòi hỏi bức thiết cần có quy định
cụ thể của pháp luật xử lý trường hợp hàng hoá uỷ thác mua không được tiếp nhận
Thứ tư,về phạm vi uỷ thác Với phạm vi uỷ thác được quy định như hiện nay trong
Luật thương mại sẽ là bất cập khi các chủ thể, trong hoạt động thương mại muốn sử dụng uỷ thác như một hành vi kinh doanh (uỷ thác đầu tư xây dựng, uỷ thác cho vay tín dụng, uỷ thác cho thuê tài sản ) nhưng không có hình thức pháp lý phù hợp Khi hoàn thiện Luật thương mại 2005, chế định hợp đồng uỷ thác cần mở rộng phạm vi áp dụng, theo đó các quy định về uỷ thác áp dụng với các trường hợp uỷ thác thực hiện các công việc khác ngoài mua bán hàng hoá Đây là hướng sửa đổi, bổ sung thực sự cần thiết bởi thực tiễn ngày càng khẳng định vai trò của uỷ thác trong kinh doanh và các hình thức tồn tại đa dạng, phổ biến của uỷ thác trong thương mại
1.4.Vấn đề pháp lý trong đại lý thương mại
Trong hoạt động đại lý thương mại khi xảy ra tranh chấp vấn đề xác định tư cách chủ thể gây ra rất nhiều khó khăn.Về nguyên tắc, tranh chấp giữa các bên trong hợp đồng đại lý là tranh chấp kinh doanh thương mại vì cả hai bên đều là thương nhân Tuy nhiên, người làm đại lý bảo hiểm không có tư cách thương nhân, do đó tranh chấp giữa công ty bảo hiểm và người làm đại lý bảo hiểm không thể xác định là tranh chấp kinh doanh thương mại
Mặt khác, nếu xét vai trò, chức năng của người làm đại lý bảo hiểm cũng như theo quy định của pháp luật lao động thì cũng không đủ cơ sở cho rằng cá nhân hoạt động trung gian bảo hiểm này có tư cách là người lao động của của doanh nghiệp bảo hiểm theo quan hệ lao động làm công ăn lương Chính vì điều này mà trên thực tế chế
độ đãi ngộ của doanh nghiệp bảo hiểm đối với người trung gian bảo hiểm này không
Trang 10thống nhất, có doanh nghiệp áp dụng chế độ đãi ngộ như trong quan hệ lao động, có bảo hiểm xã hội, lương cơ bản và phần trăm hoa hồng trên doanh thu, có doanh
nghiệp đơn thuần chỉ trả thù lao đại lý, theo đó dẫn đến quyền lợi chính đáng của cá nhân hoạt động trung gian bảo hiểm không được đảm bảo, ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý nhà nước, dẫn đến hoạt động kinh doanh bảo hiểm lộn xộn và không theo một trật tự nhất định
2.Một số kiến nghị về hoạt động trung gian thương mại
Thứ nhất, về quy định đại diện vượt quá phạm vi thẩm quyền hoặc không có thẩm quyền đại diện Việc tách riêng làm hai điều luật trong khi nội dung của chúng là tương tự nhau như đã phân tích ở phần 1.1 là gây ra rất nhiều khó hiểu và nhầm lẫn cho người đọc Nên gộp chung lại thành 1 điều luật có thể bao quát vấn đề, vừa đảm bảo gọn gàng, khoa học không gây ra nhiều tranh cãi,tạo điều kiện thuận lợi cho người dân khi tra cứu và nắm bắt nội dung của các điều luật
Thứ hai, hoàn thiện pháp luật về hoạt động môi giới,có hướng dẫn cụ thể về hợp đồng môi giới thương mại sao cho có sự phù hợp, thống nhất với các hoạt động môi giới chuyên ngành khác Đây là cách vừa có thể tạo điều kiện cho ngành môi giới phát triển khi không có quy định bắt buộc về mặt hình thức hợp đồng môi giới nhưng vẫn
có thể tránh được một số tranh chấp khi hai bên giao kết hợp đồng môi giới Đồng thời, quy định rõ hơn về thù lao môi giới, ví dụ như nếu bên được môi giới giao kết thành công hợp đồng với bên thứ ba, thì thù lao môi giới phải do cả hai bên này cùng thanh toán; nếu giao kết hợp đồng với bên thứ ba không thành công thì bên được môi giới phải thanh toán thù lao bao gồm cả chi phí môi giới mà bên môi giới đã bỏ ra Đối với trường hợp bên môi giới giao kết hợp đồng với cả hai bên được môi giới thì thù lao được xét trong mối quan hệ giao dịch thương mại, chứ bên môi giới không thể hưởng thù lao từ cả hai bên được môi giới trong cùng một giao dịch
Thứ ba, hoàn thiện chế định hợp đồng đối với các hoạt động trung gian thương mại và phân định rõ ràng thuật ngữ ủy thác trong Luật Thương mại; quy định nhận uỷ thác của nhiều bên chỉ trong trường hợp hợp đồng không có thỏa thuận khác, về việc phân chia lợi nhuận chênh lệch phát sinh, về xử lý hàng hoá uỷ thác không được tiếp nhận; mở rộng phạm vi uỷ thác đối với các công việc khác ngoài mua bán hàng hóa Thứ tư, hoàn thiện khung pháp lý, làm rõ các căn cứ trong việc xác định loại tranh chấp hợp đồng đại lý thương mại là tranh chấp dân sự hay thương mại hay lao động.Do đó, khi có tranh chấp liên quan đến hợp đồng này, có thể xác định chính xác
tư cách của đại lý bảo hiểm để có đường hướng xét xử chính xác và triệt để