ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT TIỂU LUẬN CUỐI KỲ MÔN LUẬT THƯƠNG MẠI 2 Đề tài Pháp luật về phá sản doanh nghiệp Họ và tên Lưu Thị Huyên Mã sinh viên 19061136 Khoá QH 2019 L Mã lớp học phần BSL2002 3 Giảng viên giảng dạy TS Hồ Ngọc Hiển ThS Nguyễn Đăng Duy HÀ NỘI – 2022 MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 1 I Những lý luận về phá sản 1 II Pháp luật về phá sản 3 1 Khái niệm, bản chất pháp luật về phá sản 3 2 Bản chất và quy trình của tố tụng phá sản 4 2 1 Nộp và thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
- -
TIỂU LUẬN CUỐI KỲ MÔN: LUẬT THƯƠNG MẠI 2
Đề tài: Pháp luật về phá sản doanh nghiệp
Họ và tên: Lưu Thị Huyên
Mã sinh viên: 19061136 Khoá: QH-2019-L
Mã lớp học phần: BSL2002 3
Giảng viên giảng dạy: TS Hồ Ngọc Hiển
ThS Nguyễn Đăng Duy
HÀ NỘI – 2022
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
I Những lý luận về phá sản 1
II Pháp luật về phá sản 3
1 Khái niệm, bản chất pháp luật về phá sản 3
2 Bản chất và quy trình của tố tụng phá sản 4
2.1 Nộp và thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản 4
2.2 Mở thục tục phá sản 5
2.3 Hội nghị chủ nợ 5
2.4 Thủ tục phục hồi hoạt động của doanh nghiệp và hợp tác xã mất khả năng thanh toán nợ đến hạn 7
2.5 Tuyên bố phá sản doanh nghiệp và hợp tác xã 7
2.6 Thi hành quyết định tuyên bố phá sản 7
3 Thẩm quyền, vai trò của Toà án 8
4 Quản tài viên trong tố tụng phá sản 9
III Các vấn đề bất cập trong quy định pháp luật hiện hành về phá sản doanh nghiệp và các giải pháp 9
1 Những vấn đề bất cập 9
2 Giải pháp 10
KẾT LUẬN 11
TÀI LIỆU THAM KHẢO 12
Trang 31
MỞ ĐẦU
Từ nền kinh tế tự cung tự cấp đã dần dần hình thành nền kinh tế thị trường trong tiến trình phát triển của loài người Trước đây trong nền kinh tế tự cung tự cấp việc sản xuất chỉ nhằm đáp ứng những nhu cầu trong cuộc sống chính vì vậy không xảy ra hiện tượng phá sản nhưng cho đến hiện nay với mức sản xuất cao, hàng hoá dư thừa, nhu cầu phát triển tăng năng suất cũng như với mục đích lâu dài tìm kiếm lợi nhuận bên cạnh đó với sức cạnh tranh của nền kinh tế thị trường khiến cho hoạt động thương mại phát triển mạnh mẽ và lợi nhuận là một trong những mục đích quan trọng nhất mà các doanh nghiệp hướng tới và nó là động lực thúc đẩy doanh nghiệp phát triển và dưới tác động
đó cho nên phá sản đã trở thành một hiện tượng khá phổ biến Mặt khác như các thực thể khác các chủ thể kinh doanh cũng có quá trình sinh ra phát triển và tiêu vong theo quy luật phát triển sinh tồn Chính vì vậy với sự cạnh tranh như vậy phá sản đã trở thành một hiện tượng tất yếu trong nền kinh tế thị trường nó là sản phẩm của sự chọn lọc, đào thải của quá trình cạnh tranh nếu các chủ thể làm ăn kém hiệu quả thua lỗ sẽ chấm dứt sự tồn tại của mình Việc đặt ra những quy định của pháp luật về phá sản đã đáp ứng phần nào yêu cầu của nền kinh tế thị trường khi các doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản bên cạnh đó nhằm hạn chế việc phá sản một cách tự do tuy nhiên việc áp dụng những quy định trong luật phá sản còn gặp nhiều khó khăn và trong những phần tiếp theo của bài tiểu luận em xin trình bày khái quát hơn về những quy định của pháp luật về phá sản doanh nghiệp
NỘI DUNG
I Những lý luận về phá sản
Hiện tượng phá sản phát sinh từ khá sớm và những đạo luật về phá sản đầu tiên là từ thời kỳ La Mã Ở Việt Nam phá sản được hiểu là tình trạng lâm vào tình trạng tài sản không còn gì, bị vỡ nợ và thua lỗ và “vỡ nợ” là lâm vào tình trạng bị thua lỗ, thất bại liên tiếp trong kinh doanh, phải bán hết tài sản mà vẫn không đủ để trả nợ1 Trước đây khi đề cập đến vấn đề phá sản doanh nghiệp thì cả Luật phá sản 1993 và Luật phá sản
1 Hoàng Phê (2010), Từ điển Tiếng Việt, Trung tâm từ điển học, (in lần thứ 3), Nxb Đà Nẵng, tr.1437
Trang 42
2004 đều chưa có định nghĩa cụ thể về khái niệm phá sản chỉ mới đề cập tới vấn đề doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Đến Luật phá sản 2014 đã đưa ra định nghĩa như sau: “Phá sản là tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán
và bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản”1 Như vậy theo định nghĩa này doanh nghiệp chỉ bị coi là phá sản khi Toà án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản trên tình trạng bị mất khả năng thanh toán các khoản nợ và điều này sẽ dẫn tới doanh nghiệp sẽ chấm dứt hoạt động Doanh nghiệp rơi vào tình trạng này thì thủ tục phá sản
có thể sẽ được tiến hành Và phá sản có một số đặc điểm sau:
Thứ nhất: Đó là doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ đó là điều kiện tiền
đề để Toà án tuyên bố phá sản và “mất khả năng thanh toán” là chỉ một tình trạng xảy
ra đối với doanh nghiệp Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán2
Thứ hai: Việc đòi nợ và thanh toán nợ mang tính tập thể đó là việc tất cả các chủ
nợ đều có cơ hội tham gia vào quá trình đòi nợ và thanh toán nợ và việc phân chia các khoản nợ được tiến hành theo thứ tự ưu tiên
Thứ ba: Việc đòi nợ và thanh toán các khoản nợ được tiến hành thông qua một
cơ quan đại diện có thẩm quyền và thủ tục phá sản là một thủ tục pháp lý có tính chất tổng hợp và khá phức tạp, bên cạnh đó việc thanh toán các khoản nợ được tiến hành sau khi có quyết định của Toà án và kết thúc thủ tục phá sản thường là chấm dứt sự tồn tại của một chủ thể kinh doanh
Cuối cùng việc phá sản không chỉ với mục đích duy nhất là đòi được nợ mà còn chú trọng đến việc giúp đỡ để con nợ có thể phục hồi hoạt động kinh doanh tạo điều kiện để doanh nghiệp thoát khỏi tình trạng khó khăn
1 Khoản 2 Điều 4 Luật Phá sản năm 2014
2 Khoản 1 Điều 4 Luật Phá sản năm 2014
Trang 53
II Pháp luật về phá sản
1 Khái niệm, bản chất pháp luật về phá sản
Với xu hướng toàn cầu hoá và hội nhập với nền kinh tế quốc tế đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự hình thành và phát triển pháp luật của mỗi quốc gia Và pháp luật về phá sản cũng vậy với sự cạnh tranh khốc liệt dưới tác động của nền kinh tế thị trường và trong hoạt động thương mại pháp luật phá sản là một chế định đặc thù Và “Pháp luật phá sản có thể hiểu là tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành điều chỉnh các quan hệ xã hội trong quá trình giải quyết yêu cầu phá sản của doanh nghiệp hợp tác xã”1 Hiện nay luật phá sản Việt Nam chỉ áp dụng đối với vấn đề phá sản của doanh nghiệp và hợp tác xã và pháp luật về phá sản không quy định với mọi pháp nhân
và không cho phép cá nhân phá sản Pháp luật về phá sản điều chỉnh hai mối quan hệ
đó là quan hệ phát sinh giữa chủ nợ và doanh nghiệp, hợp tác xã; quan hệ tố tụng giữa các đương sự với cơ quan nhà nước có thẩm quyền Khi đề cập tới vấn đề phá sản thì pháp luật các quốc gia trên thế giới cho phép phá sản cá nhân nhưng Luật phá sản Việt Nam không quy định vấn đề này bởi lẽ ở nhiều nước trên thế giới việc kiểm soát tài sản của cá nhân rất dễ dàng trong khi đó ở Việt Nam các cơ chế kiểm soát để các cá nhân chứng minh mức tài chính của mình còn thiếu minh bạch bên cạnh đó vấn đề hàng lậu ở Việt Nam vẫn còn tồn tại khá phổ biến Mặc dù không cho phép phá sản cá nhân nhưng trong Luật Phá sản lại cho phép phá sản doanh nghiệp tư nhân điều này có thể thấy phần nào đồng nghĩa với việc cho phép cá nhân phá sản – đây là một vấn đề
mà pháp luật nên có quy định rõ ràng và cụ thể hơn Luật phá sản ra đời không chỉ với mục đích duy nhất là tuyên bố phá sản của một doanh nghiệp đó là con nợ mà còn có mục đích nhân văn khác đó là tạo điều kiện tối đa cho con nợ doanh nghiệp có thể được hoạt động kinh doanh một cách bình thường và khi không còn các khả năng thanh toán rơi vào tình trạng không thể phục hồi lại được thì sẽ tuyên bố phá sản Chính vì vậy luật phá sản ra đời nhằm bảo vệ quyền lợi ích chính đáng của các chủ nợ là cơ sở để các chủ nợ đòi nợ một cách hợp lý, hợp pháp, bảo vệ quyền lợi và lợi ích cho doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ thông qua việc đặt ra những quy định cụ thể giúp các bên
1 Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật thương mại I, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội, tr 445
Trang 64
thương lượng cũng như đặt ra các khoảng thời gian trả nợ Bên cạnh đó đặt ra những quy định cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền lợi của người lao động khi doanh nghiệp bị lâm vào tình trạng phá sản, ngoài ra đó còn là phương tiện để giải quyết tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán bảo vệ lợi ích công cộng
2 Bản chất và quy trình của tố tụng phá sản
Thủ tục phá sản là trình tự giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán của doanh nghiệp hợp tác xã theo yêu cầu của các tổ chức cá nhân theo quy định của pháp luật Không phải mọi trường hợp sẽ tuyên bố hợp tác xã doanh nghiệp hợp tác xã bị phá sản
mà sẽ có nhiều trường hợp mở thủ tục phá sản doanh nghiệp hợp tác xã có nhưng thương lượng đàm phán và tìm được một hướng đi cách giải quyết mới giúp cho doanh nghiệp hoạt động bình thường và phục hồi hoạt động kinh doanh Và thủ tục phá sản
có thể được thự hiện theo thủ theo thủ tục thông thường hoặc cũng có thể được thực hiện theo thủ tục rút gọn Có thể thấy thủ tục phá sản không phải là vụ án, không phải
là tố tụng hình sự cũng như tố tụng hành chính mà thường khi đề cập tới thủ tục phá sản đó là tố tụng phá sản và thủ tục tiến hành phá sản nó mang tính tư pháp đặc biệt Thông thường việc giải quyết qua Toà án thường được giải quyết theo các cấp xét xử nhưng trong tố tụng phá sản thì không và mặc dù được tiến hành bằng Toà án nhưng lại đưa ra một quyết định tuyên bố phá sản không phải là bản án và việc xem xét thủ tục giải quyết Toà án giống như thủ tục hành chính nhiều hơn là một thủ tục tư pháp
và việc thanh toán các khoản nợ sẽ được tiến hành khi có quyết định của Toà án.Và quy trình tố tụng phá sản được thực hiện thông qua các bước chủ yếu như sau:
2.1 Nộp và thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
Đầu tiên chủ thể có quyền và nghĩa vụ sẽ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Phá sản
có thể hiểu là một tranh chấp và sự tranh chấp xảy ra khi có xung đột về lợi ích giữa chủ nợ và con nợ và Toà án mở thủ tục phá sản nhằm mục đích giải quyết các tranh chấp phát sinh đó Theo đó chủ thể có quyền và nghĩa vụ nộp đơn đến Toà án yêu cầu
mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán bao gồm: Chủ nợ (chủ nợ có bảo đảm một phần hoặc chủ nợ không có bảo đảm, người lao động,
Trang 75
Cổ đông của công ty cổ phần, chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp tác xã…1 Việc nộp đơn phải chứng minh được các khoản nợ đến hạn của doanh nghiệp, hợp tác
xã và việc nộp đơn có thể được thực hiện bằng hình thức nộp trực tiếp tại Toà án nhân dân hoặc cũng có thể được gửi bằng hình thức bưu điện và sau khi nhận được biên lai nộp lệ phí phá sản, biên lai nộp tạm ứng chi phí phá sản Trường hợp không phải nộp
lệ phí phá sản, tạm ứng chi phí phá sản thì thời điểm thụ lý được tính từ ngày Tòa án nhân dân nhận đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản hợp lệ thì Toà án sẽ thụ lý đơn yêu cầu
mở thủ tục phá sản Tuy nhiên không phải trường hợp nào Toà án cũng thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
2.2 Mở thục tục phá sản
Sau khi chủ thể có quyền và nghĩa vụ nộp đơn đến Toà án thì trong thời hạn 3 ngày kể từ ngày làm việc Chánh án Toà án sẽ phân công một Thẩm phán hoặc Tổ thẩm phán giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản và Toà án sẽ ra quyết định mở hoặc không
mở thủ tục phá sản Việc Thẩm phán ra quyết định mở thủ tục phá sản hay không mở thủ tục phá sản cần dựa trên những căn cứ khi doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán2 Có thể thấy rằng việc mở thủ tục phá sản có vai trò quan trọng trong tiến hành vụ việc phá sản và đó là một trong những cơ sở để tiến hành phá sản một doanh nghiệp Sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản, doanh nghiệp, hợp tác xã phải báo cáo Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản trước khi thực hiện các hoạt động theo quy định tại Khoản 1 Điều 49 về các vấn đề liên quan đến việc vay, cầm cố, thế chấp… Khi có quyết định mở thủ tục phá sản thì có thể thấy các doanh nghiệp, hợp tác xã chịu sự giám sát, kiểm tra và bị hạn chế các giao dịch và đây là một trong những mục đích nhằm bảo toàn tài sản của doanh nghiệp hợp tác xã và tránh những trường hợp tài sản của doanh nghiệp hợp tác xã bị sụt giảm
2.3 Hội nghị chủ nợ
Mục đích của pháp luật phá sản đó là giải quyết vấn đề chủ nợ và con nợ vì vậy việc tổ chức hội nghị chủ nợ đó là tạo ra một diễn đàn giữa chủ nợ và con nợ để giải
1 Điều 5 Luật Phá sản năm 2014
2 Điều 2 Luật phá sản năm 2014
Trang 86
quyết mâu thuẫn và thông qua hội nghị chủ nợ sẽ giải quyết được các vấn đề liên quan đến việc đi tới quyết định phá sản doanh nghiệp Tuy nhiên hội nghị chủ nợ không phải
là bắt buộc trong mọi trường hợp Hội nghị chủ nợ có thể được tiến hành nhiều lần nhưng lần đầu tiên là quan trọng nhất đó là cơ sở để xem xét áp dụng thủ tục phục hồi kinh doanh đối với doanh nghiệp, hợp tác xã Thời hạn Thẩm phán triệu tập Hội nghị chủ nợ là 20 ngày kể từ ngày kết thúc việc kiểm kê tài sản trong trường hợp việc kiểm
kê tài sản kết thúc sau việc lập danh sách chủ nợ hoặc kể từ ngày kết thúc việc lập danh sách chủ nợ trong trường hợp việc kiểm kê tài sản kết thúc trước việc lập danh sách chủ nợ và thành phần tham gia hội nghị chủ nợ gồm những chủ thể tham gia và những chủ thể có nghĩa vụ tham gia đó là những chủ nợ có tên trong danh sách chủ nợ… 1
Theo quy định tại điều 79 Luật Phá sản 2014 thì điều kiện của hội nghị chủ nợ khi có số chủ nợ tham gia đại diện cho ít nhất 51% tổng số nợ không có bảo đảm, Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản được phân công giải quyết đơn yêu cầu
mở thủ tục phá sản phải tham gia hội nghị chủ nợ Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ được thông qua khi có quá nửa tổng số chủ nợ không có bảo đảm có mặt và đại diện cho từ 65% tổng số nợ không có bảo đảm trở lên biểu quyết tán thành Nghị quyết của hội nghị chủ nợ có hiệu lực ràng buộc đối với tất cả các chủ nợ Nghị quyết hội nghị chủ nợ là kết quả đầu ra của quá trình họp hội nghị chủ nợ nhằm xem xét các vấn đề của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán Nghị quyết hội nghị chủ nợ thể hiện ý chí của tất cả các chủ nợ về việc giải quyết vấn đề phá sản của các doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán Hội nghị chủ nợ có thể đưa ra kết luận đề nghị tòa
án đình chỉ giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản nếu kể từ ngày Toà án nhân dân ra quyết định mở thủ tục phá hoặc cũng có quyền đưa ra nghị quyết đề nghị áp dụng biện pháp phục hồi hoạt động kinh doanh đối với doanh nghiệp, hợp tác xã Đặc biệt hội nghị chủ nợ có thể ra nghị quyết đề nghị tòa án tuyên bố doanh nghiệp phá sản nếu thấy không còn khả năng cứu vãn kể cả nếu có áp dụng các biện pháp phục hồi hoạt động kinh doanh
1 Điều 77, Điều 78 Luật Phá sản năm 2014
Trang 97
2.4 Thủ tục phục hồi hoạt động của doanh nghiệp và hợp tác xã mất khả năng thanh toán nợ đến hạn
Sau hội nghị chủ nợ thông qua nghị quyết áp dụng biện pháp thủ tục phục hồi kinh doanh và doanh nghiệp, hợp tác xã cần xây dựng các phương án phục hồi hoạt động kinh doanh và hội nghị chủ nợ sẽ cho thời gian để doanh nghiệp thực hiện các thủ tục phục hồi kinh doanh và việc áp dụng khoảng thời gian phục hồi kinh doanh là không quá 3 năm1 và doanh nghiệp cần áp dụng các biện pháp cần thiết để phục hồi hoạt động kinh doanh của mình theo quy định tại điều 88 Luật Phá sản 2014 như đổi mới bộ máy, huy động vốn… Thủ tục phục hồi có thể đem lại cho con nợ đang gặp những khó khăn
về tài chính có thể thoát khỏi khả năng bị thanh lý về tài sản để đảm bảo lợi ích của những cá nhân liên quan tuy nhiên quá trình phục hồi cần được sự giúp đỡ của chủ nợ
2.5 Tuyên bố phá sản doanh nghiệp và hợp tác xã
Toà án nhân dân tuyên bố doanh nghiệp và hợp tác xã phá sản khi doanh nghiệp không còn tiền, tài sản khác để nộp phí phá sản và tạm ứng chi phí phá sản bên cạnh đó trường hợp tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản khi Hội nghị chủ nợ không thành
và trường hợp tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản sau khi có nghị quyết Hội nghị chủ nợ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được nghị quyết của Hội nghị chủ
nợ đề nghị tuyên bố phá sản thì Toà án nhân dân xem xét quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản Quyết định tuyên bố doanh nghiệp hợp tác xã có hiệu lực thi hành kể từ ngày ra quyết định và có thể xem xét lại hoặc kháng nghị, khiếu nại Việc tuyên bố phá sản sẽ chấm dứt tư cách pháp lý của doanh nghiệp và hợp tác xã và
là cơ sở để tổ chức việc thanh lý phân chia tài sản bên cạnh đó giải thoát cho con nợ khỏi các khoản nợ còn thiếu
2.6 Thi hành quyết định tuyên bố phá sản
Thông qua việc tuyên bố phá sản thì quá trình tiến hành bán, thanh lý tài sản của doanh nghiệp qua việc bán đấu giá và bằng các hình thức khác và việc phân chia tài sản cần được thực hiện theo thứ tự Thẩm phán ra quyết định tuyên bố phá sản thì tài sản của
1 Khoản 2 Điều 89 Luật Phá sản năm 2014
Trang 108
doanh nghiệp, hợp tác xã được phân chia theo thứ tự sau: Thứ nhất là chi phí phá sản; thứ hai là khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với người lao động, quyền lợi khác theo hợp đồng lao động và thỏa ước lao động tập thể
đã ký kết; thứ ba đó là khoản nợ phát sinh sau khi mở thủ tục phá sản nhằm mục đích phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã; và cuối cùng là nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước; khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho chủ nợ trong danh sách chủ nợ; khoản nợ có bảo đảm chưa được thanh toán do giá trị tài sản bảo đảm không đủ thanh toán nợ Nếu giá trị tài sản không đủ để thanh toán theo quy định tại khoản 1 Điều này thì từng đối tượng cùng một thứ tự ưu tiên được thanh toán theo tỷ
lệ phần trăm tương ứng với số nợ1
3 Thẩm quyền, vai trò của Toà án
Trong thủ tục phá sản, thẩm phán có vai trò là người quyết định áp dụng một trong hai thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh hoặc thanh lý tài sản, các khoản nợ hoặc quyết định chuyển từ áp dụng thủ tục phục hồi hoạt định kinh doanh sang áp dụng thủ tục thanh lý tài sản, các khoản nợ hoặc tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản Sự quyết định này ảnh hưởng tới hầu hết các hành vi mà các chủ thể tham gia cần tiến hành trong thủ tục phá sản Để bảo vệ lợi ích chính đáng của các chủ nợ, con nợ, quyền
và lợi ích của người lao động…thẩm phán dựa trên các quy định về thẩm quyền của mình thực hiện, hướng dẫn và hỗ trợ về mặt thủ tục phá lý cho những đối tượng có liên quan tới quá trình giải quyết thủ tục phá sản Trong thủ tục phá sản, hội nghị chủ nợ
do Thẩm phán triệu tập và chủ trì mà mục đích cơ bản và quan trọng nhất của thủ tục phá sản là bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ Toà án nhân dân cấp tỉnh chỉ giải quyết phá sản đối với những vụ việc phá sản có tính chất phức tạp; có tài sản, người tham gia thủ tục phá sản ở nước ngoài; có nhiều bất động sản, chi nhánh, văn phòng đại diện ở nhiều huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh khác nhau, Toà
án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết phá sản đối với các vụ việc còn lại2
1 Khoản 3 Điều 54 Luật Phá sản năm 2014
2 Điều 8, Điều 9 Luật Phá sản năm 2014