1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tiểu luận Pháp luật phá sản doanh nghiệp

12 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 196,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KHOA LUẬT ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI 0 0 TIỂU LUẬN PHÁP LUẬT VỀ PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP HỌ VÀ TÊN NGUYỄN NHƯ SƠN TÙNG LỚP K64C MÃ SINH VIÊN 19061325 LỚP HỌC PHẦN BSL2002 3 HÀ NỘI – 2021 MỤC LỤC I, MỞ ĐẦU 1 II, NỘI DUNG 2 1, Khái quát về phá sản doanh nghiệp 2 1 1, Khái niệm của phá sản doanh nghiệp 2 1 2, Phân biệt phá sản doanh nghiệp với giải thể doanh nghiệp 2 2, Khái quát về pháp luật phá sản doanh nghiệp 3 2 1, Khái niệm pháp luật về phá sản doanh nghiệp 3 2 2, Vai trò của pháp luật về phá sản do.

Trang 1

KHOA LUẬT ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

0-0

TIỂU LUẬN

PHÁP LUẬT VỀ PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP

HÀ NỘI – 2021

Trang 2

MỤC LỤC

I, MỞ ĐẦU 1

II, NỘI DUNG 2

1, Khái quát về phá sản doanh nghiệp 2

1.1, Khái niệm của phá sản doanh nghiệp 2

1.2, Phân biệt phá sản doanh nghiệp với giải thể doanh nghiệp 2

2, Khái quát về pháp luật phá sản doanh nghiệp 3

2.1, Khái niệm pháp luật về phá sản doanh nghiệp 3

2.2, Vai trò của pháp luật về phá sản doanh nghiệp 3

3, Vai trò và chức năng của các chủ thể tham gia và quy trình tố tụng phá sản 5

III, KẾT LUẬN 9

IV, DANH MỤC THAM KHẢO 10

Trang 3

1

MỞ ĐẦU

Trong thời đại công nghiệp hóa hiện đại hóa như hiện nay, việc phát triển nền kinh tế thị trường đang là xu hướng được tất cả các quốc gia trên thế giới hướng tới, Việt Nam cũng không nằm ngoài quy đạo đó Chúng ta là một quốc gia đang phát triển với xu thế khởi nghiệp đang nở rộ trong mọi ngành nghề, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Nhà nước và chính phủ luôn tạo mọi điều kiện có thể, khuyến khích khởi nghiệp, xây dựng, thành lập doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh trong một môi trường an toàn, bình đẳng nhất Nhưng không phải doanh nghiệp nào cũng có thể thành công và tạo ra giá trị cho cộng đồng và xã hội, với sự cạnh tranh gắt gao tại thời điểm hiện tại, bất cứ sự chậm trễ nào đều sẽ bị loại bỏ ra khỏi thị trường một cách phũ phàng Để tránh xảy ra những hệ lụy cho vấn đề doanh nghiệp làm ăn thua lỗ và không có khả năng chi trả những khoản

nợ làm ảnh hưởng đến chủ nợ nói riêng và nên kinh tế nói chung, nhà nước đã xây dựng

và đưa vào sử dụng Luật Phá sản như một công cụ pháp lý giúp giải quyết những vẫn

đề trên

Tình hình doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay do dịch bệnh Covid 19 kéo dài dẫn đến những tác động to lớn vào thị trường Theo số liệu thống kê của Tổng cục thống kê thời điểm 9 tháng đầu năm 2021, có 2240 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn; có 2509 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể; có 606 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể Nhìn vào số liệu như vậy, đa phần chúng ta thấy được tình hình kinh tế đang có sự phục hồi sau giai đoạn nền kinh tế tê liệt do dịch kéo dài Nhưng dưới góc nhìn của một người làm luật có vẻ như Luật Phá sản đang trở nên ít được sử dụng hơn bao giờ hết vì hầu như các doanh nghiệp đều được đăng ký giải thể, vậy việc họ làm ăn thua lỗ dẫn đến những khoản nợ thì nếu công bố giải thể thì khoản

nợ ấy ai sẽ phải chịu trách nhiệm? “Cho đến nay, tổng số đơn khiếu nại đến tòa sán yêu cầu phá sản doanh nghiệp trên toàn quốc rất ít ỏi, số đơn được thụ lý và phán quyết còn

ít hơn” 1

Để làm rõ hơn vấn không sử dụng hoặc sử dụng không hiệu quả Luật Phá sản trong thời điểm hiện nay Em xin phép được phân tích đề tài: “Pháp luật về phá sản doanh nghiệp”

1 “Giáo trình luật Kinh tế”, Phạm Duy Nghĩa, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, 2015, tr.443

Trang 4

2

NỘI DUNG

1, Khái quát về phá sản doanh nghiệp:

1.1, Khái niệm về phá sản doanh nghiệp:

Cụm từ “Phá sản” đã được xuất hiện từ rất lâu trước đây, Ý là quốc gia đầu tiên khai sinh ra đạo luật phá sản trên thế giới từ thời kì La Mã cổ đại Đến thời Trung cổ, các quốc gia Châu Âu cũng ban hành luật phá sản và phát triển nó cho đến ngày nay Ban đầu, “Phá sản” được áp dụng trong lĩnh vực thương nghiệp nhưng sau này với sự bùng

nổ củaq thời kỳ tư bản chủ nghĩa, định nghĩa “Phá sản” mới được mở rộng ra để sử dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh

Ở Việt Nam, theo cách hiểu thông thường trong tiếng Việt phổ thông, “vỡ nợ”, “khánh tận”, “mất khả năng thanh toán” hay “Phá sản” được dùng để chỉ tình trạng không trả được nợ2 Điều này sẽ tạo ra những vấn đề vô cùng phức tạp cho xã hội phá sinh ra từ mâu thuẫn giữa các chủ nợ và doanh nghiệp Vậy nên, Chính phủ đã đưa Luật phá sản nhằm giải quyết, ngăn chặn các mâu thuẫn có thể xảy ra Luật Phá sản hiện hành năm

2014 nêu rõ: theo điều 4 khoản 2: “Phá sản là tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và bị Tòa án nhân dân đưa ra quyết định tuyên bố phá sản”.3

Dựa vào một số tính chất chúng ta có thể phân biệt ra những loại phá sản sau: căn cứ theo tính chất thì phá sản có hai loại là phá sản trung thực và phá sản gian dối Còn dựa trên căn cứ vào ý chí của Doanh nghiệp mắc nợ đối với việc yêu cầu mở thủ tục phá sản thì chúng ta chia ra hai loại là phá sản tự nguyện do doanh nghiệp đồng ý hoặc mong muốn được công nhận dừng hoạt động do không đủ kinh phí duy trì và phá sản bắt buộc

do Tóa án nhân dân tuyên bố vì doanh nghiệp không có khả năng thanh toán những khoản nợ

1.2, Phân biệt phá sản doanh nghiệp và giải thể doanh nghiệp:

Theo định nghĩa ở Luật Doanh nghiệp 2020, “Giải thể doanh nghiệp là việc chấm dứt

sự tồn tại của một doanh nghiệp theo ý chí của doanh nghiệp hoặc cơ quan có thẩm quyền” So với phá sản doanh nghiệp, thì việc giải thể doanh nghiệp có thể mang ý chí

2 “Giáo trình Luật Kinh tế”, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, 2015, tr.444

3 “Luật Phá sản” (2014)

Trang 5

3

của doanh nghiệp, doanh nghiệp được quyền yêu cầu giải thể trong trường hợp không còn khả năng kinh doanh Mặc dù hai thiết chế đều hướng tới việc thực hiện các nghĩa

vụ về tài sản nhưng trong trường hợp giải thể thì doanh nghiệp chỉ phải trả những khoảng phí nợ như lương, thưởng, thuế,… còn khi bị tòa án nhân dân tuyên bố phá sản thì tòa

án sẽ được coi là bên thứ ba giải quyết giám sát việc trả nợ của doanh nghiệp thế nên sẽ phát sinh ra những loại phí như chi phí phá sản, nợ phát sinh sau khi tuyên bố phá sản,…Những hậu quả pháp lý của hai thiết chế cũng ảnh hưởng khá nhiều đến doanh nghiệp cụ thể là chủ doanh nghiệp khi bị tuyên bố phá sản thì nhà nước có thể được hạn chế quyền tự do kinh doanh đối với chủ sở hữu hay người quản lý điều hành, còn đối với giải thể doanh nghiệp, nhà nước không có quyền hạn chế quyền tự do kinh doanh của chủ sở hữu tức là sau khi giải thể một doanh nghiệp thì chủ sở hữu có thể lập tức

mở thêm doanh nghiệp khác

2, Khái quát về pháp luật phá sản:

2.1, Khái niệm pháp luật về phá sản doanh nghiệp:

Pháp luật phá sản là có thể hiểu là tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã4 Nó ra đời như một yếu tố tất yếu và vô cùng quan trọng trong thời điểm kinh tế thị trường này để có thể giải quyết những vấn đề phát sinh khi doanh nghiệp không có khả năng chi trả những khoản nợ của mình Ngoài ra, pháp luật phá sản là một bộ phận cấu thành nhóm các chế định pháp luật về giải quyết hậu quả của khung pháp lý kinh tế trong nền kinh tế thị trường

Pháp luật phá sản điều chỉnh hai nhóm quan hệ xã hội: (a) quan hệ tài sản giữa chủ

nợ và con nợ, (b) quan hệ tố tụng giữa các đương sự với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.5

2.2, Vai trò của pháp luật về phá sản doanh nghiệp:

Pháp luật về phá sản doanh nghiệp có vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống kinh

tế - xã hội Nó được thể hiện ở những yếu tố cơ bản sau:

4 “Giáo trình Luật Thương mại Việt Nam – Tập 1”, NXB Tư pháp, 2019, Tr.446

5 “Giáo trình Luật Thương mại – Tập 2”, NXB Công an Nhân dân, 2008, Tr.352

Trang 6

4

Một là, pháp luật về phá sản doanh nghiệp được sinh ra nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các chủ nợ Chủ nợ là chủ thể bị ảnh hưởng lớn nhất chỉ sau doanh nghiệp khi doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản vì họ có nguy cơ mất tất cả những khoản kinh phí mà đã cung cấp cho con nợ Pháp luật phá sản trao cho chủ nợ quyền khởi động thủ tục phá sản như một biện pháp đòi nợ đặc biệt Yêu cầu Tòa án là bên thứ

ba với vai trò giám sát hành vi của con nợ cũng như tối đa hóa khả năng đòi nợ dưới sự cho phép của pháp luật Áp dụng thực tế, nếu như không có sự can thiệp của Tòa án nói chung hay thiết chế pháp luật nói riêng thì việc chủ nợ đòi con nợ sẽ tạo ra rất nhiều yếu

tố ảnh hưởng tới xã hội

Hai là, pháp luật về phá sản doanh nghiệp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động làm trong doanh nghiệp mất khả năng thanh toán Thật vậy, người lao động là người chịu ảnh hưởng trực tiếp khi doanh nghiệp phá sản, là thành phần yếu thế, tiền lương thưởng, tiền phụ cấp, tiền bảo hiểm xã hội,… của họ sẽ không được chi trả kịp thời Một doanh nghiệp thông thường có tới cả ngàn người lao động, phạm vi ảnh hưởng của việc phá sản sẽ không chỉ ảnh hưởng tới người lao động không mà sẽ còn ảnh hưởng tới tất cả những mối quan hệ của mỗi người lao động ấy nữa như gia đình, con cái, chủ

nợ, …

Ba là, pháp luật về phá sản doanh nghiệp cũng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính doanh nghiệp mất khả năng chi trả Con nợ cũng cần phải có những cơ chế để thoát khỏi khoản nợ một cách hợp pháp Ngoài ra, con nợ cũng sẽ tránh được tình trạng chủ nợ siết nợ bằng những hành vi gây nguy hiểm đến tính mạng, tinh thần Trong tố tụng phá sản, không có bất kì ai được quyền sử dụng những hành vi không được phép, trái pháp luật để đòi nợ

Bốn là, pháp luật phá sản doanh nghiệp sẽ góp phần tổ chức và cơ cấu lại nền kinh

tế Pháp luật phá sản đưa ra khả năng cho sự so sánh giữa tổ chức lại và thanh lí doanh nghiệp Bất kì sự lựa chọn nào giữa tổ chức lại và thanh lí doanh nghiệp đều dựa trên những cơ sở tối ưu nhằm ngăn chặn những trường hợp thanh lí quá vội vàng hay trì hoãn việc thanh lí Mặt khác, khi việc lựa chọn tổ chức lại không khả thi thì áp dụng thủ tục thanh lí doanh nghiệp và đi tới chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp là kết quả tất yếu Tóm lại, dù là được tiến hành lại theo hình thức tổ chức lại hoặc thanh lí doanh nghiệp

Trang 7

5

mắc nợ thì pháp luật phá sản cũng luôn mang ý nghĩa tích cực trong việc cơ cấu lại nền kinh tế.6

Năm là, pháp luật phá sản doanh nghiệp là phương tiện giải quyết những vấn đề có nguy cơ phát sinh từ một doanh nghiệp phá sản và bảo vệ lợi ích chung của cộng đồng Mục tiêu của pháp luật hướng tới là sự bình đẳng của tất cả mọi người, thế nên cả con

nợ và chủ nợ cùng được bảo vệ dưới các thiết chế của pháp luật Pháp luật sẽ ngăn chặn những mâu thuẫn không cần thiết, những căng thẳng có thể xảy ra nhằm đảm bảo trật tự

kỉ cương và an toàn của toàn bộ xã hội

3, Vai trò và chức năng của các chủ thể tham gia và quy trình tố tụng phá sản:

Trình tự thủ tục trong một quy trình tố tụng phá sản để giải quyết yêu cầu phá sản sẽ phải trải qua những bước sau đây:

Bước một, nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản Về mặt bản chất, có thể nói rằng phá sản là một dạng tranh chấp có biểu hiện của sự xung đột lợi ích giữa chủ nợ và con

nợ mất khả năng thanh toán, vậy nên Tòa án mở thủ tục phá sản cũng nhằm mục đích giải quyết tranh chấp trên Những chủ thể có quyền và nghĩa vụ được pháp luật quy định

sẽ có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề xung đột nói trên cụ thể là:

Theo điều 5 Luật Phá sản 2014, các chủ thể sau sẽ có quyền nộp đơn để yêu cầu mở thủ tục phá sản: chủ nợ, người lao động và cổ đông của công ty cổ phần

- Chủ nợ: đối với hoạt động phá sản của doanh nghiệp thì vai trò của chủ nợ là không thể thiếu, lợi ích của chủ nợ gắn liền với tình trạng hoạt động và khả năng chi trả những khoản nợ của con nợ Vậy nên, chủ nợ có thể bảo vệ được quyền và lợi ích của mình thì Luật Phá sản đã công nhận chủ nợ có quyền nộp đơn mở thủ tục phá sản cho doanh nghiệp, đặc biệt ở đây là chỉ có chủ nợ có bảo đảm một phần và chủ nợ không bảo đảm mới có quyền nộp yêu cầu mở thủ tục phá sản

- Người lao động: đây là một điểm tiến bộ của luật Phá sản 2014 khi cho phép người lao động có quyền được yêu cầu mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp không hoàn thành nghĩa vụ trả lương Theo khoản 2 điều 5 luật Phá sản 2014: “Người lao động, công đoàn cơ sở,…có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản… ”, pháp luật đã cho phép

6 “Giáo trình Luật Thương mại – Tập 2”, NXB Công an Nhân dân, 2008, Tr.365

Trang 8

6

người lao động được quyền yêu cầu hoặc thông qua công đoàn yêu cầu doanh nghiệp hoàn thiện nghĩa vụ trả lương

- Cổ đông của công ty cổ phần: theo quy định của Luật Phá sản thì cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 20% số cổ phần cổ đông trở lên trong thời hạn liên tục ít nhất

6 tháng có quyền nộp yêu cầu mở thủ tục phá sản khi công ty cổ phần bị mất khả năng thanh toán Cổ đông của một công ty cổ phần có vai trò rất lớn, được ví như chủ của công ty nên việc đưa cổ đông của công ty cổ phần có quyền yêu cầu mở thủ tục phá sản

là vô cùng hợp lý để đảm bảo lợi ích của những cổ đông này

Sau khi nộp đơn được thẩm phán chấp nhận thì việc mở thủ tục phá sản mang tính then chốt trong quá trình giải quyết phá sản Nó cũng có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với chủ nợ và con nợ khi đây sẽ là tiền đề để giúp doanh nghiệp có thể phục hồi bằng các thủ tục phục hồi doanh nghiệp trong trường hợp doanh nghiệp còn hy vọng phục hồi Thứ hai, mở thủ tục phá sản sẽ giúp khai tử các doanh nghiệp khi mất khả năng thanh toán, không còn đủ khả năng để tiếp tục hoạt động và thu lợi nhuận nữa Các chủ thể pháp luật sẽ đóng vai trò khác nhau trong quá trình mở thủ tục phá sản

- Viện kiểm soát nhân dân cùng cấp, cơ quan thi hành án dân sự, cơ quan thuế, cơ quan đăng ký kinh doanh nơi doanh nghiệp có trụ sở chính: phải đăng thông tin doanh nghiệp phá sản lên cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, cổng thông tin điện

tử của tòa án nhân dân và hai số báo địa phương liên tiếp nơi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán có trụ sở chính

- Tòa án nhân dân: sẽ là cơ quan phải gửi quyết định mở thủ tục phá sản cho người nộp đơn, doanh nghiệp mất khả năng thanh toán và chủ nợ Ngoài ra, tòa án còn phải chỉ định Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý và thanh lý tài sản

- Quản tài viên: đây là chủ thể đặc biệt được Tòa án chỉ định trong Luật Phá sản Quản tài viên ở đây là cá nhân hành nghề quản lý, thanh lý tài sản giám sát doanh nghiệp

bị mất khả năng thanh toán trong quá trình giải quyết phá sản Thẩm phán sẽ chỉ định quản tài viên trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định mở thủ tục phá sản Quản tài viên sẽ không có bất kỳ lợi ích liên quan nào đến vấn đề phá sản của doanh nghiệp, cũng không được là người thân hay có quen biết trước đó với những người tham gia thủ tục phá sản để có yếu tố khách quan nhất trong khi làm việc Quản tài viên có

Trang 9

7

thể bị thay đổi nếu như có dấu hiệu không hoàn thành nhiệm vụ hoặc có dấu hiệu của việc trục lợi trong quá trình làm việc bởi thẩm phán Quản tài viên sẽ phải lập danh sách chủ nợ, lập danh sách người mắc nợ, kiểm kê tài sản và áp dụng những biện pháp để bảo

vệ số tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán

Sau khi doanh nghiệp có quyết định mở thủ tục phá sản của tòa án thì doanh nghiệp tiếp tục hoạt động nhưng dưới sự giám sát của thẩm phán và quản tài viên Doanh nghiệp phải báo cáo cho quản tài viên trước khi thực hiện giao dịch có thể làm ảnh hưởng tới khối tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán như cho vay, cầm cố, mua bán, chuyển nhượng, chuyển đồi quyền sở hữu, …

Bước hai, sau khi mở thủ tục phá sản, thẩm phán sẽ yêu cầu tổ chức hội nghị chủ nợ theo quy định của pháp luật Như đã nói ở trên, mục đích của pháp Luật Phá sản là giải quyết xung đột của chủ nợ và con nợ để bảo vệ quyền và lợi ích của các chủ thể liên quan cũng như phòng ngừa những vấn đề có tác động xấu tới xã hội phá sinh trong quá trình đòi nợ Do vậy, việc tập hợp hội nghị chủ nợ cũng chính là cơ hội để con nợ và chủ nợ ngồi lại với nhau để thống nhất những phương án giải quyết mâu thuẫn Thông qua hội nghị chủ nợ, các chủ thể có thể tìm ra được phương án chung trách việc tuyên phá sản Hiểu được tầm quan trọng của hội nghị chủ nợ mà Luật Phá sản 2014 đã đưa hẳn 01 chương để chỉ nói về chủ thể này Cụ thể như sau:

- Hội nghị chủ nợ sẽ được thẩm phán triệu tập trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày kết thúc kiểm kê tài sản của quản tài viên trong trường hợp việc kiểm kê tài sản kết thúc sau việc lập danh sách chủ nợ hoặc kể từ ngày kết thúc việc lập danh sách chủ nợ trong trường hợp việc kiểm kê tài sản kết thúc trước việc lập danh sách chủ nợ

- Hội nghị chủ nợ bao gồm những chủ thể có quyền được nhắc đến ở trên tham gia, những chủ thể có nghĩa vụ tham gia (Người đại diện theo pháp luật, chủ doanh nghiệp

tư nhân, chủ tịch Hội đồng quản trị, ….) và người bảo lãnh sau khi đã trả nợ thay cho doanh nghiệp bị mất khả năng thanh toán

- Điều kiện tiến hành của hội nghị chủ nợ phụ thuộc vào hai yếu tố, thứ nhất, có số chủ nợ tham gia đại diện cho ít nhất 51% tổng số nợ không có bảo đảm, thứ hai, quản tài viên được phân công giải quyết đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải tham gia

Trang 10

8

- Nghị quyết của hội nghị chủ nợ được thông qua khi có quá nửa tổng số chủ nợ không đảm bảo có mặt và đại diện cho từ 65% tổng số nợ không có đảm bảo lên biểu quyết tán thành

Bước ba, là phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ Mặc dù được xây dựng nhà nước xây dựng để có thể giải quyết những vấn đề phát sinh trước trong và sau quá trình phá sản của một doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ, nhưng nhà nước hiểu được những hệ quả mà các doanh nghiệp phá sản để lại cho nền kinh tế Việc tuyên phá sản con nợ chỉ là giải pháp cuối cùng Việc cho cơ hội phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán là vô cùng quan trọng bởi hoạt động phục hồi có thể lợi cho tất cả các chủ thể liên quan đến quá trình này như con nợ có thể thoát khỏi việc bị thanh lý tài sản, chủ nợ tránh nguy cơ bị mất đi một phần đầu tư, tài sản của mình Nhưng doanh nghiệp chỉ có thể được phục hồi hoạt động kinh doanh khi và chỉ khi được sự chấp thuận của hội nghị chủ nợ và xây dựng được một phương án phục hồi một cách chi tiết về huy động vốn, tổ chức lại bộ máy,… Trong trường hợp doanh nghiệp có thể phục hồi kinh doanh thì Tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ việc tuyên bố phá sản, doanh nghiệp đó sẽ không còn được coi là mất khả năng thanh toán nữa

Bước bốn, trong trường hợp bước ba không thể thực hiện hay thực hiện không thành công thì thấm phán sẽ tuyên bố doanh nghiệp bị phá sản Toàn án sẽ tuyên doanh nghiệp phá sản trong các trường hợp dưới đây:

- Doanh nghiệp không còn tiền, tài sản khác để nộp phí phá sản, tạm ứng chi phí phá sản

- Doanh nghiệp không có tài sản để thanh toán chi phí phá sản sau khi thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

- Doanh nghiệp bị mất khả năng thanh toán không xây dựng được phương án phục hồi hoạt động kinh doanh một cách hợp lý, cụ thể

- Hội nghị chủ nợ không thông qua phương án phục hồi

- Doanh nghiệp không thực hiện được phương án phục hồi

Ngày đăng: 10/05/2022, 15:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w