1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kịch bản diễn án hồ sơ Bà Nhân

27 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 126,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỌC VIỆN TƯ PHÁP KHOA ĐÀO TẠO CHUNG NGUỒN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU MÔN KỸ NĂNG THAM GIA GIẢI QUYẾT CÁC VỤ VIỆC HÀNH CHÍNH Hồ sơ LS HC 07 BÀ NHÂN KHỞI KIỆN HỦY QUYẾT ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Nhóm V I NGHIÊN CỨU HỒ SƠ 1 1 Thông tin về người tham gia tố tụng Người khởi kiện Bà Hoàng Thị Nhân, sinh năm 1960 Người bị kiện Chủ tịch UBND thành phố A 1 2 Đối tượng khởi kiện Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường số 44QĐ XPHC ngày 27012018 của Chủ.

Trang 1

HỌC VIỆN TƯ PHÁP

KHOA ĐÀO TẠO CHUNG NGUỒN

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU MÔN: KỸ NĂNG THAM GIA GIẢI QUYẾT CÁC VỤ VIỆC HÀNH CHÍNH

Hồ sơ: LS HC 07

BÀ NHÂN KHỞI KIỆN HỦY QUYẾT ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH

TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

Nhóm V

Trang 2

I NGHIÊN CỨU HỒ SƠ

I.1 Thông tin về người tham gia tố tụng:

- Người khởi kiện: Bà Hoàng Thị Nhân, sinh năm 1960

- Người bị kiện: Chủ tịch UBND thành phố A

I.2 Đối tượng khởi kiện: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường số 44/

QĐ-XPHC ngày 27/01/2018 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố A (khoản 1 Điều 30 Luật tố tụng hành chính 2015).

I.3 Tòa án nhân dân thụ lý

Khiếu kiện Quyết định hành chính là khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy

định tại khoản 1 Điều 30 Luật tố tụng hành chính 2015.

Căn cứ khoản 4 Điều 32 Luật tố tụng hành chính 2015 thì Tòa án nhân dân cấp tỉnh là Tòa án có

thẩm quyền giải quyết.

Do đó, Tòa án nhân dân tỉnh B là Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án này.

I.4 Diễn biến vụ việc

Ngày 27/01/2018, UBND TP A ban hành Quyết định 44/QĐ-XPHC xử phạt vi phạm về bảo vệ

môi trường đối với bà Hoàng Thị Nhân là chủ cơ sở mộc, địa chỉ Lô 18P3, khóm Tân An, phường

Tân Hội, TP.A; tổng tiền phạt 14.500.000đ, từng hành vi bị xử phạt cụ thể là (1) không thực hiện

nội dung trong bản cam kết bảo vệ môi trường theo điểm a khoản 2 Điều 8 Nghị định 155/2016/ NĐ-CP - mức phạt 4.000.000đ; (2) thải bụi vượt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về chất thải dưới 1,5 lần, theo điểm a khoản 2 Điều 15 Nghị định 155/2016/NĐ-CP – mức phạt: 7.500.000đ; (3)

gây tiếng ồn vượt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về tiếng ồn trong khoảng thời gian từ 06 giờ đến

21 giờ, theo khoản 2 Điều 17 Nghị định 155/2016/NĐ-CP, mức phạt 3.000.000đ.

Bà Nhân không đồng ý với quyết định xử phạt nên bà đã khiếu nại và được UBND TP A giải quyết khiếu nại tại CV số 604/CV.UBND ngày 21/2/2018, với nội dung việc UBND TP ban hành quyết định xử phạt bà Nhân là đúng quy định của pháp luật.

Không đồng ý với quyết định xử phạt và công văn trả lời giải quyết khiếu nại, bà Nhân đã gửi đơn khởi kiện ngày 21/03/2018 đến TAND TP A yêu cầu hủy Quyết định 44/QĐ-XPHC xử phạt vi phạm về bảo vệ môi trường với lý do: không có biên bản vi phạm hành chính ngày 14/01/2018.

1.5 Ngoài ra hồ sơ còn thể hiện:

a Ngày 28/02/2017, phòng TN & MT kết hợp Đội QLTTĐT TP, UBND phường cùng văn phòng khóm Tân An, tiến hành kiểm tra cơ sở cửa sắt đối diện cơ sở mộc cũng do bà Nhân làm chủ, kết quả đo độ ồn trong lúc hai cơ sở cửa sắt và cơ sở mộc đang hoạt động:

+ Bên trong cơ sở cửa sắt: 102 dBA;

+ Phía trước cơ sở cửa sắt 85dBA (vượt 1,13 lần so với tiêu chuẩn 75dBA – TCVN 5949:1998, BL 29)

+ Trước nhà số 20P3 (cặp vách cơ sở mộc, đối diện cơ sở cửa sắt): 82dBA;

+ Trước nhà số 10Q2 (cặp vách cơ sở cửa sắt, đối diện cơ sở mộc): 75dBA;

Tại thời điểm đo độ ồn 02 cơ sở hoạt động không liên tục.

Trang 3

Cơ sở vẫn chưa thực hiện thủ tục đăng ký kinh doanh và môi trường cho loại hình sản xuất cửa sắt (BL 29)

Yêu cầu: khắc phục tiếng ồn trong thời hạn 7 ngày và lập các thủ tục về môi trường cho hoạt động sản xuất cửa sắt trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày lập biên bản ngày 28/02/2017.

b Ngày 15/03/2017, phòng tiến hành kiểm tra, ghi nhận cơ sở có che chắn bằng hạt nhựa giáp

với nhà 08Q2, không che chắn phía giá với nhà 11Q2 Do tiếng ồn lúc máy cắt sắt đang hoạt động

là 80dBA, vượt so với tiêu chuẩn TCVN 5949:1998 là 1,06 lần Yêu cầu cơ sở di dời máy cắt sắt vào phía sau nhằm hạn chế tiếng ồn phát tán ra môi trường xung quanh (trong thời hạn 7 ngày từ ngày lập biên bản).

c Ngày 11/04/2017, cùng thành phần trên kiểm tra cơ sở mộc Thái Sơn ghi nhận: có đăng

ký kinh doanh cho mộc, không có đăng ký kinh doanh cửa sắt; qua kiểm tra, có phát hiện bụi bên trong cơ sở, không phát tán ra môi trường xung quanh, kết quả đo độ ồn không vượt quá so với quy định Tuy nhiên, do cơ sở chưa hoàn chỉnh thủ tục về môi trường, đề nghị cơ sở không hoạt động vào ngày nghỉ, ban đêm, nhanh chóng hoàn chỉnh thủ tục môi trường theo quy định (BL 29).

d Ngày 13/4/2017, cùng thành phần trên tiến hành kiểm tra việc thực hiện các yêu cầu của Đoàn kiểm tra đối với cơ sở cửa sắt Tại thời điểm kiểm tra ông Hải, chồng bà Nhân trình bày do sức khỏe không tốt nên sẽ ngưng hoạt động cơ sở cửa sắt trong thời gian tới, xin cho gia hạn hoạt động trong thời gian 30 ngày (để xử lý sắt tồn) kể từ ngày 13/4/2017 (có tờ cam kết).

Nhận xét, kiến nghị: qua quá trình kiểm tra việc đo độ ồn trong lúc hai cơ sở cùng hoạt động có vượt so với tiêu chuẩn Việt Nam, đặc biệt trong lúc cơ sở cửa sắt hoạt động độ ồn rất lớn.

Đối với cơ sở mộc kiểm tra trước đó đã đo độ ồn không vượt quá so với tiêu chuẩn, đồng thời cơ

sở đã lập thủ tục môi trường (đề án bảo vệ môi trường) đã được cơ quan chức năng xác nhận tại Giấy xác nhận số 15/GXN-TNMT ngày 01/02/2017.

e Ngày 09/05/2017, tại VP Khóm Tân An, thành phần gồm 02 CV Phòng TN&MT + 01 CV

phòng KT TP.A + CBĐC phường Tân Hội với sự tham gia của Trưởng khóm Tân An, Tổ trưởng

tổ 103 xác minh theo đơn tường trình của bà Nhân, chủ cơ sở mộc Thái Sơn, địa chỉ lô 18P3 về việc khu vực hoạt động của cơ sở cúp điện làm ảnh hưởng đến hoạt động của cơ sở Tổ trưởng tổ

103 cho biết: cơ sở hoạt động theo đúng thời gian cam kết (trong giờ hành chính); Cơ sở hoạt động vẫn phát sinh tiếng ồn, bụi làm ảnh hưởng đến các hộ dân xung quanh.

f Ngày 01/08/2017, Đoàn kiểm tra theo QĐ số 153/QĐ-UBND ngày 18/3/2016 của UBND

TP A có Biên bản kiểm tra theo Kế hoạch số 53/KH-UBND ngày 18/4/2016 của UBND TP.A (kiểm tra sau xác nhận đề án bảo vệ môi trường TP.A), nhận xét, kết luận: có GCNĐKKD, GXN Bản Đề án BVMT đã được phê duyệt; chưa thực hiện Chương trình giám sát đã được nêu trong bản đề án bảo vệ môi trường; Tại thời điểm kiểm tra không đánh giá được mức độ ô nhiễm về bụi

và tiếng ồn do cơ sở không hoạt động; Tại thời điểm kiểm tra cơ sở sắt tại số 11Q2 vẫn đang hoạt động Yêu cầu: thực hiện Chương trình giám sát môi trường đúng tần suất và thời gian như Cam kết tại Bản đề án.

g Ngày 8/11/2017, UBND TP A ban hành QĐ số 16/QĐ-UBND về việc thành lập Đoàn kiểm tra liên ngành (9 thành viên), kiểm tra cơ sở mộc Thái Sơn tại địa chỉ lô 18,19P3 và cơ sở gia công cửa sắt tại lô 11Q2 khóm Tân An Thời gian 8 giờ ngày 11 tháng 11

h Ngày 11/11/2017, Đoàn kiểm tra gồm 11 người (trong đó có 6 người khác với QĐ 16 ngày 8/11/2017) lập Biên bản kiểm tra cơ sở mộc Thái Sơn do bà Hoàng Thị Nhân là chủ cơ sở).

Trang 4

Đoàn kiểm tra tiến hành trưng cầu Trung tâm quan trắc kỹ thuật tài nguyên và môi trường của tỉnh

thu mẫu bụi, tiếng ồn với các vị trí cụ thể như sau:

1 Trước cửa cơ sở: thu mẫu bụi, tiếng ồn;

2 Phía sau cơ sở (vách bà Lê Thị Tính): đo tiếng ồn;

3 Phía sau cơ sở (Vách nhà bà Nguyễn Thị Ánh): đo tiếng ồn.

Đoàn ghi nhận chủ cơ sở thực hiện không đầy đủ nội dung trong đề án bảo vệ môi trường đã được phòng TN & MT xác nhận (số 15/GXN-TNMT ngày 01/02/2017) cụ thể như sau:

+ Không thực hiện chương trình giám sát môi trường và định kỳ lập báo cáo giám sát gởi Phòng Tài nguyên và môi trường theo cam kết;

+ Không trang bị đầy đủ các thiết bị phòng cháy, chữa cháy theo đúng quy định của cơ quan chức năng;

+ Không lập bảng nội quy cơ sở

+ Ngành nghề kinh doanh đăng ký chỉ có đóng tủ, bàn, ghế, mộc gia dụng, không có ngành cưa xẻ

gỡ Thực tế có cưa xẻ gỗ với máy cưa công suất 1,5HP.

Tại thời điểm kiểm tra cơ sở cửa sắt của ông Hải chồng bà Nhân ngụ tại số 11Q2 không hoạt động Đoàn kiểm tra không tiến hành thu mẫu giám định.

Ngày 11/11/2017 đoàn kiểm tra đến kiểm tra cơ sở mộc của bà Nhân về độ bụi, độ ồn… Lúc kiểm

tra cơ sở mộc của bà Nhân chỉ có 2 công nhân làm việc, độ bụi và độ ồn không thể vượt quá quy định của Nhà nước Ngày kiểm tra bà Nhân không được đoàn cho biết con số độ bụi, độ ồn và trong biên bản kiểm tra ngày 11/11/2017 của Đoàn cũng không ghi độ bụi, độ ồn là bao nhiêu Tuy nhiên biên bản có đọc lại cho bà Nhân nghe, theo biên bản ghi có cho bà Nhân 15 ngày để khắc phục những thiếu sót đã ghi trong biên bản do đó bà Nhân mới ký tên Trong biên bản này bà Nhân có thắc mắc với đoàn là biên bản ghi đoàn có 11 người nhưng chỉ có mặt 8 người, bà Nhân hỏi thì ông Trần Văn Tuất là người lập biên bản nói không cần thấy mặt chỉ cần thấy tên là được rồi.

i Ngày 11/11/2017 tại Biên bản thu mẫu không số (9h25 phút) đại diện Trung tâm quan

trắc và kỹ thuật tài nguyên môi trường B, đại diện đơn vị yêu cầu là Phó Trưởng phòng TN &MT

có giám sát là Đội trưởng CATP A Thu mẫu tại cơ sở mộc Thái Sơn, mục đích xác định chỉ tiêu

bụi và tiếng ồn.

Mẫu lấy trong điều kiện cơ sở hoạt động bình thường.

j Ngày 15/11/2017, Kết quả phân tích MS 031041-0106 của Trung tâm quan trắc và kỹ thuật

tài nguyên môi trường thể hiện: ngày thực hiện 11/11/2017, loại mẫu: không khí; phương pháp lấy mẫu và phân tích các chỉ tiêu theo Trường quy kỹ thuật của Bộ Y tế - 1993 và Standard Methods

of air Sampling and Analysis, độ ồn môi trường được đo bằng máy Testo – 816

Vị trí lấy mẫu: trước cơ sở, sau nhà số 20P3, sau nhà số 17P3, trước cơ sở khi vận hành máy phát điện, sau nhà số 20P3 khi vận hành máy phát điện, sau nhà số 17P3 khi vận hành máy phát điện Kết quả phân tích

(mg/m3)

Vượt so với QCVN 2010 về tiếng ồn

Vượt so với QCVN 2009 về bụi

Trang 5

Phía sau cơ sở (20P3) 61-79 - 1,04

k Ngày 26/11/2017, Báo cáo kết quả kiểm tra cơ sở mộc Hoàng Thị Nhân khóm Tân An,

phường Tân An, phường Tân Hội, TP A, Phòng tài nguyên và môi trường kết luận:

- Cơ sở không thực hiện chương trình giám sát môi trường và định kỳ lập báo cáo… không thực hiện các nội dung đã cam kết nêu trong bản đề án bảo vệ môi trường đã được xác nhận, vi phạm Điều 7 khoản 2 NĐ 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 về XL VPPL trong lĩnh vực BVMT (phạt từ 2 – 5 triệu đồng)

- Độ ồn tối đa cho phép trong khu dân cư xem kẽ trong khu vực thương mại, dịch vụ, sản xuất từ 6h đến 18h giờ 75 dBA Vì vậy, chủ cơ sở đã vi phạm vào Điều 17 khoản 1 của NĐ 155/2016/NĐ-CP ngày (phạt từ 1 – 5 triệu đồng)

- Kết quả đo bụi trong không khí phía trước cơ sở vượt 1,2 lần so với QCKT môi trường QCVN 05: 2009/BVMT quy định bụi trong không khí xung quanh giới hạn là 300mg/m3 Điều này vi phạm vào Điều 15 khoản 2 điểm a NĐ 155/2016/NĐ-CP (phạt 5 – 10 triệu đồng).

l Ngày 3/12/2017, tại Thông báo kết luận của Phó CT UBND TP Đặng Văn Phát tại buổi

họp bàn biện pháp xử lý cơ sở mộc của bà Hoàng Thị Nhân, lô 18 khóm Tân An phường Tân Hội, Phó CT kết luận: Giao Phòng TN&MT tham mưu UBND TP lập Đoàn kiểm tra cơ sở mộc của bà

Nhân; Giao UBND phường Tân Hội chủ trì tiến hành kiểm tra vào ngày 10/12/2017 theo CV 111

ngày 26/9/2017 của UBND TP; khi tiến hành kiểm tra cơ sở, giao Đội QLTTĐT TP lập Biên bản VPHC.

m Ngày 2/1/2018, Đội quản lý TTĐT có Thông báo về việc phân công cán bộ số QLTTĐT, thực hiện công văn 364/UBND-KT ngày 30/11/2017 xử phạt VPHC đối với cơ sở mộc

24/TB-của bà Hoàng Thị Nhân Phân công ông Trần Văn Tuất kết hợp với phường Tân hội lập Biên bản XLVPHC đối với bà Nhân.

n Ngày 11/01/2018, tại Biên bản kiểm tra công tác bảo vệ môi trường, Đoàn kiểm tra gồm 4

người (cũng không phải là những người trong QĐ thành lập đoàn công tác có mặt tại hộ bà Nhân

để lập biên bản kiểm tra hiện trạng môi trường và việc thực hiện các giải pháp bảo vệ môi trường của đơn vị.

Đoàn kiểm tra tiến hành đo độ ồn của cơ sở trong lúc 05 máy cưa hoạt động, máy liên hợp và máy bào cầm tay đang hoạt động, kết quả như sau:

+ Trong cơ sở: 25dBA

+ Trước cơ sở: 71dBA

+ Trước nhà 17P3 (cặp vách cơ sở): 67dBA

+ Trước nhà 20P3 (cặp vách): 68dBA

+ Trước nhà 8Q2 (đối diện cơ sở): 70dBA

+ Phía trước có che chắn hai bên giáp với nhà dân bằng cao su và che chắn phía trên

Trang 6

+ Cơ sở sử dụng lưới rây che bụi phía trước nhà chưa ra vào cơ sở

+ Phía sau có sử dụng quạt hút bụi cưa, thu gom vào buổi chiều làm phân bón cho cây

+ Có phát hiện bụi bên trong cơ sở, không phát hiện bụi phát tác ra xung quanh;

+ Qui mô hoạt động: khoảng 1m3

Nhận xét: có phát hiện bụi bên trong cơ sở, không phát tác ra xung quanh;

Kết quả đo độ ồn (đề ghi nhận): không vượt so với TCVN.

o Ngày 14/01/2018, ông Trần Văn Tuất (cán bộ quản lý trật tự của thành phố_ và ông

Nguyễn Văn Thế (cán bộ quản lý trật tự của phường) xuống kiểm tra lại nhưng không qua cơ sở kiểm tra mà ở tại nhà tôi là lô 11Q2 (cách cơ sở khoảng 30m) để ghi biên bản và kêu tôi ký tên Tôi không chịu ký tên và cũng không biết nội dung biên bản ghi những gì vì không đọc cho tôi Khi được Phòng TN & MT cung cấp bà Nhân mới phát hiện có chữ ký của bà trong biên bản này,

bà khẳng định bà không có ký trong biên bản gốc và cũng không được cung cấp biên bản này Bà Nhân chắc chắn đây là biên bản khống.

UBND cho rằng:

UBND thành phố chỉ đạo Đội quản lý trật tự đô thị tiến hành lập Biên bản vi phạm hành chính (ngày 14/1/2018) đối với cơ sở mộc của bà Hoàng Thị Nhân (có đọc lại biên bản vi phạm hành chính cho bà Nhân nghe rõ nội dung vi phạm nhưng không đồng ý ký tên) và ban hành Quyết định XPVPHC về bảo vệ môi trường đối với cơ sở mộc của bà Nhân (QĐ 44/QĐ-XPHX ngày 27/1/2018 của UBND thành phố).

Đội quản lý trật tự đô thị thành phố A lập biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường theo Báo cáo số 23/BC.TNMT ngày 26/12/2017 của Phòng TN & MT về kết quả kiểm tra

cơ sở mộc của bà Hoàng Thị Nhân do có hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.

Trang 7

1.6 Xem xét về quyền khởi kiện và tính hợp pháp của QĐ hành chính

quyền của

TA

Quyết định XP số 44 thuộc thẩm quyền ban hành của Chủ tịch UBND TP

A do đó thuộc thẩm quyền của TAND cấp tỉnh là TAND tỉnh B theo khoản 4 Điều 32 LTTHC 2015

Hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường số 44/

QĐ-XPHC ngày 27/01/2018 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố A vì

Không đồng ý với yêu cầu của người khởi kiện

Trình tự, thủ tục xử phạt đúng quy định tại Luật Xử

lý vi phạm hành chính, nội dung QĐ đúng quy định tại Nghị định 155/2016/NĐ-CP, QĐ xử phạt căn cứ vào kết quả phân tích lấy mẫu ngày 11/01/2017 do Trung tâm quan trắc và kỹ thuật tài nguyên môi trường tỉnh B thực hiện và biên bản vi phạm hành chính ngày 14/01/2018.

2 Đánh giá tính HP/BHP của QĐHC (k3 Đ191)

2.1 Thẩm

quyền

Quyết định 44 do Phó chủ tịch UBND thành phố A

ký, được Chủ tịch giao quyền xử phạt hành chính.

Do vậy đúng thẩm quyền theo điểm b khoản 2 Điều

38, Điều 52, Điều 54 Luật Xử lý vi phạm hành chính; điểm b khoản 2 Điều 48 Nghị định 155/2016/

Trang 8

Đối tượng Người khởi kiện Người bị kiện

NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ mội trường

2.2 Thời hạn,

thời hiệu XP

Về thời hạn lập Biên bản vi phạm hành chính: Tại biên bản kiểm tra do Đoàn kiểm tra lập ngày 11/11/2017 có thu mẫu, sau khi có kết quả phân tích mẫu là ngày 15/11/2017 đến ngày 14/01/2018 mới lập Biên bản vi phạm hành chính (60 ngày từ ngày có kết quả phân tích mẫu) Việc chậm lập biên bản VPHC với thời gian như trên là vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 58 Luật XLVPHC.

Như vậy việc lập biên bản vi phạm hành chính chưa đảm bảo về trình tự, thủ tục theo quy định tại khỏan 2 Điều 58 Luật LVPHC.

Do cơ sở mộc Thái Sơn gây tiếng ồn, thải bụi vượt quy chuẩn cho phép nên UBND TP lập đoàn kiểm tra hành vi vi phạm Trên cơ sở kết quả phân tích lấy mẫu ngày 11/01/2017 do Trung tâm quan trắc và kỹ thuật tài nguyên môi trường tỉnh B thực hiện thực hiện cho thấy cơ sở mộc đã không tuân thủ đúng quy định về bảo vệ môi trường

Ngày 14/01/2018, Đội QL trật tự đô thị TP lập Biên bản vi phạm hành chính số 01/BB-VPHC đối với hành vi đối với bà Hoàng Thị Nhân do

có 03 hành vi vi phạm.

Sau đó Chủ tịch UBND TP A ban hành Quyết định xử phạt số 44 ngày 27/01/2018 là tuân thủ đúng trình tự, thủ tục.

2.4 Hình

thức, thể Biên bản vi phạm hành chính không có nội dung xác định có vi phạm hành

Trang 9

Đối tượng Người khởi kiện Người bị kiện

thức văn bản

chính xảy ra, không dựa trên kết quả phân tích mẫu ngày nào (mẫu ngày 11/11/2017 xác định có vi phạm nhưng sau đó ngày 11/01/2018 lại kiểm tra và kết luận không có vi phạm)

Vì vậy BBVPHC này không có giá trị làm căn cứ để ra quyết định xử phạt theo Điều 59 Luật xử lý VPHC

đó, việc lấy mẫu không được bảo đảm là đã được thực hiện đúng quy định tại điểm c khoản 1 Điều 9 Thông tư 28/2011/TT-BTNMT:

“- Vị trí lựa chọn phải đặc trưng cho khu vực cần quan trắc (phải có

Trình tự lấy mẫu sai có khả năng ảnh hưởng đến việc xác định hành

Căn cứ vào kết quả phân tích lấy mẫu ngày 11/01/2017 do Trung tâm quan trắc và kỹ thuật tài nguyên môi trường tỉnh B thực hiện và biên bản vi phạm hành chính ngày 14/01/2018 thì bà Nhân đã có hành vi vi phạm:

(1) không thực hiện nội dung trong bản cam kết

bảo vệ môi trường theo điểm a khoản 2 Điều 8

Nghị định 155/2016/NĐ-CP

(2) thải bụi vượt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật

về chất thải dưới 1,5 lần, theo điểm a khoản 2

Trang 10

Đối tượng Người khởi kiện Người bị kiện

vi vi phạm, ảnh hưởng đến tính có căn cứ thực tế của QĐ XP số 44.

2 Việc áp dụng mức phạt 4.000.000đ đối với hành vi không thực hiện nội dung trong bản cam kết bảo vệ môi trường là không

phù hợp Theo điểm a khoản 2 Điều 8 Nghị định 155/2016/NĐ-CP hành vi trên bị phạt tiền từ 1 – 5 triệu đồng NBK áp dụng mức phạt

là 4.000.000đ là đã áp dụng tình tiết tăng nặng, tuy nhiên trong Biên bản vi phạm hành chính ngày 14/01/2018 và QĐ số 44 ngày 27/01/2018 đều không chỉ ra tình tiết tăng nặng nào.

Trang 11

1.7 Trình bày yêu cầu của người khởi kiện

Kính thưa HĐXX, tôi xin thay mặt cho bà Hoàng Thị Nhân là người khởi kiện trong vụ án này trình bày yêu cầu của bà Nhân như sau:

Hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường số 44/QĐ-XPHC ngày 27/01/2018 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố A vì lý do: (1) Trình tự thủ tục ban hành quyết định trái pháp luật: vi phạm về thủ tục lấy mẫu và vi phạm thủ tục lập biên bản vi phạm hành chính (2) Nội dung Quyết định cũng trái pháp luật do áp dụng sai mức phạt đối với hành vi

không thực hiện nội dung trong bản cam kết bảo vệ môi trường vì thủ tục lấy mẫu sai dẫn đến nội

dung quyết định cũng trái pháp luật, xử phạt đối với hành vi không vi phạm pháp luật hành chính.

1.8 Ý kiến của Người bị kiện

Không đồng ý với yêu cầu của người khởi kiện

Trình tự, thủ tục xử phạt đúng quy định tại Luật Xử lý vi phạm hành chính, nội dung QĐ đúng quy định tại Nghị định 155/2016/NĐ-CP, QĐ xử phạt căn cứ vào kết quả phân tích lấy mẫu ngày 11/01/2017 do Trung tâm quan trắc và kỹ thuật tài nguyên môi trường tỉnh B thực hiện và biên bản

vi phạm hành chính ngày 14/01/2018.

II DỰ KIẾN HỎI TẠI PHIÊN TÒA – BẢO VỆ NGƯỜI KHỞI KIỆN

2.1 Dự kiến hỏi Người bị kiện

1 Phó CT UBND TP A được giao quyền ký Quyết định số 44 dựa trên văn bản nào?

2 Quyết định xử phạt vi phạm hành chính được ban hành dựa trên kết quả đo ngày nào?

3 Tại sao không căn cứ kết quả tại biên bản kiểm tra ngày 11/01/2018 để làm căn cứ lập biên bản vi phạm hành chính ngày 14/01/2018 mà lại căn cứ vào kết quả ngày 11/11/2017?

4 Tại sao thành phần Đoàn kiểm tra ngày 11/11/2017 khác với thành phần Đoàn kiểm tra do UBND TP A thành lập theo QĐ số 16/QĐ-UBND ngày 8/11/2017?

5 Tại sao ngày 15/11/2017 đã có kết quả phân tích mẫu mà đến ngày 14/01/2018 mới lập biên bản vi phạm hành chính?

6 Thời điểm lập Biên bản vi phạm hành chính ngày 14/01/2018 có sự tham gia của chính quyền địa phương không?

7 Người bị kiện có ý kiến thế nào khi bà Nhân cho rằng ngày lập Biên bản vi phạm hành chính ngày 14/01/2018 chỉ có 08 người tham gia mà không phải là 11 người như ghi trong Biên bản?

8 Tại sao ngày 14/01/2018 lập biên bản vi phạm hành chính mà đến ngày 27/01/2018 mới ra

QĐ xử phạt?

9 Mô tả rõ vị trí lấy mẫu ngày 11/11/2017?

10 Hành vi vi phạm của bà Nhân có tình tiết tăng nặng nào?

2.2 Dự kiến hỏi Người khởi kiện

1 Bà Nhân cho biết cơ quan nhà nước đã nhiều lần đến kiểm tra cơ sở mộc của bà đúng không?

2 Ngoài lần kiểm tra ngày 11/11/2017, những lần khác kết luận kiểm tra như thế nào?

Trang 12

3 Bà Nhân cho biết vị trí Đoàn kiểm tra lấy mẫu ngày 11/11/2017?

4 Tại sao bà ký biên bản kiểm tra ngày 11/11/2017?

5 Ngày 14/01/2018, khi Đoàn kiểm tra đến lập biên bản có sự tham gia của UBND phường không?

6 Trước đây, bà đã từng bị xử phạt hành chính đối với các hành vi tương tự như trong QĐ số

Qua việc nghiên cứu hồ sơ vụ án, thu thập các chứng cứ có liên quan và tại phiên toà hôm nay, yêu cầu của người khởi kiện là hoàn toàn có cơ sở bởi các lập luận sau đây:

Xét về thẩm quyền ban hành, Quyết định số 44 ngày 27/01/2018 được ký ban hành bởi Phó chủ

tịch UBND TP A, tuy nhiên trong phần căn cứ ra quyết định không thể hiện việc Phó chủ tịch UBND TP A được Chủ tịch UBND TP A giao quyền theo văn bản nào Đến thời điểm này, phía người bị kiện cũng không cung cấp được văn bản giao quyền xử phạt cho cấp phó theo quy định theo quy định tại Điều 54 Luật xử lý vi phạm hành chính Do đó, Quyết định số 44 ngày 27/01/2018 được ban hành sai thẩm quyền.

Xét thời hạn lập Biên bản vi phạm hành chính, theo Biên bản kiểm tra do Đoàn kiểm tra lập ngày

11/11/2017, Đoàn kiểm tra đã tiến hành thu mẫu Ngày 15/11/2017 có kết quả phân tích mẫu của Trung tâm quan trắc và kỹ thuật tài nguyên môi trường tỉnh B Tuy nhiên, đến ngày 14/01/2018, Đội QL trật tự đô thị TP mới lập Biên bản vi phạm hành chính là đã 60 ngày từ ngày có kết quả phân tích mẫu Việc chậm lập biên bản VPHC với thời gian như trên là vi phạm quy định tại khoản

1 Điều 58 Luật XLVPHC.

Xét trình tự thủ tục ban hành quyết định, Quyết định số 44 ngày 27/01/2018 căn cứ trên Biên bản

vi phạm hành chính ngày 14/01/2018, tuy nhiên việc lập Biên bản vi phạm hành chính ngày 14/01/2018 chưa đảm bảo về trình tự, thủ tục theo quy định tại khỏan 2 Điều 58 Luật LVPHC Biên bản VPHC ngày 14/01/2018 do không có chữ ký của bà Nhân và cũng không có chữ ký của đại diện chính quyền cơ sở.

Xét nội dung, việc xử lý vi phạm của bà Nhân hoàn toàn phải dựa trên kết quả phân tích mẫu Tuy

nhiên, như đã phân tích, trong biên bản vi phạm hành chính ngày 14/01/2018 không nêu được việc xác định hành vi vi phạm căn cứ trên kết quả phân tích nào, vì vậy biên bản vi phạm hành chính ngày 14/01/2018 không có giá trị làm căn cứ để ra quyết định xử phạt theo Điều 59 Luật xử lý vi phạm hành chính

Phía người bị kiện cho rằng có hành vi gây tiếng ồn, thải bụi vượt quá quy chuẩn dựa trên kết quả lấy mẫu ngày 11/11/2017 do Trung tâm quan trắc và kỹ thuật tài nguyên môi trường tỉnh B thực hiện Tuy nhiên tại Biên bản làm việc cũng như Biên bản thu mẫu ngày 11/11/2017 chỉ nêu chung chung vị trí lấy mẫu là trước cơ sở, trước nhà… mà không nêu rõ tọa độ Do đó, việc lấy mẫu không được bảo đảm là đã được thực hiện đúng quy định tại điểm c khoản 1 Điều 9 Thông tư 28/2011/TT-BTNMT:

“- Vị trí lựa chọn phải đặc trưng cho khu vực cần quan trắc (phải có toạ độ xác định);

Trang 13

- Tránh các vật cản gây phản xạ âm;

- Tránh các nguồn gây nhiễu nhân tạo: tiếng nhạc, tiếng va đập của kim loại, trẻ em nô đùa ;

- Chọn vị trí đo sao cho có sự truyền âm ổn định nhất với thành phần gió thổi không đổi từ nguồn đến vị trí đo”.

Bên cạnh đó, Biên bản kiểm tra ngày 11/01/2018 với thành phần đoàn kiểm tra gồm 04 người là chuyên viên phòng TN &MT TP, chuyên viên Đội QLTTĐT TP, cán bộ phường Tân Hội và bảo

vệ dân phòng khóm Tân An có kết quả đo hoàn toàn ngược lại Trước đó, Đoàn kiểm tra liên ngành cũng đã kiểm tra và kết luận không có bụi phát tán ra xung quanh, đo độ ồn không vượt quá tiêu chuẩn quy định tại Biên bản ngày 11/04/2017 Hơn nữa, phía người khởi kiện cũng đã cung cấp Phiếu kết quả thử nghiệm và Báo cáo kết quả phân tích ngày 20/05/2018 do Trung tâm ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ thực hiện cho thấy tại cơ sở mộc Thái Sơn các chỉ tiêu tiếng

ồn, bụi đều đạt so với tiêu chuẩn cho phép Điều đó cho thấy việc lấy mẫu ngày 11/11/2017 được thực hiện không đúng quy định dẫn đến kết quả có sai sót, không thể làm căn cứ để ra quyết định

xử phạt đối với bà Nhân.

Mặt khác, việc áp dụng mức phạt 4.000.000đ đối với hành vi không thực hiện nội dung trong bản cam kết bảo vệ môi trường của là không phù hợp Theo điểm a khoản 2 Điều 8 Nghị định 155/2016/NĐ-CP quy định hành vi trên bị phạt tiền từ 1 – 5 triệu đồng Người bị kiện áp dụng mức phạt đối với bà Nhân là 4.000.000đ là đã áp dụng tình tiết tăng nặng, tuy nhiên trong Biên bản

vi phạm hành chính ngày 14/01/2018 và Quyết định số 44 ngày 27/01/2018 đều không chỉ ra tình tiết tăng nặng nào.

Từ các lẽ trên, tôi khẳng định Quyết định số 44 ngày 27/01/2018 vi phạm thẩm quyền, thời hạn lập biên bản vi phạm hành chính, trình tự, thủ tục ra quyết định và cả nội dung quyết định, do đó đề

nghị HĐXX căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 193 LTTHC 2015: Hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường số 44/QĐ-XPHC ngày 27/01/2018 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố A.

Ngày đăng: 26/04/2022, 16:13

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2.4 Hình - Kịch bản diễn án hồ sơ Bà Nhân
2.4 Hình (Trang 8)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w