1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Pháp luật điều chỉnh thương mại điện tử (LTM2)

27 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Pháp Luật Điều Chỉnh Về Thương Mại Điện Tử
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật Thương Mại
Thể loại Đề Tài
Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 672,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KHOA LUẬT ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI  Đề tài Pháp luật điều chỉnh về thương mại điện tử Nhóm 10 Luật Thương mại 2 MỤC LỤC I Khái quát chung về thương mại điện tử 3 1 Khái niệm thương mại điện tử 3 2 Đặc điểm của thương mại điện tử 3 3 Vai trò của thương mại điện tử 5 II Pháp luật về thương mại điện tử 6 1 Khái niệm pháp luật về thương mại điện tử 6 2 Hệ thống các văn bản pháp luật về thương mại điện tử 7 3 Nội dung cơ bản về pháp luật thương mại điện tử 8 3 1 Phạm vi điều chỉnh, đối tượng.

Trang 1

KHOA LUẬT ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

- -Đề tài: Pháp luật điều chỉnh về thương mại điện tử

Nhóm 10: Luật Thương mại 2

***

Trang 2

MỤC LỤC

I Khái quát chung về thương mại điện tử.

1 Khái niệm thương mại điện tử.

- Khái niệm thương mại điện tử: (Electronic commerce) là việc thực hiện một phầnhoặc toàn bộ các bước của hoạt động thương mại điện tử bằng cách truyền thôngtin dưới dạng thông điệp dữ liệu, các thông điệp này được kết nối Internet, mạngviễn thông di động và các mạng mở khác

2 Đặc điểm của thương mại điện tử.

• Thứ nhất, trong thương mại điện tử, các bên giao dịch không tiếp xúc trựctiếp và không đòi hỏi phải biết nhau từ trước Trong hoạt động thương mạitruyền thống, các bên thường gặp nhau trực tiếp để tiến hành giao dịch Cácgiao dịch được thực hiện dựa trên nguyên tắc vật lý, như chuyển tiền, séc,hoá đơn, vận đơn, gửi báo cáo Các phương tiện viễn thông như: telex,fax chỉ được sử dụng để trao đổi số liệu kinh doanh Việc sử dụng cácphương tiện điện tử trong thương mại truyền thống chỉ để chuyển tải thôngtin một cách trực tiếp giữa hai đối tác của cùng một giao dịch

• Thứ hai, trong hoạt động thương mại truyền thống có sự tồn tại khái niệm

“biên giới quốc gia” thì trong thương mại điện tử, người ta hoạt động ở môitrường “không biên giới”, đó là thị trường mở hay còn gọi thị trường toàncầu Chính vì lẽ đó mà thương mại điện từ tác động trực tiếp môi trườngcạnh tranh toàn cầu Thương mại điện tử càng phát triển thì nhu cầu sử dụngmáy tính cá nhân trở thành yếu tố không thiểu được đối với các doanhnghiệp định hướng tham gia thị trường quốc tế Với thương mại điện tử,

Trang 3

doanh nghiệp (cho dù mới thành lập) đều có thể tham gia vào thị trường toàncầu (ví dụ người Anh, Nhật Bản ) mà không hề phải bước ra khỏi đất nước.Điều đó khác hẳn với việc thực hiện mở rộng thị trường thương mại truyềnthống như trước kia Tuy nhiên, trong thương mại điện tử, người ta sẽ gặpphải khó khăn trong việc xác định địa điểm kinh doanh của thương nhân;doanh nghiệp giao dịch sẽ trở nên khó xác định hơn so với việc thực hiệnhoạt động thương mại truyền thống.

• Thứ ba, trong thương mại truyền thống, mạng lưới thông tin là phương tiện

để trao đổi dữ liệu; còn trong thương mại điện tử, thì mạng lưới thông tin làthị trường kinh doanh Thông qua thương mại điện tử, nhiều loại hình kinhdoanh được ra đời Ví dụ như: dịch vụ gia tăng giá trị trên mạng máy tínhhình thành nên các nhà trung gian ảo là các dịch vụ môi giới cho giới kinhdoanh và tiêu dùng các siêu thị đo được hình thành để cung cấp hàng hoá vàdịch vụ trên mạng máy tính

• Thứ tư, hoạt động giao dịch thương mại điện tử đều có sự tham gia của bênthứ ba Ngoài những chủ thể tham gia quan hệ giao dịch giống như quan hệgiao dịch thương mại truyền thống, đã xuất hiện thêm bên thứ ba, đó là nhàcung cấp dịch vụ mạng, các cơ quan chứng thực Đó là những người tạo ramội trường cho các giao dịch thương mại điện tử Nhà cung cấp dịch vụmạng và cơ quan chứng thực có nhiệm vụ chuyển đi và lưu trữ các thông tingiữa các bên tham gia giao dịch thương mại điện tử Đồng thời, họ cũng xácđịnh độ tin cậy của các thông tin trong giao dịch thương mại điện tử Điều

đó cũng thể hiện điểm đặc biệt là bên thứ ba trong giao dịch thương mại điện

tử TMĐT phụ thuộc vào sự phát triển của hạ tầng công nghệ thông tin, viễnthông và các công nghệ cao cấp khác

• Thứ năm, các loại hình giao dịch thương mại điện tử rất đa dạng: Giao dịchgiữa doanh nghiệp với doanh nghiệp -B2B (Business to business) được xem

là mô hình phát triển mạnh trong ngành thương mại điện tử, Mô hình B-B áp

Trang 4

dụng trong việc giao tiếp, mua bán, sử dụng dịch vụ, sản phẩm giữa cácdoanh nghiệp với doanh nghiệp Thành phần tham gia hoạt động thương mại

là các doanh nghiệp, tức người mua và người bản đểu là doanh nghiệp Sửdụng Internet để tạo mối quan hệ giữa nhà cung cấp và các cửa hàng thôngqua các vấn đề về chất lượng, dịch vụ Marketing giữa hai đối tượng này làmarketing công nghiệp Hình thức này phổ biến nhanh hơn B2C Kháchhàng là doanh nghiệp có đủ điều kiện tiếp cận và sử dụng Internet hay mạngmáy tính, thanh toán bằng điện tử

• Thứ sáu, thương mại điện tử phụ thuộc vào mức độ số hóa (thương mại sốhóa) Tùy thuộc vào mức độ số hóa của nền kinh tế và khả năng hội nhập sốhóa với nền kinh tế toàn cầu mà thương maị điện tử có thể đạt được các cấp

độ từ thấp đến cao Cấp độ thấp nhất là sử dụng thư điện tử, sau đó là sửdụng internet để tìm kiếm thông tin mà đặt hàng trực tuyến và dịch vụ trựctuyến, tiếp đến là xây dựng các website cho hoạt động kinh doanh và cuốicùng là áp dụng toàn bộ các giải pháp về thương mại điện tử

3 Vai trò của thương mại điện tử.

• Kinh doanh trên phạm vi toàn cầu:

Khi bạn kinh doanh theo hình thức truyền thống thì mọi giao dịch của bạn sẽ

bị phụ thuộc rất nhiều vào vị trí địa lý, điều này sẽ làm hạn chế cho cả ngườikinh doanh và người tiêu dùng khi muốn sử dụng một sản phẩm từ nơi khác

mà không thể mua được.Và website thương mại điện tử ra đời chính là mộtgiải pháp tuyệt vời cho thực trạng này, nhờ có thương mại internet bạn cóthể tiếp cận được với tất cả các khách hàng ở mọi nơi mà không cần tốnnhiều chi phí

Nhanh chóng và tiện lợi:

Việc quản lý kinh doanh qua các kênh điện tử rất đơn giản mà không cần tốnnhiều thời gian và công sức Các trang web bán hàng có thể mở cửa 24/24,

Trang 5

điều này vừa giúp chủ đầu tư có thêm cơ hội để gia tăng số lượng sản phẩmbán ra, vừa phục vụ nhu cầu của khách hàng một cách kịp thời, mọi lúc mọinơi không lo bị giới hạn về thời gian Khi kinh doanh các mặt hàng qua kênhthương mại điện tử, các chủ doanh sẽ không cần bỏ ra quá nhiều chi phí đểthuê nhân viên phục vụ, mặt bằng, như dịch vụ bán hàng truyền thống Nhờvậy mà có thể giảm thiểu tối đa phí dịch vụ vào sản phẩm bán ra cho kháchhàng, điều sẽ thu hút được lượng người mua vô cùng lớn mà lợi nhuận cũngtăng lên đáng kể so với trước đây.

• Xử lý hàng tồn kho hiệu quả:

Bạn sẽ không phải đau đầu vì tình trạng hàng tồn kho như trước đây Mà trên

hệ thống quản lý sẽ báo tất cả số lượng những mặt hàng tồn để bạn sớm biết

từ trước và sẽ có cách đẩy hàng đi thật nhanh chóng mà vẫn thu được lợinhuận đáng kể

• Tiếp cận được nhu cầu của khách hàng một cách chính xác:

Nhờ được lập trình toàn bộ trên máy tính, nên có thể dễ dàng theo dõi thóiquen, nhu cầu, sở thích của từng khách hàng, từ đó sẽ biết được sản phẩmcủa mình đáp ứng phù hợp cho những nhóm khách hàng nào Vậy là chỉ cầntiếp cận được với các nhóm đó thì tỷ lệ bán được hàng là rất cao

• Tiết kiệm chi phí dịch vụ:

Khi kinh doanh các mặt hàng qua kênh thương mại điện tử, các chủ doanh sẽkhông cần bỏ ra quá nhiều chi phí để thuê nhân viên phục vụ, mặt bằng, như dịch vụ bán hàng truyền thống Nhờ vậy mà có thể giảm thiểu tối đa phídịch vụ vào sản phẩm bán ra cho khách hàng, điều sẽ thu hút được lượngngười mua vô cùng lớn mà lợi nhuận cũng tăng lên đáng kể so với trước đây

• Dễ dàng quản lý và bán hàng ở khắp mọi nơi:

Chỉ cần với một chiếc máy tính cầm tay là có thể quản lý và bán hàng được

ở bất cứ đâu mà không cần ngồi một chỗ trong văn phòng để trả lời tin nhắncủa khách hàng Vừa làm được các công việc khác nhau mà vẫn quản lý tốt

hệ thống bán hàng

Trang 6

II Pháp luật về thương mại điện tử.

1 Khái niệm pháp luật về thương mại điện tử.

- Theo quy định pháp luật:

" Pháp luật về thương mại điện tử là tổng thể các quy phạm pháp luật có tính bắtbuộc chung Hệ thống các quy tắc xử sự này có mối liên hệ nội tại mật thiết vớinhau Nội dung quy định và điều chỉnh được thể hiện trong các văn bản quy phạmpháp luật Điều chỉnh một lĩnh vực cụ thể, hệ thống quy phạm do các cơ quan nhànước có thẩm quyền ban hành Hệ thống quy tắc này hướng đến mục đích điềuchỉnh các quan hệ liên quan đến hoạt động thương mại dịch vụ "

⇒ Chúng ta có thể hiểu, pháp luật thương mại điện tử là hệ thống các quy địnhpháp luật Trong đó có các hoạt động thương mại, bao gồm: hoạt động thương mạihàng hóa và thương mại dịch vụ Với đối tượng là hàng hóa tham gia vào các giaodịch điện tử

2 Hệ thống các văn bản pháp luật về thương mại điện tử.

Trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay, chúng ta đã xây dựng được một loạtcác văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động thương mại điện tử Ba luật

có tính chất đặt nền tảng pháp lý cho Thương mại điện tử, đó là Luật thương mại,

Bộ luật Dân sự và Luật giao dịch điện tử

( Ngoài những văn bản trên, hoạt động Thương mại điện tử, các hoạt động liênquan đến Thương mại điện tử nói chung và việc giải quyết các tranh chấp trong

Trang 7

lĩnh vực Thương mại điện tử còn chịu sự điều chỉnh của một số luật như; LuậtCông nghệ thông tin năm; Luật viễn thông năm; Bộ luật Hình sự; Luật Bảo vệngười tiêu dùng; Luật Quảng cáo; Luật đầu tư; Luật Doanh nghiệp Ngoài các vănbản luật, Chính phủ và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã ban hành nhiều vănbản dưới luật để hướng dẫn cụ thể và quản lý các hoạt động giao dịch và các hoạtđộng liên quan trong Thương mại điện tử… )

• Về xử lý vi phạm trong lĩnh vực TMĐT có các Nghị định sau: Nghị định số158/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chínhtrong lĩnh vực văn hóa, thể thao du lịch và quảng cáo; Nghị định số174/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chínhtrong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyếnđiện; Nghị định số 25/2014/NĐ-CP ngày 07/4/2014 quy định về Phòng,chống tội phạm và vi phạm pháp luật khác có sử dụng công nghệ cao Cácnguyên tắc hoạt động trong thương mại điện tử, theo quy định tại Nghị định52/2013/NĐ-CP…

• Về Thông tư hướng dẫn thi hành, có các văn bản sau: Thông tư số78/2008/TT-BTC ngày 15/9/2008, của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một

số nội dung của Nghị định số 27/2007/NĐ-CP về giao dịch điện tử tronghoạt động tài chính; Thông tư số 12/2008/TT-BTTTT ngày 30/12/2008, của

Bộ Thông tin và Truyền thông hướng dẫn thực hiện một số nội dung củaNghị định số 90/2008/NĐ-CP của Chính phủ về chống thư rác; Thông tư03/2009/TT-BTC ngày 2/03/2009, của Bộ Tài chính quy định về mã số quản

lý đối với nhà cung cấp dịch vụ quảng cáo bằng thư điện tử, tin nhắn, nhàcung cấp dịch vụ tin nhắn qua mạng Internet, hướng dẫn thi hành Nghị định

số 90/2008/NĐ-CP; Thông tư số 50/2009/TT-BTC ngày 16/03/2009, của BộTài chính về việc hướng dẫn giao dịch điện tử trên thị trường chứng khoán;Thông tư 26/2009/TT-BTTTT ngày 31/07/2009, của Bộ Thông tin và Truyền

Trang 8

thông quy định về cung cấp thông tin và bảo đảm khả năng truy cập thuậntiện đối với trang thông tin điện tử của cơ quan nhà nước…

3 Nội dung cơ bản về pháp luật thương mại điện tử.

3.1 Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng trong thương mại điện tử.

- Phạm vi điều chỉnh:

Phạm vi điều chỉnh của hoạt động thương mại điện tử được quy định cụ thể tạiĐiều 1, Nghị định số 85/2021/NĐ-CP sửa đổi bổ sung nghị định số 52/2013/NĐ-CP:

- Nghị định này quy định về việc phát triển, ứng dụng và quản lý hoạt động thươngmại điện tử

- Hoạt động thương mại điện tử trong lĩnh vực dịch vụ tài chính, ngân hàng, tíndụng, bảo hiểm, xổ số; mua bán, trao đổi tiền, vàng, ngoại hối và các phương tiệnthanh toán khác; dịch vụ đặt cược hoặc trò chơi có thưởng; dịch vụ phân phối, pháthành sản phẩm nội dung thông tin số, dịch vụ phát thanh, truyền hình đã được quyđịnh tại pháp luật chuyên ngành không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị địnhnày.”

- Đối tượng áp dụng:

Theo Điều 2, Nghị định số 52/2013/NĐ-CP, tham gia hoạt động thương mại điện

tử trên lãnh thổ Việt Nam gồm 3 nhóm đối tượng sau:

- Thương nhân, tổ chức, cá nhân Việt Nam;

- Cá nhân nước ngoài cư trú tại Việt Nam;

- Thương nhân, tổ chức nước ngoài có sự hiện diện tại Việt Nam thông qua hoạtđộng đầu tư, lập chi nhánh, văn phòng đại diện, hoặc thiết lập website dưới tênmiền Việt Nam

Đối với thương nhân, tổ chức, cá nhân nước ngoài tiến hành hoạt động thương mạiđiện tử với chủ thể Việt Nam thì bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với Bộ Thông

Trang 9

tin và Truyền thông căn cứ điều kiện kinh tế, xã hội và yêu cầu quản lý các chủ thểtrên.

3.2 Các quy định về giao kết hợp đồng trong thương mại điện tử.

Với bản chất là giao dịch dân sự được thực hiện bằng phương tiện điện tử vàđược coi là hành vi bằng văn bản, giao dịch điện tử không bị mất đi giá trị pháp lý.Quy trình giao kết hợp đồng thương mại điện tử được quy định cụ thể tại mục 2(Điều 15 đến Điều 23) của Nghị định số 52/2013/NĐ-CP, ta có thể tóm lại bằng 3bước như sau:

Trong giao kết hợp đồng sẽ có định dạng thông báo rà soát nội dung , trả lời đềnghị hoặc chấm dứt đề nghị hợp đồng sẽ có những cách thức gần giống với hoạtđộng thương mại truyền thống

Tuy nhiên, với hình thức trên website thương mại điện tử sẽ có chế độ mặc địnhtrong trường hợp khách hàng không trả lời (như Điều 20 , Nghị định số52/2013/NĐ-CP về thương mại điện tử quy định về chấm dứt đề nghị giao kết hợpđồng)

Trang 10

3.3.Các quy định về hoạt động thương mại điện tử.

Pháp luật thương mại điện tử không điều chỉnh tất cả những hình thức củathương mại điện tử mà tập chung vào hình thức phổ biến và khả năng thực hiệnhoàn chỉnh một giao dịch thương mại điện tử

Căn cứ theo quy định tại Điều 25 Nghị định 52/2013/NĐ-CP về các hình thức tổchức hoạt động thương mại điện tử như sau:

- Website thương mại điện tử bán hàng là website thương mại điện tử do cácthương nhân, tổ chức, cá nhân thiết lập để phục vụ hoạt động xúc tiến thương mại,bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ của mình

- Website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử là website thương mại điện tử dothương nhân, tổ chức thiết lập để cung cấp môi trường cho các thương nhân, tổchức, cá nhân khác tiến hành hoạt động thương mại Website cung cấp dịch vụthương mại điện tử bao gồm các loại sau:

+ Sàn giao dịch thương mại điện tử;

+ Website đấu giá trực tuyến;

+ Website khuyến mại trực tuyến;

+ Các loại website khác do Bộ Công Thương quy định

Các nguyên tắc hoạt động thương mại điện tử:

-Nguyên tắc tự do, tự nguyện thỏa thuận trong giao dịch thương mại điện tử Cácchủ thể tham gia hoạt động thương mại điện tử có quyền tự do thỏa thuận khôngtrái với quy định của pháp luật để xác lập quyền và nghĩa vụ của từng bên tronggiao dịch Thỏa thuận này là căn cứ để giải quyết các tranh chấp phát sinh trongquá trình giao dịch

- Nguyên tắc xác định phạm vi hoạt động kinh doanh trong thương mại điện tử.Nếu thương nhân, tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động bán hàng hóa, cung ứngdịch vụ và xúc tiến thương mại trên website thương mại điện tử không nêu cụ thể

Trang 11

giới hạn địa lý của những hoạt động này, thì các hoạt động kinh doanh đó được coi

là tiến hành trên phạm vi cả nước

- Nguyên tắc xác định nghĩa vụ về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hoạtđộng thương mại điện tử:

+ Người sở hữu website thương mại điện tử bán hàng và người bán trên websitecung cấp dịch vụ thương mại điện tử phải tuân thủ các quy định của Luật bảo vệquyền lợi người tiêu dùng khi cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho khách hàng;

+ Khách hàng trên website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử là người tiêu dùngdịch vụ thương mại điện tử và là người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ do người bántrên website này cung cấp;

+ Trường hợp thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ thương mại điện tử thực hiệndịch vụ cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ của người bán tới người tiêu dùngtrên website thương mại điện tử thì thương nhân, tổ chức đó là bên thứ ba trongviệc cung cấp thông tin theo pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

- Nguyên tắc kinh doanh các hàng hóa, dịch vụ hạn chế kinh doanh, kinh doanh cóđiều kiện, thuộc ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện thông qua thương mạiđiện tử Hoạt động thương mại điện tử đối với hàng hóa, dịch vụ hạn chế kinhdoanh, kinh doanh có điều kiện, thuộc ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiệnphải tuân thủ các quy định pháp luật liên quan Các chủ thể ứng dụng thương mạiđiện tử để kinh doanh hàng hóa, dịch vụ hạn chế kinh doanh hoặc hàng hóa, dịch

vụ kinh doanh có điều kiện phải tuân thủ các quy định pháp luật liên quan đến việckinh doanh hàng hóa, dịch vụ đó

3.4.Các quy định về hoạt động quản lý thương mại điện tử.

Thương mại điện tử với đặc thù gần như các hoạt động đều diễn ra trên Internet

và chỉ có giao nhận hàng hóa và dịch vụ là diễn ra 1 cách trực tiếp Vì thế, để đảm

Trang 12

bảo hoạt động kinh doanh diễn ra hiệu quả thì Nhà nước cần phải có quy định vềhoạt động quản lý thương mại điện tử đặc thù từ trung ương cho đến địa phương Hoạt động thương mại điện tử được quy định tại chương IV (từ điều 52 đến 67)Nghị định số 52/2013/NĐ-CP về thương mại điện từ có sửa đổi bổ sung tại nghịđịnh số 85/2021/NĐ-CP

Trong chương IV thì hoạt động quản lý nhà nước được áp dụng riêng với từnghình thức hoạt động website thương mại điện tử Và trong thiết chế thực thi quản lýnhà nước có các quy định về chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan quản

lý, chủ thể quản lý hoạt động thương mại điện tử

3.5 Các quy định về an toàn, an ninh trong giao dịch thương mại điện tử.

Thương mại điện tử luôn tiềm ẩn những rủi ro cao cho doanh nghiệp, cho ngườitiêu dùng và xã hội do các giao dịch đều tiến hành trong môi trường điện tử

Việc phát triển TMĐT là một trong những yếu tố quan trọng nhằm thúc đẩy pháttriển nền kinh tế, tuy nhiên việc phát triển TMĐT cũng cần phải đảm bảo an toàn,

an ninh mạng Do vậy chương V của nghị định số 52/2013/NĐ-CP quy định về antoàn, an ninh trong thương mại điện tử bao gồm:

Mục 1: bảo vệ thông tin cá nhân trong thương mại điện tử (từ điều 68-73)

Mục 2: Quy định về thanh toán trong thương mại điện tử (gồm điều 74 và 75).Ngoài ra thì còn có luật An toàn thông tin mạng năm 2015 có hiệu lực thi hành từngày 1/7/2016 quy định về hoạt động an toàn thông tin mạng, quyền trách nhiệmcủa cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc đảm bảo an ninh mạng, quản lý nhà nước

về thông tin mạng

Ví dụ: Khoản 2, điều 10 của luật này quy định: “Tổ chức cá nhân không được gửithông tin mang tính thương mại vào địa chỉ điện tử của người tiếp nhận khi chưađược người tiếp nhận đồng ý hoặc khi người tiếp nhận đã từ chối, trừ trường hợpngười tiếp nhận có nghĩa vụ phải tiếp nhận thông tin theo quy định của pháp luật”

Trang 13

→ Việc đảm bảo an toàn thông tin có ý nghĩa lớn trong hoạt động thương mại điện

tử Tạo tính bảo mật trong quan hệ người mua và bán

3.6 Các quy định về giải quyết tranh chấp trong thương mại điện tử.

Theo khảo sát của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) về

“Thúc đẩy giải quyết tranh chấp trực tuyến trong thương mại điện tử nhằm bảo vệngười tiêu dùng”, có 24,4% doanh nghiệp ghi nhận từng có tranh chấp với ngườimua, bên bán hoặc cả 2 trong thời gian qua Nguyên do chủ yếu là nhiều người bánhàng đã lợi dụng hình thức kinh doanh này để thực hiện các hành vi vi phạm phápluật, gây thiệt cho người tiêu dùng Theo đó, người dùng thường bị rơi vào cáctrường hợp như: Người bán hàng cung cấp thông tin về sản phẩm không đầy đủ,không chính xác về thành phần, không thực hiện trách nhiệm cung cấp hoá đơn,chứng từ giao dịch, vi phạm trách nhiệm về bảo hành, giao, nhận, đổi, trả hànghóa, giao hàng hỏng nhưng không thu hồi lại; hủy đơn hàng không có lý do…Một số quan hệ tranh chấp thương mại đặc thù có thể kể đến như sau:

• Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động: mua bán hàng hóa, cungứng dịch vụ; cho thuê, cho thuê mua, xây dựng, vận chuyển hàng hóa, giacông, ủy quyền, mua bán trái phiếu, cổ phiếu, đầu tư tài chính, ngân hàng,hợp tác, liên kết kinh doanh,…

• Tranh chấp giữa các bên phát sinh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ,chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đíchlợi nhuận

• Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động kinh doanh khác,

Vậy khi có tranh chấp xảy ra, các bên phải đảm bảo các nguyên tắc giải quyết tranhchấp trong thương mại điện tử như sau:

1. Thương nhân, tổ chức, cá nhân sở hữu Website thương mại điện tử có tráchnhiệm tiếp cận và xử lý khiếu nại của khách hàng có liên quan đến hợp đồnggiao kết trên Website thương mại điện tử của mình

Ngày đăng: 11/06/2022, 11:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w