Đó là quyền nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp điều 7, quyền gửi giấy tờ đòi nợ đến Toà án điều 21, quyền khiếu nại danh sách chủ nợ điều 22, quyền tham gia hội nghị chủ nợ, t
Trang 1-
lª thÞ hång anh
thùc tiÔn ¸p dông LuËt Ph¸ s¶n doanh nghiÖp n¨m 1993
Trang 2MỤC LỤC
Trang
Phần mở đầu 3
Chương 1 Luật Phá sản Doanh nghiệp - cơ sở pháp lý quan trọng nhất cho quá trình giải quyết phá sản doanh nghiệp tại Việt Nam 6
1.1 Vai trò của pháp luật phá sản trong nền kinh tế thị trường 6
1.1.1 Pháp luật phá sản bảo vệ một cách có hiệu quả lợi ích của các chủ nợ và của chính bản thân doanh nghiệp mắc nợ 6
1.1.2 Pháp luật phá sản góp phần bảo vệ lợi ích chính đáng của người lao động trong các doanh nghiệp bị phá sản 8
1.1.3 Pháp luật phá sản góp phần vào việc tổ chức lại nền kinh tế 9
1.1.4 Pháp luật phá sản góp phần vào việc bảo đảm trật tự, kỷ cương của xã hội 9
1.2 Vai trò chủ đạo của Luật Phá sản DN trong hệ thống pháp luật về phá sản 10
1.2.1 Đối tượng áp dụng Luật Phá sản 11
1.2.2 Khái niệm tình trạng phá sản 11
1.2.3 Địa vị pháp lý của các chủ thể giải quyết phá sản 13
1.2.4 Thủ tục giải quyết phá sản 20
Chương 2 Thực tiễn áp dụng Luật Phá sản Doanh nghiệp và những tồn tại, vướng mắc trong quá trình áp dụng 26
2.1 Khái quát chung quá trình áp dụng Luật Phá sản DN trong thời gian qua 26
2.1.1 Thực tế giải quyết phá sản doanh nghiệp ở nước ta 26
2.1.2- Đánh giá quá trình áp dụng Luật phá sản Doanh nghiệp 38
2.2- Những vướng mắc cơ bản được rút ra từ quá trình áp dụng Luật Phá sản DN 43
2.2.1 Vướng mắc trong các qui định liên quan đến nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp 43
2.2.2- Vướng mắc trong các qui định liên quan đến thụ lý đơn và mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp 49
2.2.3 Vướng mắc trong các qui định liên quan đến Tổ quản lý tài sản 53
2.2.4- Vướng mắc trong các qui định liên quan đến thẩm quyền của Thẩm phán trong việc giải quyết khiếu nại về danh sách chủ nợ 54
2.2.5- Vướng mắc trong các qui định liên quan đến Hội nghị chủ nợ 55
2.2.6 Vướng mắc trong các qui định liên quan đến tạm đình chỉ, đình chỉ việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp 57
2.2.7- Vướng mắc trong các qui định liên quan đến việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời 59
2.2.8- Vướng mắc trong các qui định liên quan đến phương án phân chia giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp 60
2.2.9 Vướng mắc trong các quy định liên quan đến việc thi hành quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp 62
Chương 3 Một vài kiến nghị về mặt pháp lý nhằm nâng cao hiệu quả của việc áp dụng Luật Phá sản 66
3.1 Về những quy định chung 67
3.1.1 Cần phải mở rộng phạm vi áp dụng của Luật Phá sản 67
3.1.2 Cần xác định lại dấu hiệu của tình trạng phá sản 68
3.1.3 Cần quy định những thủ tục tố tụng phá sản khác nhau để giải quyết con nợ lâm vào tình trạng phá sản 72
Trang 33.1.4 Cần quy định thống nhất về cơ quan có thẩm quyền quyết định yêu cầu tuyên bố phá
sản doanh nghiệp và giải quyết khiếu nại, kháng nghị 73
3.1.5 Cần có quy định thừa nhận việc hòa giải tự nguyện giữa chủ nợ và con nợ 73
3.2 Quy định về nộp đơn, thụ lý đơn 74
3.2.1 Quy định đối tượng có quyền và nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản DN 74 3.2.2 Quy định về tài liệu gửi kèm theo đơn yêu cầu tuyên bố phá sản 75
3.2.3 Cần có sự quy định thống nhất về người đại diện của doanh nghiệp 77
3.2.4 Cần xác định thời điểm thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố phá sản 77
3.3 Hoàn thiện một số quy định liên quan đến việc mở hay không mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản 77
3.3.1 Cần có quy định về gia hạn để ra quyết định mở hay không mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản 78
3.3.2 Cần có thêm quy định về thẩm quyền thu thập các tài liệu, chứng cứ của Thẩm phán để ra quyết định mở hoặc không mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản 78
3.3.3 Cần có thêm quy định về thẩm quyền của Thẩm phán để đình chỉ giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản trong trường hợp quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản được phát hiện là không có đủ căn cứ 78
3.4 Các quy định về giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản sau khi có quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản 79
3.4.1 Về thành phần của Tổ quản lý tài sản 79
3.4.2 Về các quy định liên quan đến việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời 79
3.4.3 Cần bổ sung thêm một số trường hợp để tạm đình chỉ và đình chỉ giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản 80
3.4.4 Cách thức giải quyết trường hợp Thẩm phán phát hiện dấu hiệu phạm tội trong quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản 81
3.4.5 Quy định liên quan đến danh sách chủ nợ 81
3.4.6 Quy định về việc giải quyết các tranh chấp về tài sản giữa các bên mà con nợ là một trong các bên của tranh chấp đó 81
3.4.7 Quy định về cách xử lý tài sản của con nợ khi phải thi hành các bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật 82
3.4.8 Quy định về Hội nghị chủ nợ 83
3.4.9 Quy định lại nội dung quyết định tuyên bố phá sản 83
3.4.10 Quy định về tài sản còn lại của con nợ và việc phân chia giá trị tài sản còn lại 83 3.4.11 Cần quy định trong Luật Phá sản thẩm quyển của Tòa án Nhân dân Tối cao trong việc giải quyết khiếu nại, kháng nghị đối với quyết định tuyên bố phá sản 84
3.5 Các quy định về thi hành quyết định tuyên bố phá sản 84
3.5.1 Cần có sự phân định rõ thẩm quyền của các cơ quan trong việc thi hành quyết định tuyên bố phá sản 84
3.5.2 Quy định lại về thành phần của Tổ thanh toán tài sản 85
3.5.3 Bổ sung thêm nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên 85
3.5.4 Quy định bổ sung vấn đề ủy thác thi hành quyết định tuyên bố phá sản 86
3.5.5 Quy định rõ việc tạm ứng chi phí cho công tác thi hành quyết định tuyên bố phá sản 86
3.6 Luật Phá sản cần có những quy định liên quan đến việc giải quyết phá sản của những doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh đặc thù 86
KẾT LUẬN 90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Công cuộc đổi mới nền kinh tế ở nước ta từ Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI (1986) đến nay đã đem lại những thành quả tốt đẹp, trong đó đổi mới và phát triển doanh nghiệp là một trong những nội dung cơ bản, trọng tâm nhất khi nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Để các doanh nghiệp ngày càng nâng cao vai trò và hiệu quả của mình trong điều kiện xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ trên cở sở phát huy nội lực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì việc đổi mới
hệ thống pháp luật mà trước hết là pháp luật kinh tế trở nên hết sức cấp bách và cần thiết
Sự ra đời của cơ chế kinh tế mới, một mặt tạo ra tiền đề tích cực cho sự phát triển của nền kinh tế nhưng mặt khác cũng bộc lộ những mặt trái của kinh tế thị trường Do chịu sự tác động của quy luật cạnh tranh, quy luật cung - cầu, quy luật giá trị , bên cạnh những doanh nghiệp đứng vững và không ngừng phát triển thì một bộ phận không nhỏ các doanh nghiệp do năng lực quản lý kinh doanh kém và
do nhiều lý do khác nữa đã lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán các khoản
nợ đến hạn, dẫn đến phá sản Như vậy, phá sản là một hiện tượng kinh tế - xã hội, là một hệ quả tất yếu của kinh tế thị trường với sự cạnh tranh khốc liệt Có thể nói, phá sản là một hiện tượng gắn với nền kinh tế thị trường Nhờ có phá sản mà các mô hình kinh doanh và quản lý yếu kém bị đào thải, các mô hình kinh doanh và quản lý mới, hợp lý, phù hợp với các quan hệ kinh tế được hình thành và phát triển
Với Việt Nam, phá sản và pháp luật về phá sản vẫn còn tương đối mới mẻ Luật Phá sản Doanh nghiệp mới được Quốc hội thông qua ngày 30/12/1993 Đạo luật này ra đời đã đáp ứng phần nào yêu cầu của nền kinh tế thị trường để giải quyết các doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh cho các chủ thể kinh doanh Tuy nhiên, về cơ bản, việc áp dụng những quy định của Luật Phá sản Doanh nghiệp trong thực tế còn gặp quá nhiều khó khăn, vướng mắc Điều đó làm cản trở việc xử lý các doanh nghiệp có khó khăn về tài
Trang 5chính, không thanh toán được các khoản nợ đến hạn Nhiều doanh nghiệp thực sự
đã lâm vào tình trạng phá sản nhưng nếu vận dụng các quy định cụ thể của Luật Phá sản Doanh nghiệp thì lại không giải quyết được hoặc việc giải quyết bị kéo dài, không triệt để Thực tế con số doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản thì nhiều nhưng số vụ việc mà Tòa án các địa phương thụ lý lại rất ít Chúng ta có thể khẳng định rằng, với yêu cầu của thực tiễn đặt ra hiện nay, Luật Phá sản Doanh nghiệp chưa phát huy được chức năng điều chỉnh các quan hệ phá sản; do đó, đạo luật này cần sớm được khẩn trương nghiên cứu, sửa đổi và bổ sung, hoàn thiện Chính vì vậy, đề tài luận văn cao học "Thực tiễn áp dụng Luật Phá sản Doanh nghiệp năm 1993" là đề tài vừa mang tính thời sự vừa mang tính khoa học và thực tiễn sâu sắc
2 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là pháp luật phá sản Việt Nam và thực tiễn
áp dụng nó trong những năm vừa qua Từ việc nghiên cứu về hai hiện tượng này, tác giả sẽ tìm ra những vướng mắc cụ thể mà các cơ quan Nhà nước gặp phải khi vận dụng những quy định của Luật Phá sản Doanh nghiệp trong thực tiễn; đồng thời, kiến nghị các biện pháp để khắc phục chúng
Luận văn đi sâu vào các nội dung sau:
năm 1993 và các văn bản hướng dẫn thi hành;
nghiệp trong thời gian qua;
sản Doanh nghiệp ở Việt Nam;
3 Mục đích nghiên cứu
Luận văn đặt ra các mục đích nghiên cứu sau đây:
- Nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng Luật Phá sản Doanh nghiệp hiện hành ở Việt Nam;
Trang 6- Đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện Luật Phá sản Doanh nghiệp hiện hành nhằm tăng cường hiệu quả của nó trong việc giải quyết phá sản, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế
4 Phương pháp nghiên cứu
Khi nghiên cứu đề tài, luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp như phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử; kết hợp chặt chẽ giữa các phương pháp phân tích và tổng hợp, hệ thống hoá Đồng thời, luận văn kết hợp lý luận cơ bản của khoa học quản lý kinh tế với nội dung quản lý Nhà nước bằng pháp luật trong nền kinh tế thị trường để giải quyết các vấn đề đặt ra
Về mặt thực tiễn, luận văn dùng phương pháp khảo sát thực tế để xem xét, đánh giá những mặt tích cực và hạn chế trong quá trình áp dụng Luật Phá sản Doanh nghiệp Từ đó, đề xuất những kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện Luật Phá sản Doanh nghiệp hiện hành cho phù hợp với thực trạng kinh tế - xã hội cũng như thực tiễn sản xuất - kinh doanh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
5 Những điểm mới của luận văn
Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng Luật Phá sản Doanh nghiệp trong thời gian qua cũng như tham khảo Luật phá sản của một số nước trên thế giới, luận văn đã tổng hợp và đưa ra một số đề xuất nhằm hoàn thiện Luật Phá sản Doanh nghiệp hiện hành, phục vụ cho việc giải quyết phá sản được tiến hành một cách trôi chảy, thuận lợi
6 Kết cấu luận văn
Với tên gọi "Thực tiễn áp dụng Luật Phá sản Doanh nghiệp năm 1993", luận văn được chia làm ba chương sau:
Chương 1: Luật Phá sản Doanh nghiệp - Cơ sở pháp lý quan trọng nhất cho
quá trình giải quyết phá sản doanh nghiệp tại Việt Nam
Chương 2: Thực tiễn áp dụng Luật Phá sản Doanh nghiệp và những tồn tại,
vướng mắc trong quá trình áp dụng
Trang 7Chương 3: Một vài kiến nghị về mặt pháp lý nhằm nâng cao hiệu quả của
việc áp dụng Luật Phá sản
Ngoài ra, luận văn còn bao gồm: Phần nói đầu, Kết luận, Phụ lục, Danh mục tài liệu tham khảo
Trang 8Chương 1 LUẬT PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP - CƠ SỞ PHÁP LÝ QUAN TRỌNG NHẤT CHO QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT
PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM
1.1 VAI TRÕ CỦA PHÁP LUẬT PHÁ SẢN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
Trong nền kinh tế thị trường, phá sản là một hiện tượng khách quan và là một thuộc tính tất yếu, vốn có, luôn luôn tiềm ẩn Về thực chất, phá sản là quá trình chọn lọc, đào thải tự nhiên nhằm tạo ra những nhân tố mới phù hơp với quan hệ kinhtế mới, thúc đẩy sự phát triển đời sống kinh tế - xã hội
Có thể thấy, các quan hệ kinh tế trong nền kinh tế thị trường diễn ra ngày càng đa dạng, phức tạp Chính vì lẽ đó, pháp luật điều chỉnh những quan hệ đó cũng ngày càng phong phú và có phạm vi điều chỉnh ngày càng rộng lớn Các qui định pháp luật đó hợp thành một hệ thống có mối liên hệ với nhau rất mật thiết, điều chỉnh toàn bộ quá trình kinh doanh của các chủ thể kinh doanh Nếu như pháp luật
về thành lập doanh nghiệp cũng như các chủ thể kinh doanh khác được gọi là pháp luật “đầu vào” của doanh nghiệp thì pháp luật giải thể, phá sản doanh nghiệp lại được gọi là pháp luật “đầu ra” cho doanh nghiệp Và như thế, pháp luật phá sản chỉ
là một bộ phận trong toàn bộ hệ thống pháp luật kinh tế Bộ phận pháp luật này đóng vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Có thể nêu ra một số vai trò chủ yếu của pháp luật phá sản như sau:
1.1.1 Pháp luật phá sản bảo vệ một cách có hiệu quả lợi ích của các chủ
nợ và của chính bản thân doanh nghiệp mắc nợ
Không riêng gì pháp luật phá sản, mà có rất nhiều các quy định pháp luật khác tham gia vào việc bảo vệ lợi ích của các chủ nợ nói chung Tuy nhiên, do tính chất đặc biệt của thủ tục phá sản mà việc bảo vệ của pháp luật đối với các chủ nợ
Trang 9mang tính chất tập thể Có thể coi Luật Phá sản là một giải pháp để các chủ nợ thu hồi nợ bằng cách chia nhau tài sản của con nợ một cách có trật tự, tránh tình trạnh
"mạnh ai, nấy đòi" cũng như tình trạng tẩu tán tài sản của con nợ
Bên cạnh đó, pháp luật phá sản còn cung cấp một thủ tục đòi nợ đặc biệt -
Đó là các chủ nợ đòi nợ công khai, bình đẳng, mang tính tập thể Đồng thời, các chủ
nợ đều được Tòa án thanh toán bình đẳng phần nợ của mình trong phạm vi tài sản còn lại của con nợ Không có chủ nợ nào có quyền khởi kiện để lấy nợ cho riêng mình Một chủ nợ không thể yêu cầu để con nợ thanh toán riêng cho mình trong khi những chủ nợ khác không được thanh toán Chính vì điều đó, vai trò của Luật Phá sản là phải tạo ra được một thủ tục pháp lý mà ở đó các chủ nợ có khả năng kiểm soát được các doanh nghiệp đang lâm vào tình trạng phá sản, tránh việc sử dụng sai mục đích hoặc tẩu tán tài sản của doanh nghiệp dưới mọi hình thức Thủ tục đó còn phải giúp cho các chủ nợ có khả năng thu hồi nợ một cách tối đa, bởi vì, suy cho cùng, ngay cả việc quy định thủ tục phục hồi khả năng kinh doanh của con nợ cũng
là nhằm mục đích tối đa hóa khả năng thu hồi nợ cho các chủ nợ
Tại Việt Nam, theo qui định của Luật Phá sản Doanh nghiệp, việc bảo vệ lợi ích của chủ nợ được thể hiện qua rất nhiều quyền cụ thể Đó là quyền nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp (điều 7), quyền gửi giấy tờ đòi nợ đến Toà án (điều 21), quyền khiếu nại danh sách chủ nợ (điều 22), quyền tham gia hội nghị chủ
nợ, thông qua phương án hoà giải tổ chức lại hoạt động sản xuất kinh doanh (điều 24), quyền có đại diện trong Tổ quản lý tài sản và Tổ thanh toán tài sản (điều 15, điều 42), quyền được khiếu nại quyết định tuyên bố phá sản (điều 39)
Đối với các doanh nghiệp mắc nợ, pháp luật phá sản tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thể phục hồi hoặc rút khỏi thương trường Mặc dù kinh doanh thua lỗ, không thanh toán được nợ là điều nằm ngoài mong muốn của các nhà kinh doanh song điều đó lại hoàn toàn có thể xảy ra bởi sự rủi ro chứa đựng ngay trong công việc kinh doanh của họ Một doanh nghiệp không thanh toán được nợ, bị phá sản sẽ gây ra rất nhiều hậu quả đối với xã hội, trước hết là đối với chủ nợ, người lao động
và đối với nguồn thu ngân sách Vì thế, vấn đề ưu tiên đối với doanh nghiệp mắc nợ
Trang 10là phải làm sao để doanh nghiệp có thể được phục hồi, thoát khỏi tình trạng phá sản Pháp luật đa số các nước đều qui định nhiều cách thức phục hồi khác nhau để doanh nghiệp có thể lựa chọn Toà án không tuyên bố phá sản doanh nghiệp ngay khi có đơn của người có quyền yêu cầu tuyên bố phá sản mà tạo mọi điều kiện cho doanh nghiệp mắc nợ khắc phục các khó khăn về tài chính Nếu không có khả năng phục hồi, doanh nghiệp phá sản được thực hiện việc thanh lý tài sản dùng để trả nợ theo thứ tự ưu tiên nhất định Nếu sau khi thanh toán tài sản của doanh nghiệp vẫn không
đủ để trang trải nợ nần thì những khoản nợ đó vẫn được coi là thanh toán xong Pháp luật phá sản có vai trò giúp cho doanh nghiệp phá sản thoát khỏi nợ nần để rút khỏi thương trường
Việc bảo vệ lợi ích của doanh nghiệp mắc nợ theo quy định của Luật Phá sản Doanh nghiệp thể hiện ở quyền của doanh nghiệp trong việc xây dựng phương án hoà giải và giải pháp tổ chức lại sản xuất kinh doanh và trình tại Hội nghị chủ nợ (điều 20) Thông qua Hội nghị chủ nợ, doanh nghiệp được quyết định thời gian để phục hồi, bàn bạc các biện pháp để tháo gỡ các khoản nợ Luật Phá sản Doanh nghiệp ưu tiên việc hoà giải tự nguyện giữa các chủ nợ và doanh nghiệp mắc nợ, nhận bảo lãnh hay mua lại các khoản nợ (điều 6) Doanh nghiệp mắc nợ có quyền tham gia vào Tổ quản lý tài sản và Tổ thanh toán tài sản (điều 15, điều 42), có quyền được khiếu nại danh sách chủ nợ (điều 22), quyền khiếu nại quyết định tuyên
để tìm kiếm nơi làm việc mới cho người lao động nói chung Chính vì thế, phá sản
là một trong những nguyên nhân của tình trạng thất nghiệp ở nhiều nước có nền kinh tế thị trường Người lao động làm việc trong một doanh nghiệp đang gặp khó khăn về tài chính thì rõ ràng thu nhập từ việc làm, tiền lương của họ sẽ thấp hoặc
Trang 11thậm chí không có Vai trò của pháp luật phá sản ở đây là tham gia vào việc tạo điều kiện cho người lao động có được một cuộc sống ổn định khi doanh nghiệp bị phá sản, có khả năng đòi lại tiền lương mà doanh nghiệp đang nợ họ cũng như các khoản trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội và các quyền lợi khác
Luật Phá sản Doanh nghiệp bảo vệ lợi ích của người lao động bằng việc quy định một số quyền cho họ trong quá trình giải quyết phá sản Họ được quyền nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản thông qua đại diện Công đoàn hoặc đại diện người lao động nơi chưa có tổ chức Công đoàn (điều 8), có quyền tham gia vào Hội nghị chủ
nợ (điều 25), quyền tham gia Tổ quản lý tài sản (điều 15), tham gia Tổ thanh toán tài sản (điều 42), quyền được ưu tiên thanh toán nợ trước các khoản nợ của doanh nghiệp (điều 39),…
1.1.3 Pháp luật phá sản góp phần vào việc tổ chức lại nền kinh tế
Việc tiến hành thủ tục phá sản không chỉ nhằm tuyên bố phá sản, thanh lý tài sản của doanh nghiệp mà nó còn nhằm mục tiêu giúp các doanh nghiệp thoát ra khỏi tình trạng khó khăn về tài chính, tiếp tục hoạt động thông qua việc hoà giải Tổ chức lại doanh nghiệp phá sản không hoàn toàn đã là hiện tượng tiêu cực; bởi vì, nó góp phần vào việc cơ cấu lại nền kinh tế Pháp luật phá sản đã tạo ra cơ sở pháp lý
để loại bỏ đi các doanh nghiệp kinh doanh yếu kém, xảy ra tình trạng thua lỗ, nợ nần liên tục, kéo dài Đồng thời, pháp luật phá sản cũng góp phần hình thành và duy trì những doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả Ở đây, vai trò của pháp luật phá sản lại góp phần nâng cao ý thức trong kinh doanh của các nhà đầu tư, buộc họ phải có
óc tính toán thận trọng trong định hướng đầu tư, lựa chọn qui mô, ngành nghề, hình thức kinh doanh, địa bàn hoạt động, … và đặc biệt là sự trung thực, tôn trọng các qui luật kinh tế cơ bản trong hoạt động của mình
1.1.4 Pháp luật phá sản góp phần vào việc bảo đảm trật tự, kỷ cương của xã hội
Để có được môi trường kinh doanh lành mạnh, ổn định và phát triển, Nhà nước phải thực hiện bằng nhiều biện pháp tác động khác nhau, trong đó pháp luật kinh tế đóng vai trò qua trọng nhất Với tư cách là một bộ phận pháp luật trong hệ
Trang 12thống pháp luật kinh tế, pháp luật phá sản cũng thể hiện vai trò của mình trong việc bảo vệ trật tự, kỷ cương xã hội Phá sản là một hiện tượng xảy ra có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống kinh tế - xã hội, nó có thể gây ra những mâu thuẫn, tình trạng hỗn loạn, mất trật tự xã hội bằng sự tranh nhau tài sản của con nợ ở các chủ nợ, bằng sự biểu tình đòi việc làm, tiền lương, thu nhập ở người lao động Nếu như không có pháp luật phá sản để điều chỉnh ổn thoả, công bằng những mối quan hệ đó chắc chắn sẽ gây ra tình trạng vô tổ chức trong xã hội Theo quy định của Luật Phá sản, Toà án sẽ là người thay mặt Nhà nước để tiến hành thủ tục phá sản, quyết định trách nhiệm, quyền lợi của các bên, tránh đến mức thấp nhất sự mất trật tự ổn định xã hội
1.2 VAI TRÕ CHỦ ĐẠO CỦA LUẬT PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP TRONG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VỀ PHÁ SẢN
Để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình giải quyết việc phá sản doanh nghiệp, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật khác nhau Trước hết, đó là Luật Phá sản Doanh nghiệp ban hành năm 1993 Sau khi Luật được ban hành, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 189/CP ngày 23 tháng 12 năm 1994
để chi tiết hóa và hướng dẫn thi hành Luật này Nghị định 189/CP cũng không thể quy định hết được các vấn đề phát sinh, do đó, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cũng lần lượt ban hành các văn bản để tiếp tục đưa Luật, Nghị định vào cuộc sống Điển hình trong các văn bản đó là Quyết định số 528 - QĐ/BT ngày 13 tháng
6 năm 1995 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Qui chế làm việc của Tổ quản lý tài sản và Tổ thanh toán tài sản và Quyết định số 426 - QĐ ngày 1 tháng 7 năm
1994 của Toà án nhân dân tối cao về Qui chế làm việc của tập thể Thẩm phán phụ trách việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp
Trong hệ thống pháp luật về phá sản thì Luật Phá sản Doanh nghiệp là văn bản có vai trò chủ đạo, quyết định chất lượng, hiệu quả của việc điều chỉnh pháp luật trong lĩnh vực phá sản Luật Phá sản có được vai trò quan trọng như vậy vì nó
đã quy định những vấn đề cơ bản nhất liên quan đến việc giải quyết phá sản doanh nghiệp ở Việt Nam Sau đây là những vấn đề cơ bản nhất mà Luật Phá sản Doanh nghiệp đề cập đến:
Trang 131.2.1 Đối tƣợng áp dụng
Điều 1, Luật Phá sản Doanh nghiệp qui định: “ Luật này áp dụng đối với các doanh nghiệp thuộc mọi hình thức sở hữu đựoc thành lập và hoạt động theo pháp luật nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khi lâm vào tình trạng phá sản” Hiện nay, các doanh nghiệp thuộc các hình thức sở hữu ở nước ta bao gồm: Doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp tư nhân, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn có từ 2 thành viên trở lên, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài và hợp tác xã các loại Như vậy, Luật Phá sản Doanh nghiệp không được áp dụng đối với mọi loại hình tổ chức kinh doanh, mọi cơ sở sản xuất - kinh doanh Nói cách khác, chỉ có những cơ sở sản xuất - kinh doanh nào được gọi là doanh nghiệp thì mới có thể bị Tòa án tuyên bố phá sản, còn những cơ sở sản xuất - kinh doanh khác như tổ hợp tác, hộ gia đình, hộ kinh doanh cá thể do không được coi là doanh nghiệp nên không thể bị phá sản
Việc qui định đối tượng áp dụng của Luật Phá sản xuất phát từ điều kiện kinh tế - xã hội của từng quốc gia Do đó, có thể thấy những mức độ khác nhau của
sự điều chỉnh pháp luật đối với vấn đề này Ở một số nước như Mỹ, Úc, tất cả các
cá nhân và pháp nhân nếu không thanh toán được nợ đến hạn đều có thể bị tuyên bố phá sản, bất luận họ có phải là thương gia hay không Trong khi đó pháp luật của Cộng hoà Liên bang Nga chỉ tuyên bố phá sản đối với các nhà kinh doanh, hay như Việt Nam, chỉ có doanh nghiệp mới có thể bị tuyên bố phá sản
1.2.2 Khái niệm tình trạng phá sản
Xác định tình trạng phá sản là một trong những vấn đề hết sức cơ bản của Luật Phá sản Doanh nghiệp Một doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản sẽ là căn
cứ để Tòa án ra quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản trên cơ
sở có đơn yêu cầu của người có quyền Quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản được áp dụng với một doanh nghiệp sẽ gây ra những hậu quả xấu
về nhiều mặt cho nhiều đối tượng khác nhau, đặc biệt đối với các chủ doanh nghiệp
Trang 14Quyết định này có ảnh hưởng đến danh dự, uy tín của các nhà kinh doanh, đến các mối quan hệ với bạn hàng của doanh nghiệp; đồng thời cũng làm hạn chế quyền quản lý, định đoạt tài sản cũng như quyền tự chủ trong hoạt động sản xuất - kinh doanh của họ Các hệ quả pháp lý của quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản đã được xác định trong Luật Phá sản cho thấy, nếu nhà lập pháp đưa ra một quan niệm không khoa học về tình trạng phá sản thì nhất định sẽ gây ra rất nhiều thiệt hại cho các nhà kinh doanh và ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của
cả nền kinh tế
Theo điều 2, Luật Phá sản Doanh nghiệp thì "Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh sau khi đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn mất khả năng thanh toán nợ đến hạn" Như vậy, tình trạng phá sản là tình trạng doanh nghiệp mất khả năng thanh toán các món nợ đến hạn Tình trạng đó biểu hiện ra bên ngoài là việc ngừng thanh toán các món nợ Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp không thanh toán nợ đều được xác định con nợ đã lâm vào tình trạng phá sản mà việc không thanh toán được nợ đến hạn cũng có những cấp độ khác nhau Ở cấp độ thấp, việc ngưng trả nợ chỉ là hiện tượng tạm thời, có thể khắc phục được (do chưa thu hồi được nợ hay hàng hóa chưa bán được ) Ở cấp độ cao, việc ngưng trả nợ lại là một hiện tượng trầm trọng, thuộc về bản chất và vô phương cứu chữa Điều này thể hiện ở chỗ sau khi doanh nghiệp đã áp dụng mọi biện pháp tài chính cần thiết mà doanh nghiệp vẫn mất khả năng thanh toán nợ đến hạn
Về mặt nguyên nhân, tình trạng phá sản được xác định do "gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh" Như vậy, một doanh nghiệp không thanh toán được nợ đến hạn chỉ với 2 nguyên nhân là gặp khó khăn khách quan và
bị thu lỗ trong hoạt động kinh doanh mới xác định là ở vào tình trạng phá sản
Việc quy định dấu hiệu để xác định một con nợ bị coi là lâm vào tình trạng phá sản có ý nghĩa hết sức quan trọng về mặt pháp lý, bởi vì đây là căn cứ để cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiến hành các hành vi pháp lý liên quan đến thủ tục tuyên bố phá sản doanh nghiệp (thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố phá sản, mở thủ tục
Trang 15giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản, thanh lý tài sản phá sản, xóa tên doanh nghiệp phá sản ) Trong pháp luật phá sản của các nước, xuất phát từ quan điểm của mỗi nước về phá sản (để thanh lý tài sản của con nợ hay để cứu vãn con nợ), khái niệm tình trạng phá sản được hiểu rất khác nhau Chẳng hạn, trong tại điều 1, Luật Phá sản doanh nghiệp của Liên bang Nga ghi rõ dấu hiệu bên ngoài của tình trạng phá sản của doanh nghiệp là "việc mất khả năng đáp ứng yêu cầu của chủ nợ về thanh toán hàng hóa, công việc, dịch vụ, kể cả việc mất khả năng bảo đảm thanh toán với Ngân sách và các quỹ ngoài Ngân sách do nghĩa vụ của doanh nghiệp mắc nợ vượt quá tài sản của mình hoặc do mất cân đối trong cán cân thanh toán của doanh nghiệp mắc nợ"[53, tr 3] Luật này cũng chỉ rõ dấu hiệu bên trong của tình trạng phá sản là "sự ngừng việc thanh toán bình thường của doanh nghiệp nếu doanh nghiệp không bảo đảm hoặc rõ ràng không có khả năng thực hiện các yêu cầu của chủ nợ trong thời hạn 3 tháng, kể từ ngày đến hạn thực hiện yêu cầu đó"[53, tr 3]
Luật Phá sản của Trung quốc, tại điều 3 quy định, doanh nghiệp đang lâm vào tình trạng phá sản là "doanh nghiệp bị thua lỗ nghiêm trọng vì quản lý kinh doanh kém, không thể thanh toán các khoản nợ đáo hạn"[17, tr 2]; còn Luật Phá sản của Nhật Bản tại điều 26 cho rằng, cá nhân hoặc công ty bị coi là lâm vào tình trạng phá sản là khi "người mắc nợ ngừng việc thanh toán" và riêng với công ty cổ phần là khi "không còn khả năng trả các khoản nợ một cách đầy đủ bằng tài sản có của mình"[53, tr 5]
Luật Phá sản của Vương quốc Anh lại quy định rõ, một doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ đến hạn khi có một chủ nợ với số tiền trên 50 bảng đã gửi đơn đến đòi nợ doanh nghiệp (sau 3 tuần lễ doanh nghiệp không trả được nợ hay không thương lượng được với chủ nợ hoặc không tìm ra biện pháp bảo đảm thỏa đáng số nợ phải trả) hoặc có một án lệnh buộc một doanh nghiệp trả nợ đến hạn nhưng doanh nghiệp đó không thể thi hành được Tại Vương quốc Bỉ, một doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản khi "không trả được nợ đến hạn hoặc bị mất uy tín về mặt tài chính, nghĩa là không còn đủ tài sản để bảo đảm số nợ hoặc phải tìm cách trả nợ bằng các phương pháp không bình thường" Tại Vương quốc Tây Ban
Trang 16Nha, luật pháp cho rằng, một doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ đến hạn là doanh nghiệp "không thể thanh toán tất cả hoặc một phần các khoản nợ đến hạn"
1.2.3 Địa vị pháp lý của các chủ thể giải quyết phá sản
Trong quá trình giải quyết phá sản, các chủ thể có địa vị pháp lý không giống nhau Địa vị pháp lý của từng chủ thể giải quyết phá sản trong quá trình tố tụng phá sản được Luật Phá sản Doanh nghiệp quy định cụ thể như sau:
1.2.3.1 Tòa án
Tham gia vào quá trình giải quyết phá sản có sự xuất hiện của nhiều chủ thể khác nhau, trong đó Toà án là cơ quan được Nhà nước trao quyền quyết định để giải
quyết yêu cầu tuyên bố phá sản
Sở dĩ luật pháp trao thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp cho Toà án bởi vì, Toà án là cơ quan đại diện cho quyền tư pháp của Nhà nước mới có thể tuyên bố một doanh nghiệp phá sản, quyết định các quyền liên quan đến tài sản, nhân thân của các cá nhân, pháp nhân trong vụ phá sản đó Các quyết định áp dụng pháp luật của toà án cũng được bảo đảm bằng sự cưỡng chế của Nhà nước, đảm bảo được các mối quan hệ lợi ích của các chủ thể khác nhau trong các vụ phá sản Ở các nước như Mỹ, Úc, Nam Tư có Toà phá sản được thành lập riêng để giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản Trong khi đó, với quan niệm việc giải quyết phá sản thuộc phạm vi các vụ kiện dân sự nên thẩm quyền giải quyết phá sản
ở Trung quốc thuộc về Toà dân sự Tại Cộng hoà liên bang Nga, Toà án Trọng tài được thành lập để giải quyết phá sản Ở Việt Nam, Điều 4, Luật Phá sản Doanh nghiệp quy định: "Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là Toà án), Toà án Nhân dân Tối cao là cơ quan có thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp" Nếu có khiếu nại, kháng nghị thì việc xem xét khiếu nại, kháng nghị đó thuộc thẩm quyền của Toà phúc thẩm Toà án Nhân dân Tối cao
Toà án là cơ quan áp dụng Luật phá sản, có vai trò quyết định trong quá trình giải quyết phá sản ở Việt nam Có thể thấy vai trò đó của Toà án qua xem xét những quan hệ với các chủ thể khác trong quá trình giải quyết phá sản Đó là quan hệ của
Trang 17Toà án với Hội nghị chủ nợ, con nợ, với Tổ quản lý tài sản, Tổ thanh toán tài sản và trong những vấn đề khác của quá trình giải quyết phá sản
Trong mối quan hệ của Toà án với Hội nghị chủ nợ, vai trò quyết định của Toà án mà cụ thể là Thẩm phán biểu hiện ở việc Thẩm phán là người triệu tập và chủ trì Hội nghị chủ nợ (điều 16, điều 27), ra quyết định công nhận biên bản hoà giải thành về phương án hoà giải và giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp với Hội nghị chủ nợ (điều 33) và là người quyết định cuối cùng về phương án phân chia tài sản của doanh nghiệp mắc nợ (khoản 2, điều 43)
Trong quan hệ với Tổ quản lý tài sản, Chánh Toà kinh tế là người ra quyết định thành lập Tổ quản lý tài sản (điều 15) Tổ trưởng của Tổ quản lý tài sản là một cán bộ của Toà án (điều 15) Thẩm phán được phân công phụ trách giải quyết phá sản là người giám sát và kiểm tra hoạt động của các nhân viên Tổ quản lý tài sản (Khoản 1, điều 16) Tổ quản lý tài sản phải chịu trách nhiệm trước Thẩm phán về việc thực hiện nhiệm vụ quyền hạn của mình (Khoản 3, điều 17)
Vai trò quan trọng của Toà án còn được thể hiện trong mối quan hệ với Tổ thanh toán tài sản Tổ thanh toán tài sản được thành lập dựa trên cơ sở đã có quyết định tuyên bố phá sản của Toà án Việc thanh toán tài sản của doanh nghiệp phá sản được tiến hành bởi Tổ thanh toán tài sản Song, trong quá trình hoạt động, Tổ thanh toán tài sản vẫn chịu ảnh hưởng của Toà án Toà án là người giám sát việc bàn giao tài sản và các giấy tờ, tài liệu có liên quan giữa Tổ quản lý tài sản và Tổ thanh toán tài sản (điều 41), ra quyết định thu hồi lại tài sản, giá trị tài sản của doanh nghiệp hay phần chênh lệch giá trị tài sản của doanh nghiệp nếu Chấp hành viên đề nghị (khoản 1, điều 45) Nếu có tranh chấp về thu hồi tài sản hay phần chênh lệch giá trị tài sản của doanh nghiệp thì Toà án sẽ giải quyết (Khoản 2, điều 45)
1.2.3.2 Tổ quản lý tài sản
Trong nhiều trường hợp, dưới sức ép từ phía các chủ nợ, các doanh nghiệp khi lâm vào tình trạng phá sản có những hành vi cất giấu, tẩu tán tài sản Vì vậy, nếu để doanh nghiệp tiếp tục quản lý tài sản của mình mà không đặt dưới một sự kiểm tra, giám sát nào thì tài sản đó khó có thể bảo toàn, gây khó khăn cho việc giải
Trang 18quyết phá sản, ảnh hưởng đến quyền lợi của các chủ nợ Điều đó đặt ra vấn đề quản
lý tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Tại Luật phá sản của tất cả các nước, nhân viên quản lý tài sản đóng một vai trò quan trọng và là chủ thể không thể thiếu được trong quá trình giải quyết phá sản
Hầu hết các nước, nhân viên quản lý tài sản được Toà án cử ra vào thời điểm
có quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp Người này có thể là luật sư, thương gia hay một chuyên gia kiểm toán có kinh nghiệm trong quá lĩnh vực phá sản Tuy nhiên, Luật phá sản Anh, Mỹ thì chủ nợ lại có quyền cử người quản lý tài sản
Khác với nhiều nước, việc quản lý tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản theo Luật Phá sản Việt Nam lại được thực hiện bởi một tập thể Tập thể này đại diện cho nhiều lợi ích khác nhau, đại diện cho chủ nợ, con nợ, người lao động, Toà án, cơ quan thi hành án, các cơ quan tài chính, ngân hàng và có thể có cả những chuyên gia khác nữa Nhiệm vụ của Tổ quản lý tài sản là kiểm tra, giám sát hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Họ không tham gia vào giải quyết các công việc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà hoạt động kinh doanh vẫn do doanh nghiệp tiến hành dưới sự lãnh đạo, quản lý, điều hành của người đứng đầu doanh nghiệp Trong điều kiện thực tế ở Việt Nam, đặc biệt vào thời điểm ban hành Luật Phá sản Doanh nghiệp, phá sản là hiện tượng hoàn toàn mới mẻ nên kinh nghiệm để giải quyết hiện tượng này chưa có Mặt khác, không thể thiết kế mô hình quản lý tài sản của doanh nghiệp mắc nợ như Luật Phá sản các nước vào Luật Phá sản Doanh nghiệp của Việt Nam vì vấn đề quản lý tài sản của doanh nghiệp trong trường hợp này, đặc biệt là việc tiếp tục hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có thể sẽ phát sinh nhiều công việc đòi hỏi về chuyên môn, nghiệp vụ mà một người không thể đáp ứng được Trong điều kiện đó, chúng ta đã thiết kế mô hình quản lý tài sản của doanh nghiệp là một tập thể với sự hiện diện của rất nhiều các lợi ích khác nhau Tựu trung lại, có 3 loại đại diện sau đây tham gia Tổ quản lý tài sản:
- Đại diện cho phía Nhà nước:
Trang 19Về phía Nhà nước, đại diện gồm có 1 cán bộ Tòa án do Chánh Tòa Kinh tế Tòa án Nhân dân cấp tỉnh chỉ định làm Tổ trưởng và 1 chấp hành viên do Trưởng phòng Thi hành án cử;
- Đại diện cho các bên có quyền lợi liên quan (chủ nợ, con nợ, người lao động):
Đại diện cho chủ nợ là người có số nợ nhiều nhất do Chánh Tòa kinh tế chỉ định; đại diện cho doanh nghiệp mắc nợ là người do chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp cử Về phía người lao động là đại diện công đoàn hoặc đại diện người lao động nơi chưa có tổ chức công đoàn
- Đại diện của các cơ quan chuyên môn:
Đại diện cho các cơ quan chuyên môn gồm có đại diện cơ quan tài chính cấp tỉnh (do Giám đốc Sở Tài chính cử), đại diện Ngân hàng Nhà nước cấp tỉnh (do Giám đốc Ngân hàng Nhà nước cấp tỉnh cử) và các chuyên gia thuộc các lĩnh vực hoạt động chuyên ngành khác do Chánh Tòa Kinh tế cấp tỉnh mời tham gia
1.2.3.3 Hội nghị chủ nợ
Hội nghị chủ nợ là cơ quan duy nhất của các chủ nợ được thành lập để giải quyết một cách công bằng các vấn đề liên quan đến lợi ích của các chủ nợ Doanh nghiệp mắc nợ có tiếp tục tồn tại, có hoạt động kinh doanh nữa hay khôngtùy thuộc vào ý chí của các chủ nợ Sự biểu hiện ý chí đó của các chủ nợ được thông qua ở Hội nghị chủ nợ Nói khác đi, số phận của doanh nghiệp khi đã lâm vào tình trạng phá sản được Hội nghị chủ nợ quyết định Dĩ nhiên, sự quyết định đó của Hội nghị chủ nợ phải căn cứ vào thực trạng tồn tại của doanh nghiệp mắc nợ Giải quyết phá sản có mục tiêu là giải quyết mối quan hệ nợ nần của doanh nghiệp mắc nợ với các chủ nợ Các chủ nợ là những người có quyền lợi thiết thân nhất trong việc giải quyết phá sản; vì vậy, việc đề cao vai trò của các chủ nợ sẽ tăng cường tính tích cực, chủ động của các chủ nợ trong giải quyết phá sản, tạo điều kiện cho việc giải quyết phá sản được tiến hành nhanh gọn, có hiệu quả
Luật Phá sản của Cộng hòa Liên bang Nga rất coi trọng vai trò của các chủ
nợ cũng như Hội nghị chủ nợ trong quá trình giải quyết phá sản Theo đó, Hội nghị
Trang 20chủ nợ có rất nhiều quyền hạn cụ thể cả trong tổ chức lại hoạt động cũng như trong việc thanh lý tài sản của người mắc nợ Chẳng hạn, quyền lập ra Ủy ban chủ nợ và quyết định chức năng của nó, phê duyệt kế hoạch quản lý tài sản, thay đổi kế hoạch quản lý tài sản của người mắc nợ và đưa ra đề nghị về việc thực hiện kế hoạch đó,
ấn định mức thù lao cho quản tài viên; đề xuất ứng cử viên chức nhân viên thanh lý tài sản, cho phép nhân viên thanh lý tài sản ký các giao kèo liên quan đến việc định đoạt tài sản của người mắc nợ, quyết định về việc bắt đầu bán, hình thức bán và giá bán tài sản ban đầu của người mắc nợ,
Theo quy định của Luật Phá sản Doanh nghiệp Việt Nam, Hội nghị chủ nợ cũng là chủ thể quan trọng tham gia vào quá trình giải quyết phá sản Thành phần của Hội nghị chủ nợ bao gồm các chủ nợ có tên trong danh sách chủ nợ, chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, đại diện công đoàn hoặc đại diện người lao động nơi chưa có tổ chức công đoàn Hội nghị chủ nợ được tiến hành dưới sự chủ trì của Thẩm phán
Hội nghị chủ nợ có nhiệm vụ xem xét, thông qua phương án hoà giải, tổ chức lại hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và thảo luận, kiến nghị với Thẩm phán
về việc phân chia giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp trong trường hợp không có phương án hoà giải hoặc phương án hoà giải không được thông qua (điều 24, Luật Phá sản doanh nghiệp)
Hội nghị chủ nợ do Thẩm phán triệu tập và chủ trì Việc triệu tập Hội nghị chủ nợ có thể được tiến hành 1 lần hoặc phải tiến hành 2 lần tùy thuộc vào sự có mặt của số chủ nợ đại diện cho một tỷ lệ nhất định số nợ không có bảo đảm theo quy định của Luật hoặc theo ý kiến của các chủ nợ Cụ thể là, lần thứ nhất, Hội nghị chủ nợ chỉ hợp lệ khi có quá nửa số chủ nợ đại diện cho ít nhất 2/3 tổng số nợ không có bảo đảm tham gia Nếu không đạt được về điều kiện đó hoặc đa số chủ nợ
có mặt ở hội nghị biểu quyết hoãn hội nghị thì Hội nghị chủ nợ lần thứ hai phải được triệu tập chậm nhất sau 30 ngày, kể từ ngày hoãn Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất Lần thứ hai, Hội nghị chủ nợ được coi là hợp lệ khi thỏa mãn điều kiện duy
Trang 21nhất là có sự tham gia của số chủ nợ đại diện cho ít nhất 2/3 tổng số nợ không có bảo đảm
1.2.3.4 Tổ thanh toán tài sản
Sau khi có quyết định tuyên bố phá sản của Toà án, vấn đề mà các chủ nợ quan tâm là việc thanh toán các tài sản còn lại của doanh nghiệp sẽ được tiến hành
ra sao, họ có còn được thanh toán hay không và ai là người đứng ra thanh toán Để đảm bảo sự chính xác, công bằng trong việc phân chia số tài sản còn lại của doanh nghiệp cho các đối tượng theo thứ tự ưu tiên của Luật Phá sản, cần thiết phải có một chủ thể có thể đảm đương được công việc đó Đây là một vấn đề mà Luật Phá sản của các nước đều đề cập tới Do xuất phát từ những điều kiện khác nhau mà qui định về vấn đề thanh toán của pháp luật các nước cũng có những điểm khác biệt nhất định Theo Luật Phá sản của Trung quốc và Cộng hoà liên bang Nga, sau khi
có quyết định tuyên bố phá sản, Toà án là cơ quan thực hiện cả nhiệm vụ tổ chức phân chia tài sản còn lại của doanh nghiệp bị phá sản Luật Phá sản Doanh nghiệp của Việt Nam lại có qui định khác
Ở Việt Nam, vấn đề thanh toán tài sản của doanh nghiệp bị phá sản được thực hiện bởi Tổ thanh toán tài sản Tổ thanh toán tài sản do Trưởng phòng thi hành
án ra quyết định thành lập Thành phần của Tổ thanh toán tài sản bao gồm:
- Chấp hành viên làm Tổ trưởng Tổ thanh toán tài sản là một cán bộ Phòng thi hành án thuộc Sở Tư pháp;
- Đại diện các cơ quan tài chính, ngân hàng cấp tỉnh;
- Đại diện chủ nợ;
- Đại diện Công đoàn, hoặc đại diện người lao động nơi chưa có tổ chức Công đoàn;
- Đại diện doanh nghiệp bị phá sản
Theo đó thành viên Tổ quản lý tài sản của doanh nghiệp mắc nợ có thể được chỉ định để tham gia Tổ thanh toán tài sản Nhiệm vụ chủ yếu của Tổ thanh toán tài sản là thu hồi tài sản của doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản, tổ chức bán đấu giá tài sản và thực hiện thanh toán cho các chủ nợ theo phương án đã được quy định trong
Trang 22quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp Cụ thể, theo điều 44, Tổ thanh toán tài sản có các nhiệm vụ và quyền hạn sau:
1- Nhận bàn giao tài sản và các giấy tờ, tài liệu có liên quan từ Tổ quản lý tài sản;
2- Thu hồi và quản lý tất cả tài sản, giấy tờ, sổ sách kế toán và con dấu của doanh nghiệp phá sản;
3- Phát hiện và yêu cầu Chấp hành viên cho thu hồi lại tài sản của doanh nghiệp hoặc giá trị tài sản hay phần chênh lệch giá trị tài sản của doanh nghiệp đã bán hoặc chuyển giao bất hợp pháp theo quy định tại Điều 45 của Luật này Tổ thanh toán tài sản thu hồi lại tài sản, giá trị tài sản và phần chênh lệch đó theo quyết định của Chấp hành viên;
4- Theo quyết định của Chấp hành viên, Tổ thanh toán tài sản tổ chức việc bán đấu giá các tài sản của doanh nghiệp Việc bán đấu giá các tài sản của doanh nghiệp phải có công chứng Nhà nước chứng nhận Nếu tài sản đem bán đấu giá là thiết bị đồng bộ thì phải bán đồng bộ, trừ khi không bán được đồng bộ mới bán thiết
bị lẻ Việc tổ chức bán đấu giá tài sản và giải quyết quyền sử dụng đất đai của doanh nghiệp phải theo đúng pháp luật;
5- Gửi tất cả các khoản tiền thu được của doanh nghiệp vào tài khoản mới
- Nộp đơn và thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố phá sản
Hầu hết Luật Phá sản của các nước đều quy định doanh nghiệp mắc nợ có nghĩa vụ phải nộp đơn đến tòa án xin mở thủ tục xử lý phá sản khi bị rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán Ngoài ra, các chủ nợ và Tòa án hay Viện Kiểm sát
Trang 23khi phát hiện doanh nghiệp có dấu hiệu phá sản cũng có quyền yêu cầu mở thủ tục phá sản doanh nghiệp
Luật Phá sản Doanh nghiệp 1993 của nước ta tại các điều 7, 8, 9 quy định trong những trường hợp cụ thể chỉ có 3 đối tượng sau đây mới có quyền, nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu tòa án tuyên bố phá sản doanh nghiệp:
+ Chủ nợ không có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần: Sau thời hạn
ba mươi ngày, kể từ ngày gửi giấy đòi nợ đến hạn mà không được doanh nghiệp thanh toán nợ, các chủ nợ này có quyền nộp đơn đến Toà án nhân dân cấp tỉnh nơi đặt trụ sở chính của doanh nghiệp yêu cầu giải quyết việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp;
+ Người lao động: Trong trường hợp doanh nghiệp không trả được lương
cho người lao động ba tháng liên tiếp, thì đại diện công đoàn hoặc đại diện người lao động nơi chưa có tổ chức công đoàn có quyền nộp đơn đến Toà án nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính yêu cầu giải quyết việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp Sau khi nộp đơn, đại diện công đoàn hoặc đại diện người lao động nơi chưa có tổ chức công đoàn được coi là chủ nợ và không phải nộp tiền tạm ứng lệ phí;
+ Doanh nghiệp mắc nợ: Trong trường hợp đã thực hiện các biện pháp khắc
phục khó khăn về tài chính để thanh toán các khoản nợ đến hạn, kể cả hoãn nợ mà doanh nghiệp vẫn không thoát khỏi tình trạng mất khả năng thanh toán các khoản
nợ đến hạn, thì chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp phải nộp đơn đến Toà án nhân dân cấp tỉnh nơi đặt trụ sở chính của doanh nghiệp yêu cầu giải quyết việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp
Ngoài ba đối tượng trên thì không có một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân nào
có quyền yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp Sau khi nhận đơn, Toà án thụ lý đơn phải vào sổ và cấp cho người nộp đơn giấy báo đã nhận được đơn và các giấy
tờ kèm theo đơn Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày thụ lý đơn, Toà án phải thông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp mắc nợ biết, có bản sao đơn và các tài liệu liên quan kèm theo Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày thụ lý đơn, Chánh toà Toà kinh tế Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là Toà
Trang 24kinh tế cấp tỉnh) phải xem xét đơn cùng các giấy tờ, tài liệu có liên quan, nếu xét thấy không đủ căn cứ, thì ra quyết định không mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên
bố phá sản doanh nghiệp Quyết định này phải nêu rõ lý do và phải được gửi cho người làm đơn và doanh nghiệp mắc nợ biết Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được quyết định của Chánh toà Toà kinh tế cấp tỉnh, các bên có quyền khiếu nại với Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh về quyết định này Trong thời hạn bẩy ngày, kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại, Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh phải ra một trong các quyết định hoặc giữ nguyên quyết định của Chánh toà Toà kinh tế cấp tỉnh hoặc huỷ quyết định của Chánh toà Toà kinh tế cấp tỉnh và yêu cầu xem xét lại Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh ra quyết định Chánh toà Toà kinh tế phải ra quyết định mới Quyết định này phải được gửi cho Chánh án Toà án và các bên đương sự Trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được quyết định mới của Chánh toà Toà kinh tế nếu các bên còn khiếu nại thì trong thời hạn bảy ngày, Chánh án Toà án nhân dân tỉnh phải xem xét, quyết định Quyết định của Chánh án Toà án nhân dân tỉnh có hiệu lực thi hành
- Xác định tình trạng phá sản
Theo điều 2, Luật Phá sản Doanh nghiệp thì doanh nghiệp đang lâm vào tình trạng phá sản là doanh nghiệp "gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh sau khi đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn mất khả năng thanh toán nợ đến hạn" Tại điều 3, Nghị định 189/CP ngày 23 - 12 - 1994 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Phá sản Doanh nghiệp thì doanh nghiệp được coi là có dấu hiệu lâm vào tình trạng phá sản nếu "kinh doanh thua lỗ trong 2 năm liên tiếp đến mức không trả được các khoản nợ đến hạn, không trả đủ lương cho người lao động theo thỏa ước lao động và hợp đồng lao động trong 3 tháng liên tiếp"
Vì thế, để xem xét và kết luận một doanh nghiệp bị lâm vào tình trạng phá sản, về mặt pháp luật, đòi hỏi phải làm rõ các vấn đề sau:
+ Nguyên nhân gây ra thua lỗ dẫn đến tình trạng phá sản;
+ Thời hạn thua lỗ;
Trang 25+ Các biện pháp tài chính cần thiết mà doanh nghiệp đã áp dụng để khắc phục hậu quả thua lỗ
- Mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản
Theo quy định tại điều 13 và điều 15 của Luật Phá sản Doanh nghiệp 1993, sau khi xem xét đơn và các tài liệu liên quan, Chánh toà Toà kinh tế cấp tỉnh ra quyết định mở hoặc không mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp Trường hợp quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản, quyết định phải nêu rõ lý do mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp, ấn định thời điểm ngừng thanh toán nợ của doanh nghiệp; họ, tên của Thẩm phán phụ trách việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp và các nhân viên Tổ quản lý tài sản được chỉ định
- Tổ chức hội nghị chủ nợ
Tổ chức hội nghị của các chủ nợ được tiến hành trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày khóa danh sách chủ nợ Hội nghị chủ nợ do Thẩm phán triệu tập và chủ trì Giấy triệu tập chủ nợ và bản sao phương án hòa giải cùng các giải quyết tổ chức lại hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phải được gửi cho các thành viên và những người tham dự hội nghị chậm nhất 15 ngày trước ngày khai mạc hội nghị
Điều 30 của Luật Phá sản Doanh nghiệp cũng quy định hội nghị chủ nợ có thể được hoãn một lần, nếu không đủ quá nửa số chủ nợ đại diện cho ít nhất hai phần ba tổng số nợ không có bảo đảm tham gia hoặc đa số chủ nợ có mặt ở hội nghị biểu quyết hoãn hội nghị Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày hoãn hội nghị chủ nợ, Thẩm phán phải triệu tập lại hội nghị chủ nợ và chủ trì hội nghị Trường hợp hội nghị chủ nợ không thành do không đủ số chủ nợ theo quy định thì Thẩm phán ra quyết định đình chỉ việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp
và phải được đăng báo địa phương, báo hàng ngày của Trung ương trong ba số liên tiếp
- Ra quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp
Điều 36, Luật Phá sản Doanh nghiệp quy định, Thẩm phán ra quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp trong các trường hợp sau đây :
Trang 261- Chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp không có phương án hoà giải và các giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp theo quy định tại Điều 20 của Luật này;
2- Chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp không thực hiện các quy định tại Điều 28 của Luật này;
3- Hội nghị chủ nợ không thông qua phương án hoà giải và các giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp;
4- Hết thời hạn tổ chức lại hoạt động kinh doanh mà doanh nghiệp vẫn kinh doanh không có hiệu quả và các chủ nợ yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp;
5- Trong thời hạn tổ chức kinh doanh, doanh nghiệp vi phạm nghiêm trọng những thoả thuận tại hội nghị chủ nợ và các chủ nợ yêu cầu tuyên bố phá sản;
6- Trong quá trình giải quyết việc phá sản doanh nghiệp mà chủ doanh nghiệp tư nhân bỏ trốn hoặc bị chết và người thừa kế từ chối thừa kế hoặc không có người thừa kế
Theo điều 37, quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp phải nêu rõ tên của Toà án, họ và tên của Thẩm phán giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp; ngày và số thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp; tên và địa chỉ của doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản; ngày tuyên bố phá sản doanh nghiệp; lý do tuyên bố phá sản doanh nghiệp; phương án phân chia giá trị tài sản của doanh nghiệp Quyết định này phải được gửi cho các chủ nợ, doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản và Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp
Trong quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp, Thẩm phán ra quyết định bảo toàn tài sản thế chấp hoặc cầm cố, tổ chức việc xác định giá trị của những tài sản đó Nếu giá trị tài sản thế chấp hoặc cầm cố không đủ thanh toán số nợ của chủ nợ có bảo đảm, thì chủ nợ đó được tham gia vào việc phân chia giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp như các chủ nợ không có bảo đảm khác Nếu giá trị của tài sản cầm cố hoặc thế chấp đó lớn hơn số nợ, thì phần chênh lệch được nhập vào giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp phá sản Việc phân chia giá trị tài
Trang 27sản còn lại của doanh nghiệp theo thứ tự ưu tiên của pháp luật mà không được tiến hành một cách tùy tiện
Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày có quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp, các chủ nợ và doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản có quyền gửi đơn khiếu nại, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này Hết thời hạn đó, nếu không có khiếu nại, kháng nghị, thì quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp có hiệu lực thi hành Trường hợp có khiếu nại, kháng nghị, thì trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại, kháng nghị, Thẩm phán
đã ra quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp phải gửi hồ sơ phá sản doanh nghiệp lên Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao
Chậm nhất là mười ngày, kể từ ngày ra quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp có hiệu lực, Thẩm phán phải đăng báo địa phương và báo hàng ngày của Trung ương trong ba số liên tiếp về quyết định này
- Tổ chức quá trình thi hành quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp
Việc thi hành quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp thuộc thẩm quyết của Phòng thi hành án thuộc Sở Tư pháp nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính Trưởng phòng thi hành án chỉ định Chấp hành viên phụ trách thi hành quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp, ra quyết định thành lập Tổ thanh toán tài sản và kiểm tra, giám sát công việc của Tổ thanh toán tài sản Thành phần Tổ thanh toán tài sản phải bao gồm chấp hành viên, cán bộ Phòng thi hành án; đại diện các cơ quan tài chính, ngân hàng cùng cấp; đại diện chủ nợ, đại diện công đoàn hoặc đại diện người lao động nơi chưa có tổ chức công đoàn; đại diện doanh nghiệp bị phá sản Thành viên
Tổ quản lý tài sản có thể được chỉ định tham gia Tổ thanh toán tài sản Tổ thanh toán tài sản do Chấp hành viên làm tổ trưởng Chấp hành viên phải chịu trách nhiệm trước Trưởng phòng thi hành án trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của
mình
Trong quá trình thi hành quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp, đương
sự có quyền khiếu nại lên Trưởng phòng thi hành án thuộc Sở Tư pháp Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày nhận đơn, Trưởng phòng thi hành án thuộc Sở Thông tư
Trang 28pháp phải xem xét, giải quyết và trả lời cho người khiếu nại Nếu không đồng ý với quyết định của Trởng phòng thi hành án thuộc Sở Tư pháp thì đương sự có quyền khiếu nại lên Cục trưởng Cục quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại, Cục trưởng Cục quản lý thi hành án dân sự phải ra quyết định hoặc là giữ nguyên quyết định của Trưởng phòng thi hành án thuộc Sở Tư pháp hoặc quyết định huỷ bỏ quyết định bị khiếu nại và giao cho Trưởng phòng thi hành án thuộc Sở Tư pháp giải quyết lại Kết thúc việc thanh toán, Trưởng phòng thi hành án ra quyết định chấm dứt việc thi hành quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp Quyết định này phải được gửi đến cơ quan đăng ký kinh doanh để xoá tên doanh nghiệp trong sổ đăng ký kinh doanh
Trang 29Chương 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG LUẬT PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP VÀ NHỮNG TỒN TẠI, VƯỚNG MẮC
TRONG QUÁ TRÌNH ÁP DỤNG
2.1 KHÁI QUÁT CHUNG QUÁ TRÌNH ÁP DỤNG LUẬT PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP TRONG THỜI GIAN QUA
2.1.1 Thực tế giải quyết phá sản doanh nghiệp ở nước ta
Kể từ ngày 1/7/1994, Luật Phá sản Doanh nghiệp bắt đầu có hiệu lực thi hành Để thực hiện Luật Phá sản Doanh nghiệp, Toà Kinh tế được thành lập nằm trong hệ thống Toà án nhân dân có nhiệm vụ giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản
Từ đó đến nay, sau 8 năm được đưa vào thực tiễn, việc áp dụng đạo luật này cho thấy số doanh nghiệp được Toà án thụ lý và giải quyết phá sản là những con số quá khiêm tốn Mỗi năm, toàn ngành Toà án chỉ nhận được và thụ lý khoảng 30 đơn yêu cầu tuyên bố phá sản Trong số đó khoảng 1/2 số đơn phải đình chỉ, tạm đình chỉ giải quyết hoặc giải quyết bằng hoà giải thành
Theo Báo cáo tổng kết của Toà án nhân dân tối cao, kể từ khi Luật Phá sản doanh nghiệp có hiệu lực thi hành cho đến hết năm 2001, số lượng vụ việc phá sản được thụ lý và giải quyết qua các năm như sau:
+ Năm 1994: Trong năm 1994, Toà án nhân dân địa phương (thành phố Hồ
Chí Minh, thành phố Hải Phòng, tỉnh Quảng Ninh, Tây Ninh, Cần Thơ) thụ lý 05 vụ việc yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp nhưng chưa giải quyết xong vụ nào Cả
5 doanh nghiệp bị yêu cầu tuyên bố phá sản đều là doanh nghiệp tư nhân và có địa điểm tại 5 địa phương trên [39; tr 19,20];
+ Năm 1995: Theo thống kê, số đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp
trong năm nay có tăng hơn năm trước, thành phần cũng đa dạng hơn Trong năm nay, đã có 17 tỉnh, thành phố thụ lý 27 đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp, trong đó có 8 doanh nghiệp tư nhân, 8 Công ty trách nhiệm hữu hạn, 6 doanh
Trang 30nghiệp Nhà nước, 1 Công ty cổ phần, 2 hợp tác xã và 1 doanh nghiệp thành lập theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Các Toà án đã giải quyết xong 21 vụ (kể cả số vụ đã thụ lý trong năm 1994 chuyển sang), trong đó hoà giải thành công 10 vụ, tạm đình chỉ giải quyết phá sản 6
vụ và tuyên bố phá sản 5 vụ [40, tr 33];
+ Năm 1996: So với năm 1995, số lượng vụ việc thụ lý phá sản doanh
nghiệp giảm xuống chỉ còn 22 vụ việc, trong đó các Toà án đã thụ lý và giải quyết
doanh nghiệp Nhà nước)
Trong số 11 vụ đã giải quyết, có 4 quyết định của cấp sơ thẩm bị kháng cáo kháng nghị Các Toà Phúc thẩm đã thụ lý và giải quyết phúc thẩm 4 vụ (huỷ 3, cải sửa l) [41, tr 31];
+ Năm 1997: Các Toà án nhân dân địa phương đã thụ lý tổng số 22 vụ việc,
trong đó các Toà án đã giải quyết xong 15 vụ (ra quyết định tuyên bố phá sản 12 và
ra quyết định công nhận hoà giải thành là 3 vụ) [42, tr 36];
+ Năm 1998: Trong năm này, chỉ có 15/61 tỉnh, thành phố thụ lý đơn yêu
cầu tuyên bố phá sản với tổng số là 23 trường hợp, trong đó giải quyết ra quyết định tuyên bố phá sản 3 vụ (2 doanh nghiệp Nhà nước, 1 doanh nghiệp tư nhân) [43, tr 35];
+ Năm 1999: Toà án nhân dân đã thụ lý 22 đơn yêu cầu tuyên bố phá sản và
đã ra quyết định tuyên bố phá sản 7 doanh nghiệp Đặc biệt, trong năm này, riêng Toà án nhân dân Thành phố Hồ chí Minh đã thụ lý 5 vụ và giải quyết xong 3 vụ [44,
tr 6];
+ Năm 2000: Trong năm 2000, số vụ thụ lý giảm hẳn, chỉ còn 8 vụ (kể cả 1
vụ từ năm 1999 chuyển sang) Toà án nhân dân các địa phương đã giải quyết ra quyết định tuyên bố phá sản 8 doanh nghiệp [45, trang 42];
+ Năm 2001: Số đơn yêu cầu tuyên bố phá sản giảm hẳn, tính cả năm, cả ngành Toà án chỉ thụ lý 6 vụ việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp cộng với 4 vụ tồn
Trang 31từ năm 2000 chuyển sang Trong năm này, Toà án đã giải quyết ra quyết định tuyên
bố phá sản 6 doanh nghiệp [46, tr 25]
Nhìn chung, số doanh nghiệp được các Toà án giải quyết bằng quyết định tuyên bố phá sản thì các quyết định đó đều được đưa ra thi hành bởi các cơ quan thi hành án ở các địa phương nơi doanh nghiệp đó đóng trụ sở chính Hiện nay, trong
cả nước mới có khoảng 20 Phòng thi hành án tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
có nhận thụ lý và tổ chức thi hành quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp Hầu hết, việc thi hành các quyết định tuyên bố phá sản đều được thực hiện bởi các cơ quan thi hành án ở các tỉnh phía Nam như: Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Quảng Nam, Trà Vinh, Đồng Nai, Đồng Tháp, Long An, Tây Ninh,… Chỉ một vài tỉnh phía Bắc, cơ quan thi hành án thực thi nhiệm vụ này như: Hà Tĩnh, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh,… Sau đây, chúng tôi xin trình bày về một số vụ giải quyết phá sản điển hình mà Tòa Kinh tế của các tỉnh, thành phố đã giải quyết bằng cách thức và quyết định khác nhau
2.1.1.1 Một số vụ đƣợc Tòa án giải quyết bằng việc ra các quyết định tuyên bố phá sản
Vụ thứ nhất: Giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản Xí nghiệp chế biến
dịch vụ thủy sản Thăng Bình [36]
Xí nghiệp chế biến dịch vụ thủy sản Thăng Bình (Quảng Nam - Đà Nẵng) là doanh nghiệp nhà nước được thành lập lại quyết định số 52/QĐUB ngày 15/01/1993 của Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng Ngành nghề kinh doanh theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 101090 ngày 23/02/1993 của Trọng tài kinh tế tỉnh là chế biến nước mắm, bột cá, dịch vụ vật tư thủy sản, khai thác thủy sản
Do làm ăn sa sút, thua lỗ, ngày 01/05/1995, Giám đốc xí nghiệp, công đoàn
xí nghiệp đều có đơn đề nghị giải quyết phá sản với lý do không có khả năng phục hồi lại hoạt động kinh doanh và không trả được lương của người lao động trong 3 tháng liên tiếp Ngày 04/07/1995, Tòa án nhân dân Quảng Nam - Đà Nẵng ra quyết
Trang 32định số 01/QĐ - TA về việc mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản đối với
Xí nghiệp chế biến dịch vụ thủy sản Thăng Bình
Qua quá trình thu thập, đánh giá các hồ sơ, tài liệu liên quan đến hoạt động của xí nghiệp, Hội đồng xét xử thấy xí nghiệp thua lỗ do quá yếu kém trong quản lý (không tính toán chặt chẽ chi phí đầu vào, sử dụng tài sản không hiệu quả, trình độ cán bộ quản lý thấp ) Mặc dầu giá trị tài sản trên bảng tổng kết tài sản của doanh nghiệp (lập ngày 30/06/1995) là 598.206.981 đồng (trong đó tài sản cố định là 515.577.107 đồng) và số nợ đến hạn là 296.595.058 đồng nhưng xí nghiệp không thể thanh toán được vì khả năng thanh toán quá thấp (tổng số tiền và tương đương tiền ước khoản 10.000.000 đồng, chỉ chiếm 3,3% so với nợ đến hạn) Mặt khác, xí nghiệp không thể bán nhà xưởng, thiết bị để trả nợ vì nó có vai trò sống còn với xí nghiệp Hơn nữa, do kinh doanh thua lỗ nên không ngân hàng nào đồng ý cho xí nghiệp tiếp tục vay mà yêu cầu xí nghiệp trả nợ vay đến hạn
Ủy ban Nhân dân tỉnh và Sở Thủy sản sau khi xem xét tình hình kinh doanh của xí nghiệp đã quyết định không áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết (cấp vốn, cho vay ưu đãi, ) để phục hồi khả năng hoạt động của xí nghiệp nữa mà đồng
ý chấm dứt hoạt động của xí nghiệp dưới hình thức phá sản Như vậy, không có bất
kỳ nguồn tài chính nào có thể cứu vãn xí nghiệp thoát khỏi tình trạng thua lỗ và trả được các khoản nợ đến hạn
Tại Hội nghị chủ nợ ngày 17/10/1995, Giám đốc xí nghiệp không đưa ra phương án hòa giải và các giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh Do vậy, Hội nghị chủ nợ chỉ thảo luận và thông qua phương án phân chia tài sản của xí nghiệp Theo bảng tổng kết tài sản do Tổ quản lý tài sản lập ngày 12/09/1995, tổng giá trị tài sản của xí nghiệp là 565.205.227 đồng (trong đó tài sản cố định là 515.433.304 đồng), tổng số nợ phải trả là 463.630.161 đồng
Từ những phân tích trên, Tòa án nhân dân Quảng Nam - Đà Nẵng, áp dụng điều 36, Luật Phá sản doanh nghiệp đã quyết định tuyên bố phá sản Xí nghiệp chế biến dịch vụ thủy sản Thăng Bình cùng với phương án phân chia tài sản, chấm dứt
Trang 33sự tồn tại của xí nghiệp kể từ ngày 15/11/1995 (Quyết định số 01/QĐ - PS ngày 10/11/1995) [36]
Vụ thứ hai: Giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản Công ty Tơ tằm xuất
khẩu Thanh Hóa [37]
Công ty Tơ tằm xuất khẩu Thanh Hóa là doanh nghiệp nhà nước được thành lập theo quyết định số 1457 TC/UBTH ngày 26/11/1992 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 105183 ngày 20/1/1993 do Trọng tài kinh tế tỉnh Thanh Hóa cấp Trong quá trình hoạt động, Công ty đã lợi dụng sơ hở trong quản lý kinh tế, cố tình làm trái các quy định của Nhà nước, gây nhiều thiệt hại và hậu quả xấu Giám đốc cùng một số cán bộ chủ chốt trong Công
ty hợp pháp hóa nhiều giấy tờ, chứng từ dưới nhiều hình thức để thanh toán khống, tham ô hàng trăm triệu đồng và gây thiệt hại cho Công ty hàng tỷ đồng Vì thế, dẫn đến tình trạng làm ăn thua lỗ kéo dài, đời sống cán bộ công nhân viên vô cùng khó khăn, giám đốc và một số cán bộ chủ chốt của Công ty phải vào tù, Công ty chấm dứt mọi hoạt động kinh doanh và ở vào tình trạng phá sản hoàn toàn
Tại Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất ngày 31/03/1996, Công ty Tơ tằm xuất khẩu Thanh Hóa không có phương án phục hồi sản xuất - kinh doanh mà hoàn toàn nhất trí như tất cả các chủ nợ là đề nghị Tòa Kinh tế, Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa giải quyết tuyên bố phá sản doanh nghiệp theo Luật Phá sản Trên cơ sở Hội nghị chủ nợ, để có căn cứ cho việc tuyên bố phá sản theo quy định của pháp luật, Tòa án đã có văn bản trưng cầu cơ quan kiểm toán Nhà nước tỉnh Thanh Hóa xác định lại các khoản nợ phải thu, phải trả và kết quả kinh doanh của Công ty nhưng chi nhánh Công ty dịch vụ tư vấn tài chính - kế toán - kiểm toán tại Thanh Hóa đã
từ chối kiểm toán với lý do trước đó nhiều năm, Công ty Tơ tằm xuất khẩu Thanh Hóa đã không quyết toán tài chính; hồ sơ, chứng từ bị thiếu và thất lạc; giám đốc cũ
ở tù, giám đốc mới không được nhận bàn giao hồ sơ, tài liệu mà chỉ làm nhiệm vụ trông coi, bảo quản tài sản và làm việc theo yêu cầu của các đoàn thanh tra, kiểm tra
Trang 34Vì những lí do trên, căn cứ vào các điều 36, 37, 38, 39 của Luật Phá sản doanh nghiệp, vào Nghị định 189/CP ngày 23/12/1994 và Nghị định 92/CP ngày 19/12/1995 của Chính phủ, ngày24/07/1998, Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã ra quyết định số 1591 QĐPS/TATH tuyên bố phá sản Công ty Tơ tằm xuất khẩu Thanh Hóa Trong quá trình mở thủ tục giải quyết tuyên bố phá sản, Tòa án đã tiến hành xác định và làm rõ các khoản phải thu, phải trả, định giá tài sản còn lại, xử lý các khoản nợ đang tranh chấp Cụ thể, tổng giá trị tài sản còn lại của Công ty là 1.066.878.511 đồng (trong đó, nợ phải thu là 971.794.511 đồng) Số tài sản này được dùng để thanh toán chi phí phá sản: 40.194.000 đồng, thanh toán tiền chế độ cho người lao động: 121.109.407 đồng, trả cho chủ nợ có bảo đảm: 89.213.740 đồng; còn lại 856.361.364 đồng sẽ được chia cho 8 chủ nợ không có bảo đảm với số
nợ là 3.034.875.487 đồng (mỗi chủ nợ được trả 28% số tiền còn nợ) Số lệ phí phá sản do Công ty chịu là 300.000 đồng Ngân hàng công thương Thanh Hóa được trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp trước đây [37]
Vụ thứ ba: Giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản Công ty sản xuất và
kinh doanh dịch vụ xuất - nhập khẩu Tân Bình (Tamexco) [27]
Công ty sản xuất và kinh doanh dịch vụ xuất - nhập khẩu Tân Bình thành lập theo giấy phép số 52/QĐ - UB ngày 21/12/1993 của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh có chức năng kinh doanh thương mại, dịch vụ, du lịch và xuất - nhập khẩu
Tháng 10/1995, giám đốc Công ty bị bắt trong một vụ án hình sự và bị truy
tố trước pháp luật Tháng 3/1997, đại diện Công ty nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp theo chủ trương của cơ quan chủ quản Tuy nhiên, mãi đến ngày 30/08/1997, sau khi có ý kiến của cơ quan kiểm toán và có kết quả xét xử vụ án hình sự đối với giám đốc Công ty, Tòa Kinh tế Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh mới ra quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản Tamexco
Qua quá trình xác minh, tổng công nợ phải trả của Công ty là 368.321.392.108 đồng, tổng giá trị tài sản là 263.005.363.093 đồng (trong đó, nợ
Trang 35phải thu 253.541.520.213 đồng), mất khả năng thanh toán 105.316.029.015 đồng
Số nợ phải thu có khả năng thu hồi rất thấp
Do không có phương án hòa giải, không có các giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh nên Hội nghị chủ nợ họp ngày 30/12/1997 đã quyết định tuyên bố phá sản Công ty và thông qua phương án phân chia tài sản Tuy nhiên, do có vướng mắc về việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp trong khi doanh nghiệp đang có trách nhiệm thi hành án nên đến ngày 31/03/1999, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh mới công bố quyết định tuyên bố phá sản Tamexco theo quyết định số 01/QĐ
- PSDN
Do hai trong số các chủ nợ có đơn khiếu nại nên hồ sơ đã được chuyển lên Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh xem xét Sau khi xem xét, Tòa phúc thẩm đã ra quyết định bác đơn khiếu nại và công nhận quyết định tuyên
bố phá sản Tamexco của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh có hiệu lực pháp luật thi hành [27]
2.1.1.2 Một số vụ giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản được giải quyết bằng việc Tòa án ra quyết định công nhận biên bản hòa giải thành và tạm đình chỉ việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản
Vụ thứ nhất: Giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản đối với Công ty trách
nhiệm hữu hạn Thương mại Hiệp Phong [27]
Công ty TNHH Thương mại Hiệp Phong được thành lập theo giấy phép số
048389 ngày 11/03/1993 của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh chuyên kinh doanh về tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng, vật liệu xây dựng, nông - thủy - hải sản, lương thực - thực phẩm Ngày 10/11/1994, Công ty có đơn xin giải quyết tuyên bố phá sản doanh nghiệp gửi đến Tòa Kinh tế - Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh Ngày 12/12/1994, Tòa Kinh tế quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản Tổng giá trị tài sản còn lại của Công ty ở thời điểm Tòa án thụ lý
hồ sơ là 238.138.781 đồng (trong đó nợ phải thu là 173.692.334 đồng); tổng số nợ phải trả đã được Tòa án xác định là 4.377.773.596 đồng (trong đó, nợ có bảo đảm là 467.010.000 đồng)
Trang 36Ngày 17/01/1996, Tòa Kinh tế tổ chức Hội nghị chủ nợ để thảo luận phương
án hòa giải và giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh của Công ty Kết quả Hội nghị chủ nợ đã nhất trí 100%, biểu quyết thông qua phương án hòa giải tổ chức lại hoạt động kinh doanh của Công ty Tòa án đã có quyết định số 01/QĐCNHGT ngày 01/02/1996 công nhận biên bản hòa giải thành và quyết định số 01/QĐTĐC - PS ngày 01/02/1996 tạm đình chỉ giải quyết phá sản doanh nghiệp đối với Công ty TNHH Thương mại Hiệp Phong
Vụ thứ hai: Giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản Công ty Du lịch -
Khách sạn Quảng Bình [35]
Công ty Du lịch - Khách sạn Quảng Bình là một doanh nghiệp Nhà nước có giá trị tài sản hiện đang quản lý, sử dụng là 7.800.000.000 đồng Trong quá trình hoạt động kinh doanh, Công ty đã có số nợ mất khả năng thanh toán là 3.079.000.000 đồng và 10.529 USD
Sau khi có đơn xin tuyên bố phá sản của Công ty, Tòa Kinh tế - Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình đã thụ lý đơn ngày 26/11/1994 Ngày 15/07/1995, Tòa Kinh tế
đã tổ chức Hội nghị chủ nợ để thông qua phương án hòa giải, tổ chức lại hoạt động sản xuất - kinh doanh của Công ty 19 trên 30 chủ nợ có tên trong danh sách chủ nợ
đã có mặt (trong đó có 18/29 chủ nợ không có bảo đảm, chiếm 60,07%, đại diện cho 1.800.000.000 đồng trên tổng số nợ không có bảo đảm là 1.900.000.000 đồng; có 1/1 chủ nợ có bảo đảm đại diện cho số nợ 1.232.000.000 đồng) Sau khi nghe Giám đốc Công ty trình bày phương án trả nợ và tổ chức lại hoạt động kinh doanh của Công ty, các chủ nợ đã tiến hành thảo luận và nhất trí thông qua các vấn đề sau: 1) Thống nhất phương án thanh toán nợ (phương án số 66/PA - DLKS ngày 25/06/1995 của Công ty Du lịch - Khách sạn Quảng Bình);
2) Thống nhất trật tự thanh toán nợ theo thứ tự ưu tiên (ưu tiên nợ có bảo đảm trước, trả nợ gốc trước, nợ lãi sau hoặc thanh toán theo tỷ lệ);
3) Đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh và các cấp có thẩm quyền tạo điều kiện cho Công
ty thanh toán nợ theo đúng phương án và tổ chức lại kinh doanh để duy trì doanh nghiệp
Trang 37Căn cứ vào hồ sơ giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản của Công ty và biên bản hòa giải thành của Hội nghị chủ nợ, Tòa Kinh tế - Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình đã ra quyết định số 19/TA - KT ngày 01/08/1995 công nhận biên bản hòa giải thành và tạm đình chỉ việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản Công ty Du lịch - Khách sạn Quảng Bình
Vụ thứ ba: Giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản Công ty chế biến thủy -
hải sản Hùng Vương [27]
Công ty chế biến thủy - hải sản Hùng Vương được thành lập theo giấy phép
số 100/QĐ - UB ngày 18/03/1993 của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, có chức năng sản xuất - kinh doanh, chế biến thực phẩm đông lạnh Ngày 01/06/1998, Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh thụ lý đơn yêu cầu giải quyết tuyên bố phá sản doanh nghiệp của Công ty Ngày 20/06/1998, Tòa án có quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp đối với Công ty chế biến thủy - hải sản Hùng Vương Tổng giá trị tài sản còn lại của Công ty được xác định là 13.311.791.688 đồng (trong đó nợ phải thu là 1.867.329.793 đồng), tổng số nợ phải trả là 225.395.657.790 đồng, mất khả năng thanh toán 212.083.866.102 đồng
Ngày 28/10/1998, Tòa án tổ chức Hội nghị chủ nợ Các chủ nợ đã thống nhất phương án tổ chức lại hoạt động kinh doanh của Công ty và hòa giải thành
Ngày 01/11/1998, căn cứ vào biên bản hòa giải thành của Hội nghị chủ nợ, Tòa án đã có quyết định tạm đình chỉ giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp đối với Công ty chế biến thủy - hải sản Hùng Vương
2.1.1.3 Một số vụ được giải quyết bằng việc Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản
Vụ thứ nhất: Giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản đối với Công ty
TNHH May mặc và chế biến nông sản Ngọc Thảo [27]
Công ty TNHH May mặc và chế biến nông sản Ngọc Thảo thành lập theo giấy phép số 112/GP - UB ngày 23/03/1992 của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, có chức năng kinh doanh may mặc, chế biến nông sản xuất khẩu
Trang 38Đơn đề nghị giải quyết tuyên bố phá sản của Công ty Ngọc Thảo được Tòa
án thụ lý ngày 30/07/1997 Ngày 08/08/1997, Tòa án nhân dân thành phố ra quyết định số 02/TTPS - KT về việc mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản đối với Công ty Ngọc Thảo Tổng giá trị tài sản còn lại của Công ty là 199.485.655.543 đồng (trong đó nợ phải thu là 169.898.000 đồng); tổng số nợ phải trả là 324.257.263.422 đồng, Công ty mất khả năng thanh toán số nợ là 124.771.607.879 đồng
Ngày 29/06/1998, Tòa án tổ chức Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất Do chưa đủ thành phần chủ nợ tham dự theo quy định của Luật Phá sản doanh nghiệp nên Hội nghị chủ nợ lần 1 tạm hoãn Ngày 17/07/1998, Tòa án tổ chức Hội nghị chủ nợ lần thứ hai Lần này, cũng do không đủ số chủ nợ đại diện cho ít nhất 2/3 tổng số nợ không có bảo đảm nên Hội nghị chủ nợ lần này lại không thành
Theo quy định tại điều 31, Luật Phá sản Doanh nghiệp, sau 2 lần tổ chức Hội nghị chủ nợ không thành, Tòa án đã ra quyết định đình chỉ giải quyết yêu cầu tuyên
bố phá sản doanh nghiệp đối với Công ty TNHH Ngọc Thảo
Vụ thứ hai: Giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản đối với Công ty TNHH
Thương mại Bảo Sơn [27]
Công ty TNHH Thương mại Bảo Sơn thành lập theo giấy phép số 2984/GP - TLDN ngày 16/11/1996 của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, có chức năng mua bán lương thực, thực phẩm, công nghệ phẩm, may mặc, đồ dùng gia đình,
ô tô, xe gắn máy, vật liệu xây dựng, phân bón
Công ty Bảo Sơn có đơn đề nghị giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp và được Tòa án thụ lý ngày 04/01/1999 Ngày 10/02/1999, Tòa án nhân dân thành phố ra quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản đối với Công ty Bảo Sơn Tổng giá trị tài sản còn lại của Công ty là 127.249.920 đồng (trong đó nợ phải thu là 68.375.430 đồng); tổng số nợ phải trả là 8.697.362.232 đồng, Công ty mất khả năng thanh toán số nợ là 8.570.011.312 đồng
Ngày 12/10/1999, Tòa án tổ chức Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất nhưng phải hoãn do chưa đủ thành phần chủ nợ tham dự theo quy định của Luật Phá sản doanh
Trang 39nghiệp Ngày 11/11/1999, Tòa án tổ chức Hội nghị chủ nợ lần thứ hai Lần này, cũng do không đủ số chủ nợ đại diện cho ít nhất 2/3 tổng số nợ không có bảo đảm nên Hội nghị chủ nợ lần này lại không thành
Theo quy định tại điều 31, Luật Phá sản doanh nghiệp, sau 2 lần tổ chức Hội nghị chủ nợ không thành, Tòa án đã ra quyết định đình chỉ giải quyết yêu cầu tuyên
bố phá sản doanh nghiệp đối với Công ty TNHH Bảo Sơn
2.1.1.4 Một số vụ giải quyết phá sản bị khiếu nại, kháng nghị
Vụ thứ nhất: Giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp tƣ nhân
Kim Thoại [31]
Doanh nghiệp tư nhân Kim Thoại được thành lập theo giấy phép số 015121/GP - TLDN - 01 ngày 25/01/1994 (thay cho giấy phép số 004/TN - ĐKKD ngày 26/06/1991 của Ủy ban nhân dân tỉnh Cần Thơ) Chủ doanh nghiệp tư nhân Kim Thoại làm đơn xin tuyên bố phá sản doanh nghiệp của mình
Ngày 29/01/1996, Tòa án nhân dân tỉnh Cần Thơ ra quyết định số 01/QĐPS
về việc tuyên bố phá sản đối với doanh nghiệp tư nhân Kim Thoại Ngày 16/02/1996, các chủ nợ có đơn kháng cáo với nội dung quan hệ giữa chủ doanh nghiệp Kim Thoại với các chủ nợ là quan hệ dân sự, không thể giải quyết theo thủ tục phá sản doanh nghiệp được Việc vay mượn tiền, vàng của chủ doanh nghiệp không sử dụng cho hoạt động kinh doanh mà mang tính chất lừa đảo Việc xin phá sản doanh nghiệp là giả tạo, báo cáo tài chính của doanh nghiệp không được cơ quan kiểm toán xác nhận, không có căn cứ để giải quyết phá sản Trong quá trình giải quyết phá sản doanh nghiệp tư nhân Kim Thoại, các cán bộ Tòa Kinh tế tỉnh Cần Thơ đã có biểu hiện vi phạm pháp luật (vận động các chủ nợ rút đơn kháng cáo đối với quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp của Tòa án nhân dân tỉnh)
Ngày 04/03/1996, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cần Thơ có quyết định số 02/QĐKT kháng nghị quyết định của Tòa án nhân dân tỉnh Cần Thơ với nội dung như kháng cáo của các chủ nợ và đề nghị hủy bỏ quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp của Tòa án nhân dân tỉnh Cần Thơ; đình chỉ việc giải quyết yêu cầu tuyên bố
Trang 40phá sản của doanh nghiệp tư nhân Kim Thoại để giải quyết, xử lý bằng các biện pháp hình sự
Qua xem xét hồ sơ xin tuyên bố phá sản của doanh nghiệp tư nhân Kim Thoại, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao nhận thấy nổi cộm các vấn đề sau:
- Thứ nhất, trước ngày 25/01/1994, chủ cơ sở kinh doanh Kim Thoại chưa phải là doanh nghiệp tư nhân nên chưa phải là đối tượng điều chỉnh của Luật Phá sản Doanh nghiệp tư nhân Kim Thoại chỉ được chính thức thành lập từ ngày 25/01/1994 theo giấy phép thành lập số 015121/GP - TLDN - 01 của Ủy ban nhân dân tỉnh Cần Thơ;
- Thứ hai, không đủ căn cứ pháp lý để xác định doanh nghiệp thực sự thua lỗ trong kinh doanh, dẫn đến mất khả năng thanh toán nợ đến hạn do doanh nghiệp Kim Thoại không thực hiện nghiêm chỉnh chế độ sổ sách, chứng từ kế toán, báo cáo tài chính không có xác nhận của cơ quan kiểm toán Mặt khác, nội dung báo cáo hoạt động kinh doanh và hoạt động tài chính có nhiều vấn đề không minh bạch, không rõ ràng (chi phí cao gấp 2 - 3 lần thu nhập; nợ thực tế cao gấp 5 lần so với tính toán ) Bên cạnh đó, doanh nghiệp không nghiêm chỉnh thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước Hồ sơ thể hiện rõ hành vi lừa gạt, lạm dụng lòng tin của các chủ nợ, dùng các giấy tờ, văn bản photo liên quan đến tài sản của doanh nghiệp để cầm cố, thế chấp ở nhiều nơi để vay tiền, vàng và mua chịu hàng hóa
- Thứ ba, Tòa án nhân dân tỉnh Cần Thơ đã không xem xét xử lý phần tài sản riêng của chủ doanh nghiệp ngoài số tài sản của doanh nghiệp Điều này trái với quy định tại điều 19 của Luật Phá sản doanh nghiệp
Từ những phân tích trên, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh quyết định hủy toàn bộ quyết định số 01/QĐPS ngày 29/01/1996 của Tòa án nhân dân tỉnh Cần Thơ về việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp đối với doanh nghiệp tư nhân Kim Thoại; đồng thời đình chỉ việc giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp của doanh nghiệp tư nhân Kim Thoại và giao toàn bộ hồ sơ cho
cấp sơ thẩm tỉnh Cần Thơ xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật hình sự