2 BỘ TƯ PHÁP ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI MÔN HỌC LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂM ĐỀ TÀI PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH BẢO HIỂM TẠI VIỆT NAM Giảng viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện Mã sinh viên Lớp Hà Nội, Tháng 42022 MỞ ĐẦU 4 CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM VÀ KINH DOANH BẢO HIỂM 6 1 1 Bảo hiểm 6 1 1 1 Định nghĩa bảo hiểm 6 1 1 2 Phân loại bảo hiểm 7 1 2 Kinh doanh bảo hiểm 8 CHƯƠNG II PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH BẢO HIỂM 10 2 1 Khái quát pháp luật về kinh doanh bảo hiểm 10 2 1 1 Khái niệm 10 2 1 2 Nguyên tắc kinh doan.
Trang 1ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
MÔN HỌC: LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂM
ĐỀ TÀI: PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH BẢO HIỂM TẠI VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
Mã sinh viên:
Lớp:
Hà Nội, Tháng 4/2022
Trang 2MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM VÀ KINH DOANH BẢO HIỂM 6
1.1 Bảo hiểm 6
1.1.1 Định nghĩa bảo hiểm 6
1.1.2 Phân loại bảo hiểm 7
1.2 Kinh doanh bảo hiểm 8
CHƯƠNG II PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH BẢO HIỂM 10
2.1 Khái quát pháp luật về kinh doanh bảo hiểm 10
2.1.1 Khái niệm 10
2.1.2 Nguyên tắc kinh doanh bảo hiểm 10
2.1.3 Nguồn điều chỉnh pháp luật kinh doanh bảo hiểm 11
2.2 Hợp đồng bảo hiểm 12
2.2.1 Khái niệm 12
2.2.2 Nội dung hợp đồng bảo hiểm 13
2.2.3 Hiệu lực hợp đồng bảo hiểm 14
2.2.4 Chuyển nhượng hợp đồng 15
2.3 Chủ thể trong quan hệ pháp luật kinh doanh bảo hiểm 15
2.3.1 Doanh nghiệp bảo hiểm 16
2.3.2 Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm 17
2.3.3 Tổ chức, cá nhân đại lý bảo hiểm 18
2.3.4 Doanh nghiệp kinh doanh tái bảo hiểm 19
2.3.5 Bên tham gia bảo hiểm và bên liên quan trong hợp đồng bảo hiểm 20
Trang 3MỞ ĐẦU
Từ xa xưa, nhu cầu được bảo đảm về sức khỏe, tính mạng và tài sản đã xuất hiện và đặt cơ
sở cho những biện pháp hạn chế rủi ro, thiệt hại Bảo hiểm là một trong những cách thức hiệu quả Tốc độ phát triển chóng mặt của sản xuất, kinh tế kỹ thuật, thương mại… và nhu cầu ổn định cuộc sống đã đòi hỏi và thúc đẩy những tổ chức chuyên nghiệp thực hiện bảo hiểm ra đời Bảo hiểm nhằm mục đích thương mại đầu tiên xuất hiện ở Babylon vào khoảng 1.700 năm trước Công nguyên Khác với phương thức tổ chức và hoạt động của các quỹ tương trợ, bảo hiểm nhằm mục đích thương mại, do các tổ chức chuyên nghiệp thực hiện
Cùng với sự ra đời của các tổ chức bảo hiểm chuyên nghiệp, phương thức và kĩ thuật thực hiện kinh doanh bảo hiểm cũng ngày càng phát triển Ở Italia, Tây Ban Nha đầu thế kỉ XIV các bản hợp đồng hàng hải đã được thiết lập Ở Anh, từ cuối thế kỉ XVII bảo hiểm hàng hải được thực hiện như một nghiệp vụ kinh doanh và đến đầu thế kỉ XVIII, nhiều nghiệp vụ kinh doanh bảo hiểm mới ra đời như bảo hiểm hoả hoạn (cùng với sự phát triển các đô thị ở thế kỉ XVIII), bảo hiểm thân thể Sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản đã thúc đẩy kinh doanh bảo hiểm trở thành ngành kinh doanh dịch vụ với nhiều loại hình bảo hiểm
Kinh doanh bảo hiểm ngày nay là “kinh doanh rủi ro”, chia sẻ tổn thất với khách hàng, sản phẩm bảo hiểm là những dịch vụ mang tính đặc thù cao Song, nó đóng góp một phần không nhỏ đối với phát triển kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội Bảo hiểm, mang nhiều vai trò quan trọng đối với đời sống
Về xã hội, bảo hiểm giúp phòng ngừa rủi ro, hạn chế tổn thất, bảo đảm an toàn cho xã hội; giảm áp lực cho ngân sách nhà nước trong việc trợ cấp thiên tai, tai nạn bất ngờ; và góp phần tạo nếp sống tiết kiệm và mang đến trạng thái an toàn về tinh thần
Về kinh tế, bảo hiểm giúp đảm bảo sự an toàn và ổn định về mặt tài chính; điều tiết cung cầu - cầu vốn cho nền kinh tế; gián tiếp thúc đẩy hoạt động thương mại bằng việc tạo sự an tâm cho các thương nhân và tạo thêm việc làm đối với lao động ngành bảo hiểm
Trang 4Với tầm quan trọng như vậy, pháp luật mỗi quốc gia đều cố gắng tạo ra hành lang pháp lý hiệu quả để thúc đẩy phát triển hoạt động kinh doanh bảo hiểm và đảm bảo an toàn cho mỗi giao dịch Thêm vào đó, pháp luật về kinh doanh bảo hiểm là nội dung quan trọng trong học phần luật tài chính Việc nghiên cứu, tìm hiểu về nó giúp ta có những kiến thức cơ bản về pháp luật kinh doanh bảo hiểm và cũng bổ trợ cho những nội dung khác bên ngoài học phần Do đó, nhóm 8 xin lựa chọn chủ đề: “Pháp luật về kinh doanh bảo hiểm” để làm bài tập nhóm cho học phần luật tài chính
Trang 5CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM VÀ KINH DOANH BẢO HIỂM
1.1 Bảo hiểm
1.1.1 Định nghĩa bảo hiểm
Cùng với sự phát triển của xã hội, con người dần nhận thức rõ hơn về những rủi ro trong đời sống hàng ngày và tìm ra cách thức để phòng ngừa chúng Bảo hiểm ngày nay dần được coi như một phần không thể thiếu đối với các hoạt động của con người Song, cách hiểu về nó vẫn chưa được thống nhất Nhiều học giả đã đưa ra các khái niệm, mô tả về tính chất đặc điểm về bảo hiểm Ví dụ, Dennis Kessler đã tiếp cận khái niệm bảo hiểm dưới khía cạnh triết lý vận hành của
nó để khẳng định bảo hiểm là sự đóng góp của số đông vào sự bất hạnh của số ít Trong cách tiếp cận về hoạt động giữa người mua và người bán, Monique Gaullier cho rằng bảo hiểm là một
nghiệp vụ qua đó, một bên là người được bảo hiểm cam đoan trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm thực hiện mong muốn để cho mình hoặc để cho người thứ ba trong trường hợp xảy ra rủi ro
sẽ nhận được một khoản đền bù các tổn thất được trả bởi một bên khác: đó là người bảo hiểm Và
dưới góc độ nghiệp vụ kinh doanh, Tập đoàn bảo hiểm AIG của Mỹ định nghĩa: Bảo hiểm là một
cơ chế, theo cơ chế này, một người, một doanh nghiệp hay một tổ chức chuyển nhượng rủi ro cho công ty bảo hiểm, công ty đó sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm các tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm và phân chia giá trị thiệt hại giữa tất cả những người được bảo hiểm
Dù những cách tiếp cận và mô tả nêu trên có phần khác nhau về câu từ sóng các tác giả đều cho thấy sự thống nhất với nhau về bản chất của bảo hiểm Bản chất của bảo hiểm là việc phân chia tổn thất của một hoặc một số người cho tất cả những người tham gia bảo hiểm cùng chịu Bảo
hiểm hoạt động dựa trên Quy luật số đông (the law of large numbers)
Bảo hiểm là một hoạt động qua đó một cá nhân có quyền được hưởng trợ cấp bảo hiểm nhờ vào một khoản đóng góp cho mình hoặc cho người thứ 3 trong trường hợp xảy ra rủi ro Khoản trợ cấp này do một tổ chức trả, tổ chức này có trách nhiệm đối với toàn bộ các rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của thống kê
Pháp luật Việt Nam không đưa ra định nghĩa chung về bảo hiểm song nhà làm luật đã cho thấy hai cách tiếp cận khác nhau đối với các loại bảo hiểm khác nhau Cụ thể, đối với những bảo
Trang 6hiểm bắt buộc do nhà nước thực hiện không mang tính chất kinh doanh, bảo hiểm được hiểu đơn giản là sự “bảo đảm, bù đắp”1 cho chủ thể được bảo hiểm khi xảy ra các sự kiện bảo hiểm do luật quy định Đối với những loại bảo với mục đích thương mại, nhà làm luật tiếp cận dưới góc độ là một “nghiệp vụ”2 được cung cấp bởi thương nhân trong thị trường và được thực hiện thông qua các hợp đồng (được gọi là hợp đồng bảo hiểm)
1.1.2 Phân loại bảo hiểm
Có nhiều cách phân loại bảo hiểm khác nhau dựa trên tiêu chí đối tượng được bảo hiểm, tính chất hoạt động hoặc phương thức tham gia bảo hiểm Nhà làm luật Việt Nam đã thực hiện phân loại bảo hiểm dựa trên 2 tiêu chí tính chất tự nguyện (bảo hiểm tự nguyện, bảo hiểm bắt buộc) và tính chất thương mại (bảo hiểm thương mại, bảo hiểm phi thương mại) Với hai tiêu chí phân loại này, bảo hiểm được chia thành 2 nhóm bảo hiểm bắt buộc (bảo hiểm phi thương mại do nhà nước thực hiện) và bảo hiểm không bắt buộc (bảo hiểm thương mại do các doanh nghiệp kinh doanh cung cấp)
Bảo hiểm bắt buộc (bảo hiểm phi thương mại) được đảm bảo thực hiện bởi quyền lực nhà
nước, áp dụng cho một số loại bảo hiểm nhất định nhằm bảo vệ lợi ích công cộng và an toàn xã hội Những loại bảo hiểm đó bảo gồm: bảo hiểm tiền gửi3, bảo hiểm y tế3, bảo hiểm xã hội4 và một
số loại bảo hiểm khác như (bảo hiểm trách nhiệm dân sự xe cơ giới, bảo hiểm cháy nổ, bảo hiểm nghề nghiệp tư vấn pháp luật …)
1 Xem Điều 4 Luật Bảo hiểm tiền gửi 2012 (xem tại Văn bản hợp nhất 31/VBHN - VPQH năm 2019 hợp nhất Luật Bảo hiểm tiền gửi do Văn phòng Quốc hội ban hành) ; Điều 2 Luật Bảo hiểm y tế 2008 sửa đổi, bổ sung 2014 (xem tại Văn bản hợp nhất 28/VBHN - VPQH năm 2020 hợp nhất Luật Bảo hiểm y tế do Văn phòng Quốc hội ban hành ) ; Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội
2014 (xem tại Văn bản hợp nhất 19/VBHN - VPQH năm 2019 hợp nhất Luật Bảo hiểm xã hội do Văn phòng Quốc hội ban hành )
2 Xem Điều 3 Luật Kinh doanh bảo hiểm sửa đổi, bổ sung 2010 (được sửa đổi, bổ sung cùng luật sở hữu trí tuệ 2019) 3 Bảo hiểm tiền gửi là sự bảo đảm hoàn trả tiền gửi cho người được bảo hiểm tiền gửi trong hạn mức trả tiền bảo hiểm khi tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền hoặc phá sản
3 Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm bắt buộc được áp dụng đối với các đối tượng theo quy định của Luật bảo hiểm y tế để chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nước tổ chức thực hiện
4 Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập
do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội
Trang 7Bảo hiểm không bắt buộc (bảo hiểm thương mại) được thực hiện bởi các chủ thể tư thông
qua các hợp đồng Các loại bảo hiểm này bảo gồm 3 nhóm: bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm phi nhân thọ và bảo hiểm sức khỏe Ở mỗi nhóm, nhà làm luật đã liệt kê những nghiệp vụ bảo hiểm tương ứng
- Bảo hiểm nhân thọ gồm các nghiệp vụ: bảo hiểm sinh kỳ, bảo hiểm tử kỳ, bảo hiểm
hỗn hợp (kết hợp sinh kỳ và tử kỳ), bảo hiểm trọn đời, bảo hiểm trả tiền định kỳ, bảo hiểm liên kết đầu tư (vừa bảo vệ rủi ro vừa đầu tư sinh lời)
- Bảo hiểm phi nhân thọ, loại nghiệp vụ bảo hiểm tài sản, trách nhiệm dân sự và các
nghiệp vụ bảo hiểm khác không thuộc bảo hiểm nhân thọ, bao gồm: bảo hiểm tài sản, bảo hiểm thiệt hại, bảo hiểm hàng hóa vận chuyển, bảo hiểm hàng không, bảo hiểm xe cơ giới, bảo hiểm cháy nổ, bảo hiểm trách nhiệm, bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính, bảo hiểm thiệt hại kinh doanh, bảo hiểm nông nghiệp
- Bảo hiểm sức khỏe, hình bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm bị thương
tật, tai nạn, ốm đau, bệnh tật hoặc chăm sóc sức khỏe được doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm, gồm: bảo hiểm tai nạn con người, bảo hiểm y tế (thương mại), bảo hiểm chăm sóc sức khỏe
1.2 Kinh doanh bảo hiểm
Các hợp đồng hàng hải xuyên quốc gia vào thế kỷ XIV đã đặt nền móng cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm bằng cách xác nhu cầu về bảo hiểm hàng hóa, tàu biển và thân thể Chủ nghĩa tư bản sau này lại càng thúc đẩy hoạt động kinh doanh bảo hiểm và biến nó trở thành một ngành kinh doanh dịch vụ
Dưới góc độ khoa học pháp lý, kinh doanh bảo hiểm là một hành vi thương mại (thông thường là hành vi thương mại hỗn hợp) được thực hiện bởi các thương nhân nhằm mục đích kiếm lời Do đó, kinh doanh bảo hiểm có tính chất chuyên nghiệp và mang tính đặc thù của ngành bảo hiểm – tính rủi ro, chia sẻ tổn thất với khách hàng Tại Việt Nam, Kinh doanh bảo hiểm được quy định tại điều 3 Luật kinh doanh bảo hiểm - là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục
Trang 8đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ
sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm
Để tham gia vào hoạt động bảo hiểm, một doanh nghiệp cần có cho mình số vốn ban đầu tương đối lớn để bắt đầu ký kết hợp đồng bảo hiểm với người đăng ký Sau đó, doanh nghiệp sẽ lập nên một quỹ bảo hiểm để có thể sẵn sàng sử dụng trong quá trình kinh doanh Trường hợp sự kiện bảo hiểm xảy ra, tiền trong quỹ sẽ được huy động để chi trả chi phí bồi thường Trong quá trình kinh doanh, doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm tranh thủ sử dụng các biện pháp kinh doanh hợp lý để sử dụng hiệu quả nguồn tiền bảo hiểm nhàn rỗi để tạo thêm nguồn thu nhập Sau khi nhận một hợp đồng bảo hiểm, công ty bảo hiểm sẽ lưu ý, tính toán những tình huống rủi ro xảy ra
ở những hợp đồng có giá trị bồi thường cao, để đưa ra những biện pháp phòng ngừa rủi ro như tái bảo hiểm, thêm điều khoản trong hợp đồng
CHƯƠNG II PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH BẢO HIỂM 2.1 Khái quát pháp luật về kinh doanh bảo hiểm
2.1.1 Khái niệm
Pháp luật về hoạt động kinh doanh bảo hiểm có vai trò chỉnh các quan hệ pháp luật trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm Nó có ý nghĩa tạo ra một hành lang an toàn để các chủ thể trong quan hệ yên tâm thực hiện các giao dịch để từ đó thúc đẩy phát triển hoạt động kinh doanh bảo hiểm
Pháp luật kinh doanh bảo hiểm là tập hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh tổ chức và hoạt động kinh doanh bảo hiểm, quy định quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm, quy định quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm
2.1.2 Nguyên tắc kinh doanh bảo hiểm
Nguyên tắc cơ bản trong hoạt động bảo hiểm là tư tưởng chủ đạo trong việc kinh doanh bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm và tham gia bảo hiểm của tổ chức, cá nhân có nhu cầu bảo hiểm
Là tư tưởng chủ đạo trong kinh doanh bảo hiểm nên tổ chức cá nhân người vi phạm nguyên tắc
Trang 9phải gánh chịu các biện pháp cưỡng chế do pháp luật quy định Với ý nghĩa như vậy, các nguyên tắc do pháp luật quy định hoàn toàn khác biệt về bản chất so với các nguyên tắc của nghiệp vụ kinh doanh bảo hiểm Đối với các nguyên tắc nghiệp vụ kinh doanh bảo hiểm, doanh nghiệp bảo đảm thực hiện theo nguyên tắc tự chủ và tự chịu trách nhiệm Còn đối với các nguyên tắc do pháp luật quy định, việc tuân thủ là nghĩa vụ pháp lý mà doanh nghiệp phải đảm bảo thực hiện Theo Điều 6, Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2019 có hai nguyên tắc cơ bản trong hoạt động bảo hiểm:
Thứ nhất, “tổ chức, cá nhân có nhu cầu bảo hiểm chỉ được tham gia bảo hiểm tại doanh
nghiệp bảo hiểm hoạt động tại Việt Nam; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, người nước ngoài làm việc tại Việt Nam có nhu cầu bảo hiểm được lựa chọn tham gia bảo hiểm tại doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động tại Việt Nam hoặc sử dụng dịch vụ bảo hiểm qua biên giới.”Việc đặt ra nguyên tắc này nhằm mục đích tránh tình trạng các doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động ở nước ngoài nhưng vẫn tìm cách khai thác thị trường bảo hiểm ở Việt Nam và chuyển phí bảo hiểm ở Việt Nam ra nước ngoài, ảnh hưởng tới việc khai thác nguồn vốn đầu tư phát triển
Thứ hai, là một loại hình chủ thể kinh doanh, doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ tuân thủ
các quy định của pháp luật kinh doanh Tuy vậy, hoạt động kinh doanh bảo hiểm có rủi ro cao nên Luật kinh doanh bảo hiểm quy định nguyên tắc: “doanh nghiệp bảo hiểm phải đảm bảo các yêu cầu về tài chính để thực hiện các cam kết của mình đối với bên mua bảo hiểm.” Vì với tính chất là hoạt động kinh doanh mang tính rủi ro cao, với vai trò quan trọng của kinh doanh bảo hiểm đối với nền kinh tế và sự ổn định của đời sống xã hội việc đảm bảo khả năng tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm để đảm bảo quyền lợi cho các tổ chức cá nhân tham gia bảo hiểm là rất quan trọng, bởi nó không chỉ tạo uy tín tạo ra khả năng kinh doanh có hiệu quả cho doanh nghiệp mà nó còn có ý nghĩa cho nền kinh tế xã hội Việc đặt ra nguyên tắc này nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia, tạo điều kiện phát triển lâu dài và lành mạnh cho thi trường bảo hiểm Việt Nam Đồng thời bảo đảm sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước và phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành và pháp luật quốc tế
Trang 102.1.3 Nguồn điều chỉnh pháp luật kinh doanh bảo hiểm
Hiện nay, hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở nước ta đang chịu sự điều chỉnh của nhiều nguồn luật khác nhau Bao gồm
- Hiến pháp: cơ sở của hoạt động kinh doanh bảo hiểm là quyền tự do kinh doanh được quy định tại điều 33 Hiến pháp 2013
- Luật chuyên ngành: Luật kinh doanh bảo hiểm; Luật sửa đổi, bổ sung qua các năm
- Các nghị định, thông tư, quyết định liên quan đến hoạt động kinh doanh bảo hiểm: Nghị định số 18/2005/NĐ-CP Về quy định việc thành lập, tổ chức và hoạt động của tổ chức bảo hiểm tương hỗ ngày 24/02/2005 của Chính phủ; Nghị định số 130/2006/NĐ-CP Quy định chế độ bảo hiểm cháy,
nổ bắt buộc ngày 08/11/2006 của Chính phủ; Nghị định số 103/2008/NĐ-CP Về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới ngày 16/09/2008 của Chính phủ; Nghị định số 102/2011/NĐ-CP Về bảo hiểm trách nhiệm trong khám bệnh, chữa bệnh ngày 14/11/2011 của Chính phủ; Nghị định số 119/2015/NĐ-CP Quy định bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động đầu tư xây dựng ngày 13/11/2015 của Chính phủ; Nghị định số 73/2016/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành Luật kinh doanh bảo hiểm và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm ngày 01/07/2016 của Chính phủ;
- Các luật chung bao gồm: Bộ luật dân sự, Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư Đây là những luật được
áp dụng chung cho mọi lĩnh vực của nền kinh tế trong đó có hoạt động kinh doanh bảo hiểm
2.2 Hợp đồng bảo hiểm
2.2.1 Khái niệm
Hai chế định cơ bản, trung tâm của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm gồm chế định về hợp đồng bảo hiểm và chế định về các chủ thể kinh doanh bảo hiểm Hợp đồng bảo hiểm là hình thức thể hiện chính của quan hệ pháp luật về kinh doanh bảo hiểm mà thông qua đó các chủ thể ràng buộc lẫn nhau trong mối quan hệ này Tại Điều 12 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, sửa đổi
bổ sung 2010, hợp đồng bảo hiểm được định nghĩa: “là sự thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm và
doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo