Kỹ năng trao đổi, tiếp xúc với khách hàng để xác định nội dung tranh chấp và yêu cầu cụ thể của đương sự Theo quy định tại Điều 4, Điều 186, 187 BLTTDS năm 2015 thì cá nhân, cơ quan, tổ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
GIÁO TRÌNH
KỸ NĂNG THAM GIA GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN DÂN SỰ
Chủ biên: PGS.TS NGUYỄN THỊ THU HÀ
Hà Nội, tháng 12 năm 2021
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
GIÁO TRÌNH
KỸ NĂNG THAM GIA GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN DÂN SỰ
Tác giả: 1 PGS.TS Nguyễn Thị Thu Hà
Trang 3DANH SÁCH TẬP THỂ TÁC GIẢ
1 PGS.TS Nguyễn Thị Thu Hà Chương 1, 5
2 PGS.TS Bùi Thị Huyền Chương 3, 7
3 TS Trần Phương Thảo Chương 6
4 ThS Đặng Quang Huy Chương 4
5 ThS Vũ Hoàng Anh Chương 2
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Giáo trình “Kỹ năng tham gia giải quyết các vụ án dân sự” được biên soạn và xuất
bản dùng cho chương trình đạo tào đại học thuộc chuyên ngành Luật Giáo trình cung cấp cho người học các chuẩn kiến thức, kỹ năng chuyên sâu để tư vấn và trợ giúp cho đương
sự tham gia vào quá trình giải quyết các vụ án dân sự tại Tòa án cũng như giúp người học đáp ứng các chuẩn đầu ra về kiến thức, kỹ năng và thái độ của chương trình khung đào tạo đại học của Bộ giáo dục và đào tạo
Nội dung của giáo trình gồm có 7 chương cung cấp các kỹ năng cơ bản của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong hoạt động tư vấn và trợ giúp đương
sự tham gia vào quá trình giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục tố tụng dân sự Trong đó, các tác giả đã phân tích các kỹ năng tư vấn và trợ giúp đương sự theo trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự tại Toà án bao gồm: kỹ năng tư vấn và trợ giúp đương sự về việc khởi kiện vụ án dân sự; hỗ trợ đương sự thu thập chứng cứ; kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án dân sự; kỹ năng tham gia tố tụng ở các giai đoạn chuẩn bị xét xử, hòa giải, phiên tòa sơ thẩm; kỹ năng tham gia ở thủ tục phúc thẩm; kỹ năng tham gia tố tụng theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm Giáo trình còn là cẩm năng hữu ích cho các nhà khoa học, các nhà thực tiễn cũng như các đương sự trong việc áp dụng đúng đắn các quy định của pháp luật trong thực tiễn tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, cơ quan, tổ chức tại Toà án
Giáo trình được hoàn thành bởi tập thể tác giả là các giảng viên có uy tín, có kinh nghiệm giảng dạy và hoạt động thực tiễn Mặc dù tập thể tác giả đã hết sức cố gắng nhưng trong quá trình biên soạn, khó tránh khởi những hạn chế, thiếu sót Tập thể tác giả mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp chân thành, quý báu của bạn đọc để cuốn sách được hoàn thiện trong lần xuất bản sau
Hà Nội, tháng 12/2021
Trang 5KỸ NĂNG TƯ VẤN VÀ TRỢ GIÖP ĐƯƠNG SỰ
1 Kỹ năng trao đổi, tiếp xúc với khách hàng để xác định nội dung tranh chấp
2.1 Điều kiện về chủ thể khởi kiện vụ án dân sự 16
2.2 Điều kiện về thẩm quyền giải quyết của Toà án 23
2.3 Điều kiện về việc vụ án chưa được giải quyết bằng một bản án,
quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án hoặc quyết định đã có hiệu
lực pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trừ trường hợp pháp luật
có quy định khác
23
3 Kỹ năng tư vấn và trợ giúp đương sự chuẩn bị hồ sơ khởi kiện vụ án dân sự 36
4 Kỹ năng tư vấn và trợ giúp đương sự thực hiện việc khởi kiện vụ án dân sự 45
KĨ NĂNG TƯ VẤN VÀ TRỢ GIÖP ĐƯƠNG SỰ
1 Kĩ năng tư vấn cho đương sự về nghĩa vụ thu thập, cung cấp và giao nộp
2 Kỹ năng xác định các vấn đề cần chứng minh và chứng cứ cần thu thập 51
Trang 6trong vụ án dân sự
2.1 Kỹ năng xác định các vấn đề cần chứng minh trong vụ án dân sự 51
2.2 Kỹ năng xác định các chứng cứ cần thu thập trong vụ án dân sự 64
3.1 Kĩ năng tư vấn cho đương sự về các thuộc tính của chứng cứ và nguồn
1.1 Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp 87
1.3 Nghiên cứu các vấn đề về tố tụng của vụ án dân sự 94
1.4 Nghiên cứu các vấn đề về nội dung vụ án dân sự 117
KĨ NĂNG TƯ VẤN VÀ TRỢ GIÖP ĐƯƠNG SỰ THAM GIA PHIÊN
HỌP KIỂM TRA VIỆC GIAO NỘP, TIẾP CẬN, CÔNG KHAI CHỨNG
CỨ VÀ HOÀ GIẢI TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ
121
1 Kỹ năng tư vấn và trợ giúp đương sự trước phiên họp kiểm tra việc giao
1.1 Kỹ năng tư vấn và trợ giúp đương sự trước phiên họp kiểm tra việc
Trang 71.2 Kỹ năng tư vấn và trợ giúp đương sự trước phiên hoà giải 125
2 Kỹ năng trợ giúp đương sự tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp
2.1 Kỹ năng trợ giúp đương sự tham gia phiên họp kiểm tra việc giao
2.2 Kỹ năng trợ giúp đương sự tham gia phiên hoà giải 138
KỸ NĂNG TƯ VẤN VÀ TRỢ GIÖP ĐƯƠNG SỰ THAM GIA
1 Kỹ năng tư vấn và trợ giúp đương sự chuẩn bị tham gia phiên tòa sơ thẩm 142
1.1 Kiểm tra và sắp xếp lại hồ sơ vụ án dân sự 143
1.2 Nghiên cứu lại hồ sơ vụ án dân sự và tư vấn, trợ giúp đương sự đưa
1.3 Tư vấn, trợ giúp đương sự về việc tham gia hay vắng mặt trong
1.4 Xây dựng phương án bảo vệ quyền lợi cho đương sự 152
2.1 Kỹ năng tư vấn và trợ giúp đương sự tham gia trong thủ tục bắt đầu
2.2 Kỹ năng tham gia thủ tục tranh tụng tại phiên tòa 164
Trang 81.1 Tư vấn cho đương sự về phương án kháng cáo 181 1.2 Kỹ năng tư vấn và trợ giúp đương sự thực hiện việc kháng cáo 192
2 Kỹ năng tư vấn và trợ giúp đương sự chuẩn bị tham gia phiên toà phúc
2.1 Tư vấn và trợ giúp đương sự thu thập và cung cấp tài liệu, chứng
cứ trong thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm 196 2.2 Tư vấn và trợ giúp đương sự khi vụ án có căn cứ tạm đình chỉ, đình
chỉ xét xử phúc thẩm hoặc áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm
thời
199
3.1 Tư vấn, trợ giúp đương sự xác định phạm vi xét xử phúc thẩm 207
3.2 Tư vấn, trợ giúp đương sự và việc quyết định có hay không tham
3.3 Kỹ năng tư vấn và trợ giúp đương sự tham gia các thủ tục tại phiên
4.1 Giải thích cho đương sự về hiệu lực của bản án phúc thẩm 218
4.2 Hướng dẫn đương sự theo dõi thủ tục gửi bản án, quyết định phúc
KỸ NĂNG TƯ VẤN, TRỢ GIÖP ĐƯƠNG SỰ Ở THỦ TỤC XÉT LẠI
1 Kỹ năng tư vấn, trợ giúp đương sự xác định các đối tượng, căn cứ kháng
1.1 Xác định đối tượng kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm 222
1.2 Xác định căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm 223
Trang 92 Nghiên cứu hồ sơ vụ án dân sự và chuẩn bị hồ sơ đề nghị kháng nghị giám
2.1 Nghiên cứu hồ sơ vụ án dân sự để xác định căn cứ yêu cầu đề nghị
2.2 Đề nghị xem xét bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp
luật theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm và các công việc sau khi nộp đơn đề
nghị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm
233
3.1 Tư vấn, giải thích cho đương sự các quy định về phiên tòa giám đốc
3.2 Chuẩn bị tài liệu và nội dung trình bày tại phiên tòa giám đốc thẩm,
4 Kỹ năng tư vấn cho đương sự ở thủ tục đặc biệt xem xét lại quyết định của
4.1 Căn cứ xem xét lại quyết định của Hội đồng thẩm phán Tòa án
4.2 Thời hạn và chủ thể có thẩm quyền xem xét lại quyết định của Hội
4.3 Thủ tục xem xét lại quyết định của Hội đồng thẩm phán Tòa án
Trang 10DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
23/12/2000 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về của Luật hôn nhân và gia đình năm
2000
03/12/2012 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ nhất “Những quy định chung” của Bộ luật Tố tụng Dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng Dân sự
03/12/2012 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ
án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của Bộ luật Tố tụng Dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng Dân sự
03/12/2012 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ ba “Thủ tục giải quyết vụ
án tại Tòa án cấp phúc thẩm” của Bộ luật Tố tụng Dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật
Trang 11sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng Dân sự
thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án
30/12/2016 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Luật tố tụng hành chính về gửi, nhận đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ và cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng bằng phương tiện điện tử
13/01/2017 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao ban hành một số biểu mẫu trong tố tụng dân sự
05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định tại khoản
1, 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015
về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án
24/09/2020 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về các biệ pháp khẩn cấp tạm thời của Bộ luật Tố tụng Dân sự
Trang 13CHƯƠNG 1
KỸ NĂNG TƯ VẤN VÀ TRỢ GIÖP ĐƯƠNG SỰ
KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ
Tóm tắt nội dung:
Chương này sẽ trang bị cho người học các kiến thức và kỹ năng cơ bản sau đây:
1 Kỹ năng trao đổi, tiếp xúc với khách hàng để xác định nội dung tranh chấp và yêu cầu cụ thể của đương sự
2 Kỹ năng xác định các điều kiện khởi kiện vụ án dân sự
3 Kỹ năng tư vấn và trợ giúp đương sự chuẩn bị hồ sơ khởi kiện vụ án dân sự
4 Kỹ năng tư vấn và trợ giúp đương sự thực hiện việc khởi kiện vụ án dân sự
Mục tiêu của chương:
Về kiến thức, xác định được các công việc cần phải thực hiện khi tư vấn và trợ giúp
đương sự khởi kiện vụ án dân sự
Về kỹ năng, vận dụng được các kiến thức về khởi kiện vụ án dân sự để tư vấn và trợ
giúp đương sự khởi kiện, thực hiện được việc khởi kiện vụ án dân sự tại Toà án
Về thái độ, nâng cao ý thức trách nhiệm về vai trò, sứ mạng của luật sư trong giai
đoạn mới, hình thành niềm say mê nghề nghiệp
1 Kỹ năng trao đổi, tiếp xúc với khách hàng để xác định nội dung tranh chấp và yêu cầu cụ thể của đương sự
Theo quy định tại Điều 4, Điều 186, 187 BLTTDS năm 2015 thì cá nhân, cơ quan,
tổ chức có quyền khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, của người khác, bảo vệ lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng Như vậy, khởi kiện vụ án dân
sự là một quyền tố tụng quan trọng của cá nhân, cơ quan, tổ chức khi họ cho rằng quyền
và lợi ích hợp pháp của mình, của người khác bị xâm phạm, tranh chấp hoặc lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng bị xâm phạm Tuy nhiên, để thực hiện quyền này người khởi kiện phải thực hiện một loạt các hoạt động tố tụng như gửi đơn khởi kiện đến Tòa án có thẩm quyền, cung cấp các tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm hoặc tranh chấp, nộp tiền tạm ứng án phí… Ngoài ra, người khởi kiện khi thực hiện các hoạt động tố tụng này còn phải tuân theo các điều kiện về nội dung và thủ tục do
Trang 14pháp luật quy định như người khởi kiện phải có quyền khởi kiện, phải có năng lực hành vi
tố tụng dân sự, phải nộp tiền tạm ứng án phí trong thời hạn pháp luật quy định, đơn khởi kiện phải có đầy đủ nội dung theo quy định của pháp luật và được gửi đến Toà án có thẩm quyền bằng các phương thức do pháp luật quy định… Tất cả những hoạt động tố tụng này người khởi kiện có thể tự mình thực hiện hoặc ủy quyền cho người khác thực hiện hoặc nhờ sự trợ giúp của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
Việc khởi kiện vụ án dân sự của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thể hiểu theo nghĩa rộng gồm có yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn hoặc yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Trong phạm vi nội dung của chương này, tác giả tập trung phân tích kỹ năng tư vấn và trợ giúp nguyên đơn khởi kiện
vụ án dân sự
Để có thể tư vấn cho khách hàng trong việc khởi kiện vụ án dân sự thì người tư vấn cần phải hiểu rõ nội dung tranh chấp và mong muốn cụ thể của khách hàng Theo đó, người tư vấn cần thực hiện các công việc sau:
- Trao đổi, tiếp xúc với khách hàng về nội dung tranh chấp: trước tiên người tư vấn
sẽ yêu cầu khách hàng trình bày toàn bộ vụ việc xẩy ra Trong trường hợp qua lời trình bày của khách hàng, những tài liệu, chứng cứ mà khách hàng cung cấp mà thấy có những điểm chưa rõ, còn thiếu hay có những điểm mâu thuẫn trong lời trình bày của khách hàng thì cần trao đổi lại với khách hàng hoặc đặt các câu hỏi cho khách hàng trả lời để hiểu rõ
về nội dung tranh chấp
- Xác định yêu cầu của khách hàng: Sau khi đã nắm rõ về nội dung tranh chấp thì người tư vấn cần xác định khách hàng mong muốn điều gì Trên cơ sở yêu cầu cụ thể của khách hàng, căn cứ theo quy định của pháp luật thì người tư vấn mới tư vấn, giải thích cho khách hàng thấy rằng họ nên yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp về quan hệ pháp luật nào?
Ví dụ 1: ngày 15/4/2016 ông A và ông B ký kết hợp đồng vay nợ với nội dung như
sau: ông A cho ông B vay 500 triệu với thời hạn vay là hai năm, không có lãi xuất Sau
đó, đến thời hạn trả nợ thì ông B chưa có khả năng để trả tiền cho ông A nên xin hẹn một năm sau sẽ trả Tuy nhiên, ngày 30/4/2019 thì ông B bị tai nạn giao thông và chết Ông B
có con là C, D Mong muốn của A là khởi kiện C, D đòi lại khoản tiền trên theo hợp đồng vay nợ đã ký kết giữa A và B Vậy, A có thể khởi kiện C, D đòi khoản tiền nợ theo hợp đồng vay nợ không?
Trong trường hợp này, người tư vấn cần giải thích cho ông A hiểu rằng người ký kết hợp đồng vay nợ với A là B chứ không phải là C, D Do đó, về nguyên tắc nếu B không
Trang 15trả nợ cho A thì A khởi kiện B yêu cầu đòi khoản tiền 500 triệu theo hợp đồng vay nợ đã
ký kết Tuy nhiên, A chưa khởi kiện B ra Toà án thì B đã chết nên A không thể khởi kiện
C, D để đòi tiền theo hợp đồng vay nợ vì C, D không phải là chủ thể ký kết hợp đồng Ở đây, người tư vấn cần giải thích cho ông B hiểu là theo quy định của BLDS năm 2015 thì khi ông B chết sẽ phát sinh quan hệ thừa kế nếu ông B có tài sản Khi đó, theo Điều 615 BLDS năm 2015 thì những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác Do đó, nếu ông B có tài sản hoặc ông B không có tài sản nhưng C, D có thể đồng ý cùng nhau thực hiện nghĩa vụ trả nợ của ông B thì ông A có thể khởi kiện ra Toà án yêu cầu C, D thực hiện nghĩa vụ tài sản do ông B đã chết để lại Nếu ông B không có tài sản và các con cũng không đồng ý trả nợ thay cho ông B thì ông A không nên khởi kiện C, D ra Toà án
để yêu cầu C, D thực hiện nghĩa vụ tài sản của ông B vì có khởi kiện thì cũng sẽ không được Toà án chấp nhận
- Để có thể giúp đỡ, tư vấn cho khách hàng về việc có nên khởi kiện vụ án dân sự hay không? thì người tư vấn cần phân tích những điểm bất lợi hoặc lợi thế và khả năng đạt được khi khởi kiện hoặc không khởi kiện để khách hàng quyết định việc khởi kiện vụ
án dân sự
Ví dụ 2: Ngày 2/4/2010, Công ty TNHH X có trụ sở tại quận N tỉnh Q đã thoả
thuận, ký hợp đồng tín dụng số 01/2010/HĐTD với Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh P, tỉnh Q (trụ sở tại quận N, tỉnh Q) để vay năm tỷ đồng phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh với thời hạn vay là một năm, lãi xuất theo quy định của Ngân hàng Agribank tại thời điểm vay nợ, lãi xuất quá hạn bằng 150% lãi xuất trong hạn Để đảm bảo cho khoản vay trên Công ty TNHH X đã ký với Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh P, tỉnh Q hợp đồng thế chấp số 01/2010/TC ngày 2/4/2010 Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất có diện tích là 100 m 2 , thửa đất số 177.301, tờ bản đồ số 37, địa chỉ tại quận N, tỉnh Q Quyền sử dụng đất được UBND tỉnh Q cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 65432 ngày 20/3/2009 cho người sử dụng đất là Ông Nguyễn Văn A (giám đốc của công ty TNHH X) Hợp đồng thế chấp đã được công chứng và đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật Nguồn gốc của tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất như sau: Ông A và vợ là C kết hôn năm 2000, sau đó năm 2005 bà C sang Nga sinh sống, làm ăn và gửi tiền về cho ông
A mua mảnh đất nói trên Do bà C không về nước từ năm 2005 đến nay nên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông A đứng tên Ông A đã dùng tài sản của mình để thế chấp vay vốn cho Công ty TNHH X Sau khi hết thời hạn vay nợ theo hợp đồng tín dụng, công ty TNHH X mà người đại diện theo pháp luật là ông A đã không trả được nợ cho
Trang 16Ngân hàng Agribank – Chi nhánh P, tỉnh Q Hàng năm, giữa công ty TNHH X và Ngân hàng Agribank – Chi nhánh P, tỉnh Q đều có biên bản xác nhận nợ Ngày 10/3/2016 Ngân hàng Agribank muốn khởi kiện ra Toà án yêu cầu Công ty TNHH X trả toàn bộ khoản nợ vay bao gồm cả nợ gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng số 01/2010/HĐTD và yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp số 01/2010/TC ngày 2/4/2010
Để giúp cho ngân hàng Agribank khởi kiện, người tư vấn cần phân tích những lợi thế và những bất lợi của Ngân hàng trong vụ kiện này, cụ thể:
Về lợi thế: khoản nợ vay giữa Công ty TNHH X với Ngân hàng nông nghiệp và phát
triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh P, tỉnh Q đã có hợp đồng tín dụng 01/2010/HĐTD ngày 2/4/2010 Theo đó, hợp đồng này đã đáp ứng đầy đủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự quy định tại Điều 122 BLDS năm 2005 Hợp đồng này được ký đúng tư cách của người đại diện theo pháp luật của bên cho vay và bên vay; mức cho vay của Ngân hàng đáp ứng đúng quy định của pháp luật; mục đích cho vay hợp pháp; hai bên tự nguyện; hình thức của hợp đồng phù hợp Hơn nữa, hàng năm, giữa công ty TNHH X và Ngân hàng Agribank – Chi nhánh P, tỉnh Q đều có biên bản xác nhận nợ nên yêu cầu của Ngân hàng Agribank – Chi nhánh P, tỉnh Q đòi Công ty TNHH X trả toàn bộ khoản nợ vay bao gồm cả nợ gốc và lãi là thực hiện được
Đối với hợp đồng thế chấp 01/TC ngày 2/4/2010 thì quyền sử dụng đất thế chấp đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bên thế chấp là ông A Ông A đứng tên một mình trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Hơn nữa, khoản 2 Điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định: “Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền
sở hữu phải ghi tên của cả vợ chồng”; Khoản 3 Điều 48 Luật đất đai năm 2003 quy định: Trường hợp quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ và chồng thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng”; điểm b mục 3 Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP cũng hướng dẫn tài sản là quyền sử dụng đất thì phải ghi tên cả vợ và chồng Như vậy, quyền sử dụng đất này là tài sản riêng của ông A Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông A được trình tự, thủ tục luật định Hợp đồng thế chấp đã được công chứng và đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật Do
đó, hợp đồng thế chấp là có hiệu lực
Về bất lợi: Hợp đồng thế chấp có thể bị Toà án tuyên vô hiệu vì quyền sử dụng đất
được cấp theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 65432 ngày 20/3/2009 là tài sản phát sinh trong thời kỳ hôn nhân giữa ông A và bà C Sở dĩ trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ mang tên một mình ông A vì từ 2005 bà C sang Nga sinh sống, làm
ăn và gửi tiền về cho ông A mua đất Việc mua bán, chuyển nhượng chỉ một mình ông A
Trang 17đứng tên và khi ông A dùng tài sản chung của vợ chồng thế chấp tại Ngân hàng vay vốn cho Công ty thì bà C hoàn toàn không biết Do đó, tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất được coi là tài sản chung của vợ chồng ông A và bà C Hợp đồng thế chấp số 01/TC ngày 2/4/2010 chỉ đứng tên một mình ông A là không hợp pháp
Với những phân tích về những điểm lợi thế và bất lợi thì Ngân hàng Agribank sẽ quyết định việc khởi kiện về vấn đề gì
2 Kỹ năng xác định các điều kiện khởi kiện vụ án dân sự
Sau khi đã phân tích những điểm bất lợi hoặc lợi thế và khả năng đạt được của việc khởi kiện hay không khởi kiện thì người tư vấn cần tiếp tục tư vấn, giải thích cho khách hàng hiểu về các điều kiện khởi kiện để khách hàng hiểu rõ họ có đủ các điều kiện để khởi kiện hay không nếu họ quyết định khởi kiện Theo đó, người tư vấn cần tư vấn, giải thích các điều kiện khởi kiện cho khách hàng như sau:
2.1 Điều kiện về chủ thể khởi kiện vụ án dân sự
Thứ nhất, người tư vấn cần xác định khách hàng có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm hoặc tranh chấp không?
Theo quy định tại Điều 4, Điều 186 và Điều 187 BLTTDS năm 2015 thì cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Điều này có nghĩa là phải xác định xem khách hàng thực sự có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm hoặc tranh chấp không? Nếu khách hàng không có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm hoặc tranh chấp thì giải thích cho đương sự để họ không nên khởi kiện vụ án dân sự ra Toà án bởi vì mất thời gian và tiền một cách vô ích Tuy nhiên, trên thực tế có những trường hợp mặc dù đương sự có quyền lợi bị xâm phạm hoặc tranh chấp nhưng để bảo vệ quyền lợi cho đương sự thì nên tư vấn cho đương sự khởi kiện theo thủ tục khác như thủ tục tố tụng hình sự, tố tụng hành chính hoặc thủ tục giải quyết phá sản hoặc khiếu nại tại các cơ quan, tổ chức khác có thẩm quyền
Ví dụ 3: Theo bản án sơ thẩm dân sự số 09/2016/DS-ST ngày 13/4/2015 của Toà án
nhân dân huyện N tỉnh M quyết định buộc ông A có nghĩa vụ trả nợ cho ông B 500 triệu
tiền vay nợ Sau khi bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật thì ông B có đơn yêu cầu thi
hành án Cơ quan thi hành án dân sự huyện N đã ra quyết định thi hành án Khi cơ quan thi hành án dân sự huyện N tiến hành xác minh thì biết ông B không có tài sản riêng nhưng có tài sản chung là một ngôi nhà diện tích 30m 2
tại huyện N với ông C (mỗi người
đóng góp ½ số tiền để mua ngôi nhà) Cơ quan thi hành án dân sự huyện N đã tiến hành
làm thủ tục thông báo đến ông C là chủ sở hữu chung về việc cơ quan thi hành án dân sự
ra quyết định kê biên căn nhà và ông C có quyền ưu tiên mua theo quy định tại Điều 74
Trang 18Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) Tuy nhiên, hết thời hạn thông báo theo quy định tại khoản 3 Điều 74 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi,
bổ sung năm 2014) nhưng không thấy ông C có ý kiến gì nên cơ quan thi hành án dân sự huyện N tiến hành các thủ tục định giá tài sản và đấu giá tài sản theo đúng quy định của pháp luật Ông D là người mua đấu giá thành công căn nhà này Khi ông D làm các thủ tục chuyển quyền sở hữu tại cơ quan có thẩm quyền thì lúc này ông C mới biết căn nhà của mình đã bị người khác chiếm mất Ông C cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm vì ông hoàn toàn không nhận được thông báo của cơ quan thi hành án dân sự huyện N nên muốn khởi kiện ra Toà án huyện N yêu cầu D trả lại ngôi nhà cho mình? Ông C có quyền khởi kiện ra Toà án yêu cầu D trả lại ngôi nhà hay không?
Người tư vấn cần giải thích cho ông C thấy rằng theo quy định tại Điều 133 BLDS năm 2015, đối với tài sản phải đăng ký mà chưa được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì giao dịch dân sự của người thứ ba ngay tình vẫn có hiệu lực khi người thứ
ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá tại tổ chức có thẩm quyền Chủ
sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình nhưng có quyền khởi kiện, yêu cầu chủ thể có lỗi dẫn đến việc giao dịch được xác lập với người thứ ba phải
hoàn trả những chi phí hợp lý và bồi thường thiệt hại Điều 103 Luật thi hành án dân sự
năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) cũng quy định: “1 Người mua được tài sản bán
đấu giá, người nhận tài sản để thi hành án được bảo vệ quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản đó 2 Trường hợp người mua được tài sản bán đấu giá đã nộp đủ tiền mua tài sản bán đấu giá nhưng bản án, quyết định bị kháng nghị, sửa đổi hoặc bị hủy thì cơ quan thi hành
án dân sự tiếp tục giao tài sản, kể cả thực hiện việc cưỡng chế thi hành án để giao tài sản cho người mua được tài sản bán đấu giá, trừ trường hợp kết quả bán đấu giá bị hủy theo quy định của pháp luật hoặc đương sự có thỏa thuận khác…” Ở đây, việc bán đấu giá ngôi nhà đã được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật nên quyền lợi của ông D được bảo vệ, ông C không có quyền khởi kiện ra Toà án để yêu cầu ông D trả lại ngôi nhà
Tuy nhiên, theo khoản 3 Điều 133 BLDS năm 2015 thì ông C có quyền khởi kiện, yêu cầu chủ thể có lỗi dẫn đến việc giao dịch được xác lập với người thứ ba phải hoàn trả những chi phí hợp lý và bồi thường thiệt hại Do đó, ở đây cần xác định việc ông C không nhận được thông báo của cơ quan thi hành án huyện N về việc ngôi nhà bị kê biên và quyền ưu tiên mua có phải lỗi của cơ quan thi hành án không? Để chứng minh điều này ông C cần thực hiện thủ tục khiếu nại trong thi hành án dân sự về việc cơ quan thi hành án huyện N đã có lỗi trong việc thực hiện thủ tục thông báo cho ông C về việc kê biên ngôi nhà và quyền ưu tiên mua Khi nào có quyết định giải quyết khiếu nại của cơ quan có
Trang 19thẩm quyền giải quyết khiếu nại trong thi hành án về việc cơ quan thi hành án huyện N đã
có lỗi trong việc không thực hiện việc thông báo cho ông C về kê biên ngôi nhà và quyền
ưu tiên mua dẫn đến quyền lợi của ông C bị xâm phạm thì ông C có quyền khởi kiện ra Toà án yêu cầu cơ quan thi hành án huyện N bồi thường thiệt hại Còn cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại trong thi hành án xác định cơ quan thi hành án huyện N đã thực hiện đầy đủ thủ tục thông báo đến ông C thì ông C không có quyền khởi kiện ra Toà
án yêu cầu cơ quan thi hành án huyện N bồi thường thiệt hại Ông C cần tiếp tục xác định xem lý do gì mình lại không nhận được giấy thông báo của cơ quan thi hành án, lỗi ở đây
là do khâu nào trong quá trình thực hiện thông báo thi hành án để tiếp tục khiếu nại Ngoài ra, nếu khách hàng muốn khởi kiện để bảo vệ lợi ích của người khác hoặc họ khởi kiện để bảo vệ lợi ích Nhà nước hoặc lợi ích công cộng thì cũng cần xác định người
mà khách hàng cần bảo vệ có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm hoặc tranh chấp không? Hoặc lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng có bị xâm phạm không?
Thứ hai, người tư vấn cần phân tích cho khách hàng thấy muốn thực hiện quyền khởi kiện thì họ phải là chủ thể có năng lực hành vi tố tụng dân sự
Khoản 3 Điều 69, Điều 189 BLTTDS năm 2015 quy định đương sự muốn tự mình khởi kiện thì đương sự là người từ đủ mười tám tuổi trở lên và không bị mất năng lực hành vi dân sự Tuy nhiên, người tư vấn cần giải thích nếu khách hàng là đương sự thuộc trường hợp từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi đã tham gia lao động theo hợp đồng lao động hoặc giao dịch dân sự bằng tài sản riêng của mình thì họ có quyền tự khởi kiện (khoản 6 Điều 69 BLTTDS năm 2015) Đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì người tư vấn cần xác định năng lực hành vi tố tụng dân sự của họ dựa trên quyết định của Tòa án
Riêng đối với trường hợp đương sự muốn uỷ quyền khởi kiện thì người tư vấn cần giải thích cho khách hàng hiểu hiện nay còn có nhiều quan điểm khác nhau về việc uỷ quyền khởi kiện Bởi vì, theo quy định tại khoản 2, 3 Điều 189 năm 2015 thì cá nhân hoặc người đại diện của cơ quan, tổ chức có quyền nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện Tuy nhiên, theo Điều 69 BLTTDS năm 2015 khi đương sự có năng lực hành vi tố tụng dân sự thì có thể tự mình hoặc uỷ quyền cho người đại diện thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự Điều này có nghĩa là đương sự có quyền uỷ quyền khởi kiện vụ án dân sự Do đó,
để thuận lợi cho việc Toà án chấp nhận đơn khởi kiện và vào sổ thụ lý vụ án dân sự thì người tư vấn cần giải thích cho khách hàng thấy rằng đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức sẽ là người trực tiếp ký vào đơn khởi kiện còn họ sẽ hỗ trợ đương sự bằng việc làm hộ đơn khởi kiện
Tuy nhiên, đối với tranh chấp lao động thì theo quy định tại theo khoản 3 Điều 85,
Trang 20khoản 2 Điều 187 BLTTDS năm 2015 thì người lao động có thể uỷ quyền khởi kiện cho
tổ chức đại diện tập thể lao động (công đoàn cơ sở và tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp) Hoặc trong trường hợp nhiều người lao động có cùng yêu cầu đối với người sử dụng lao động trong cùng một doanh nghiệp, đơn vị thì cần tư vấn cho người lao động là họ có thể uỷ quyền khởi kiện cho một đại diện của tổ chức đại diện tập thể lao động
Thứ ba, tư vấn cho khách hàng xác định người thực hiện quyền khởi kiện
(i) Nếu khách hàng thuộc các chủ thể có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì người tư vấn cần giúp đỡ khách hàng xác định người sẽ thực hiện quyền khởi kiện như sau:
- Đương sự là cá nhân từ đủ 18 tuổi và không bị mất năng lực hành vi dân sự (bao gồm cả trường hợp người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi đã tham gia lao động theo hợp đồng lao động hoặc giao dịch dân sự bằng tài sản riêng của mình) thì người tư vấn cần giải thích để đương sự biết họ có thể tự mình khởi kiện
- Đương sự là pháp nhân thì người tư vấn cần lưu ý xác định pháp nhân tham gia tố tụng có thuộc trường hợp có nhiều người đại diện theo pháp luật hay không? Theo quy định tại Điều 141 BLDS năm 2015 và Điều 12 Luật doanh nghiệp năm 2020 thì mỗi người đại diện theo pháp luật có quyền đại diện cho pháp nhân trong phạm vi đại diện theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền, theo điều lệ của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật Điều này có nghĩa là, căn cứ vào quyết định của cơ quan có thẩm quyền, điều lệ của pháp nhân hoặc quy định của pháp luật, người tư vấn xác định cụ thể người đại diện theo pháp luật thay mặt pháp nhân thực hiện quyền khởi kiện
Tuy nhiên, khi tư vấn cho khách hàng là đại diện của các cơ quan, tổ chức thì cần lưu ý:
+ Đối với chi nhánh, văn phòng đại diện của pháp nhân thì cần giải thích cho khách hàng thấy rằng theo Điều 84 BLDS năm 2015, mọi hoạt động của chi nhánh, văn phòng đại diện đều nhân danh pháp nhân nên khi tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh, văn phòng đại diện của pháp nhân thì việc khởi kiện phải do pháp nhân thực hiện thông qua người đại diện hợp pháp của pháp nhân
Ví dụ 4: Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - Agribank có
mở chi nhánh tại quận Thanh xuân, Hà Nội Chi nhánh ngân hàng Agribank tại quận Thanh Xuân, Hà Nội thực hiện ký kết các hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp với công
ty A để cho công ty A vay vốn thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh Sau này, đến thời hạn trả nợ công ty A không trả được nợ cho ngân hàng thì chủ thể có quyền khởi kiện
Trang 21công ty A để yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản phải là Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chứ không phải
là Chi nhánh Ngân hàng Agribank tại quận Thanh Xuân, Hà Nội Bởi vì, Chi nhánh Ngân hàng Agibank không có tư cách pháp nhân, hoạt động dựa trên sự uỷ quyền của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam Người khởi kiện phải là Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam Người ký đơn khởi kiện là người đại diện hợp pháp của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
+ Đối với doanh nghiệp tổ chức mô hình công ty mẹ, công ty con thì có trường hợp không chỉ công ty mẹ có tư cách pháp nhân mà công ty con có tư cách pháp nhân Do đó, khi có tranh chấp xẩy ra giữa công ty con với các chủ thể khác thì công ty con vẫn được
tự mình khởi kiện
Ví dụ 5: Tập đoàn điện lực Việt nam là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
thuộc sở hữu Nhà nước Dưới Tập đoàn điện lực Việt Nam có 9 tổng công ty là các công
ty con nhưng đều có tư cách pháp nhân đó là 3 tổng công ty phát điện (GENCO 1, 2, 3); 5 tổng công ty điện lực (Tổng công ty Điện lực miền Bắc (EVNNPC), Tổng công ty Điện lực miền Trung (EVNCPC), Tổng công ty Điện lực miền Nam (EVNSPC), Tổng công ty Điện lực TP Hà Nội (EVNHANOI), Tổng công ty Điện lực TP Hồ Chí Minh (EVNHCMC); Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia (EVNNPT) Các tranh chấp liên quan đến hoạt động của 9 tổng công ty này thì 9 tổng công ty có thể tự mình khởi kiện Tuy nhiên, các công ty điện lực trực thuộc 5 tổng công ty điện lực thì mặc dù tên gọi là công ty nhưng hoạt động theo mô hình chi nhánh Do đó, trong trường hợp tranh chấp liên quan đến hoạt động của các công ty điện lực (như công ty điện lực Thanh Xuân, công ty điện lực Hoàn Kiếm…) thì chủ thể khởi kiện phải là tổng công ty điện lực TP Hà Nội (EVNHANOI) Người ký đơn khởi kiện là người đại diện hợp pháp của EVNHANOI
- Đương sự là thành viên trong hộ gia đình, tổ hợp tác hoặc tổ chức không có tư cách pháp nhân thì người tư vấn cần giải thích theo khoản 1 Điều 101 BLTTDS năm 2015 thì các thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức không có tư cách pháp nhân có thể
tự mình khởi kiện
(ii) Nếu khách hàng thuộc các chủ thể khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác thì người tư vấn giúp đỡ khách hàng xác định người thực hiện quyền khởi kiện như sau:
- Đương sự là cá nhân là người chưa thành niên (trừ người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi đã tham gia lao động theo hợp đồng lao động hoặc giao dịch dân
sự bằng tài sản riêng của mình), người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi của mình
Trang 22thì người đại diện theo pháp luật của các đương sự này sẽ thực hiện quyền khởi kiện Theo quy định của BLDS năm 2015 thì người đại diện theo pháp luật của các chủ thể trên được xác định như sau:
+ Người đại diện theo pháp luật của người chưa thành niên là cha, mẹ hoặc là người giám hộ (trong trường hợp người chưa thành niên không còn cha, mẹ hoặc không xác định được cha, mẹ; người chưa thành niên có cha, mẹ nhưng cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; cha, mẹ đều bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con; cha, mẹ đều không có điều kiện chăm sóc, giáo dục con và có yêu cầu người giám hộ) Người giám hộ của người chưa thành niên bao gồm những người theo thứ tự sau đây: người giám hộ đương nhiên theo quy định tại Điều 52 BLDS năm 2015; người giám hộ
do UBND cấp xã nơi cư trú của người được giám hộ có trách nhiệm cử người giám hộ và người giám hộ do Toà án chỉ định khi có tranh chấp giữa những người giám hộ quy định tại Điều 52 BLDS năm 2015 về người giám hộ hoặc tranh chấp về việc cử người giám hộ (Điều 54 BLDS năm 2015)
+ Người đại diện theo pháp luật của người mất năng lực hành vi dân sự là người giám hộ Theo quy định của BLDS năm 2015 thì người giám hộ của người bị mất năng lực hành vi dân sự bao gồm những người theo thứ tự sau đây: người giám hộ (cá nhân, pháp nhân) do chính người bị tuyên bố chọn khi có năng lực hành vi dân sự đầy đủ (khoản 2 Điều 48 BLDS); người giám hộ đương nhiên theo quy định tại Điều 53 BLDS năm 2015; người giám hộ do UBND cấp xã nơi cư trú của người được giám hộ có trách nhiệm cử người giám hộ và người giám hộ do Tòa án chỉ định khi có tranh chấp giữa những người giám hộ quy định tại Điều 53 BLDS năm 2015 về người giám hộ hoặc tranh chấp về việc cử người giám hộ (Điều 54 BLDS năm 2015)
+ Người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự do Tòa án chỉ định trong quyết định tuyên bố người đó bị hạn chế năng lực hành vi dân sự + Người đại diện theo pháp luật của người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi của mình là người giám hộ được Tòa án chỉ định trong quyết định tuyên bố người
có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi Theo quy định tại khoản 4 Điều 54 BLDS năm 2015 thì người giám hộ được Tòa án chỉ định bao gồm những người theo thứ tự sau: người giám hộ do chính người bị tuyên bố chọn khi có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; người giám hộ do Tòa án chỉ định trong người giám hộ đương nhiên; người giám hộ do Tòa án chỉ định hoặc đề nghị một pháp nhân thực hiện việc giám hộ
- Đương sự là cá nhân cần được bảo vệ trong các vụ án về hôn nhân và gia đình theo
Trang 23quy định tại khoản 5 Điều 84, khoản 3 Điều 102, khoản 2 Điều 119, khoản 2 Điều 51 LHN&GĐ năm 2014 thì các chủ thể sau đây có quyền khởi kiện:
+ Người thân thích, cơ quan quản lý Nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý Nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
+ Cha, mẹ, con, người giám hộ, cơ quan quản lý Nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý Nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam có quyền yêu cầu Tòa án xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự; xác định con cho cha, mẹ chưa thành niên hoặc mất năng lực hành vi dân sự trong các trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 101 của LHN&GĐ năm 2014
+ Người thân thích, cơ quan quản lý Nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý Nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam có quyền yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó
+ Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ
- Đương sự là tập thể người lao động trong vụ án lao động thì theo khoản 3 Điều 85, khoản 2 Điều 187 BLTTDS năm 2015 tổ chức đại diện tập thể lao động (công đoàn cơ sở
và tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp) là người đại diện theo pháp luật cho tập thể người lao động khởi kiện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tập thể người lao động hoặc tổ chức đại diện tập thể lao động khởi kiện khi được người lao động uỷ quyền theo quy định của pháp luật
- Đương sự là người tiêu dùng thì theo quy định tại khoản 3 Điều 187 BLTTDS năm
2015 thì tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có quyền đại diện cho người tiêu dùng khởi kiện bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
(iii) Nếu khách hàng thuộc chủ thể khởi kiện để bảo vệ lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng thì cần tư vấn cho khách hàng người thực hiện quyền khởi kiện như sau:
- Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng tự mình thực hiện quyền khởi kiện vì lợi ích công cộng theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng
- Cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách hoặc theo quy định của pháp luật Trong trường hợp này
Trang 24phải là cơ quan, tổ chức có những nhiệm vụ, quyền hạn trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước, quản lý xã hội về một lĩnh vực nhất định và lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước cần yêu cầu Toà án bảo vệ phải thuộc lĩnh vực do cơ quan, tổ chức đó phụ trách Chẳng hạn, cơ quan Tài nguyên và Môi trường thực hiện quyền khởi kiện vụ án dân
sự để yêu cầu Toà án buộc cá nhân, cơ quan, tổ chức có hành vi gây ô nhiễm môi trường phải bồi thường thiệt hại, khắc phục sự cố gây ô nhiễm môi trường công cộng
2.2 Điều kiện về thẩm quyền giải quyết của Toà án
Các chủ thể có quyền khởi kiện chỉ được khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự đối với những vụ án thuộc thẩm quyền dân sự theo loại việc của Toà án Do đó, người tư vấn cần phải xác định tranh chấp mà khách hàng muốn giải quyết tại Toà án theo thủ tục tố tụng dân sự có thuộc các trường hợp quy định tại Điều 26,
28, 30, 32 BLTTDS năm 2015 hay không? Đối với những tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác (như UBND, trọng tài thương mại) hay thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo thủ tục khác như thủ tục tố tụng hình sự, tố tụng hành chính, thủ tục tuyên bố phá sản thì người tư vấn cần giải thích cho khách hàng để họ yêu cầu giải quyết ở các cơ quan, tổ chức đó hoặc yêu cầu giải quyết theo thủ tục khác tại Toà
án
Ví dụ 6: Công ty A và công ty TNHH B ký kết hợp đồng mua bán thuốc tân dược
Trong hợp đồng có thoả thuận nếu sau này xẩy ra tranh chấp sẽ giải quyết tại trọng tài thương mại Việt Nam Sau đó giữa hai công ty xẩy ra tranh chấp về việc công ty B nhận
đủ số thuốc do công ty A chuyển giao nhưng không trả hết tiền mà còn nợ công ty A một
tỷ đồng Công ty A muốn khởi kiện ra Toà án đòi công ty B trả cho mình số tiền còn thiếu theo hợp đồng đã ký kết Vậy, Công ty A có thể khởi kiện ra Toà án để yêu cầu giải quyết tranh chấp trên theo thủ tục tố tụng dân sự không?
Trong tình huống này người tư vấn cần phải xem xét thật kỹ hợp đồng ký kết giữa các bên để xác định thoả thuận về việc giải quyết tranh chấp ở trọng tài thương mại có hiệu lực không? hay thuộc một trong các trường hợp bị tuyên vô hiệu theo quy định tại Điều 18 Luật trọng tài thương mại năm 2010 Trong trường hợp thoả thuận trọng tài hợp pháp và có thể thực hiện được thì cần giải thích cho công ty A biết không thể khởi kiện ra Toà án để yêu cầu giải quyết tranh chấp trên theo thủ tục tố tụng dân sự mà phải yêu cầu giải quyết ở trọng tài thương mại Nếu thoả thuận giải quyết ở trọng tài là vô hiệu hoặc không thể thực hiện được thì người tư vấn cần hướng dẫn cho đương sự khởi kiện ra Toà
án theo thủ tục tố tụng dân sự
2.3 Điều kiện về việc vụ án chưa được giải quyết bằng một bản án, quyết định đã
có hiệu lực pháp luật của Toà án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của cơ quan
Trang 25nhà nước có thẩm quyền trừ trường hợp pháp luật có quy định khác
Về nguyên tắc vụ án chỉ được Toà án thụ lý giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự khi chưa được giải quyết ở bất kỳ một cơ quan, tổ chức nào Do đó, nếu tranh chấp mà khách hàng muốn khởi kiện ra Toà án đã được giải quyết bằng một bản án, quyết định đã
có hiệu lực pháp luật của Toà án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền có hiệu lực pháp luật thì không được khởi kiện ra Toà án nữa Tuy nhiên, nếu tranh chấp thuộc các trường hợp được quy định tại khoản 3 Điều 192, điểm c khoản 1 Điều 217 năm 2015 thì họ vẫn có quyền khởi kiện lại Đó là:
- Bản án, quyết định của Toà án bác yêu cầu ly hôn;
- Yêu cầu thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại, yêu cầu thay đổi người quản lý tài sản, thay đổi người quản lý di sản, thay đổi người giám hộ hoặc vụ án đòi tài sản, đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà, đòi quyền sử dụng đất cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà trước đó Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu mà theo quy định của pháp luật được quyền khởi kiện lại;
- Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đã có hiệu lực pháp luật trong trường hợp người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan
Ví dụ 7: ông A có 2 người con là C, D Ông A có một mảnh đất diện tích là 500m 2
tại huyện N tỉnh M hiện đang do anh C quản lý Ông A chết không để lại di chúc Các con
là C, D tranh chấp với nhau về việc chia di sản thừa kế D khởi kiện C ra Toà án huyện N yêu cầu chia dia sản thừa kế của ông A Bản án dân sự sơ thẩm số 96/DS-ST/2015 ngày 15/1/2015 của Toà án nhân huyện N quyết định ông D được hưởng thừa kế tài sản của ông A là ½ quyền sử dụng mảnh đất nói trên Ngày 30/3/2021 ông D có yêu cầu anh C trả lại phần đất theo bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật nhưng anh C không đồng ý trả lại
Dó đó, Ông D đã khởi kiện ra Toà án huyện N yêu cầu buộc ông C trả lại phần đất theo bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật Ông D có quyền khởi kiện hay không?
Theo quy định của pháp luật thì quyền sử dụng đất của ông D đối với đất tranh chấp
đã được xác định tại bản án dân sự sơ thẩm số 96/DS-ST/2015 ngày 15/1/2015 của Toà án
nhân huyện N Tòa án không được giải quyết lại quan hệ chia thừa kế đối với mảnh đất
này, nhưng kiện đòi lại tài sản lại là quan hệ pháp luật khác Nếu còn thời hiệu thi hành án
thì ông D có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án cưỡng chế thực hiện giao đất theo bản án dân sự sơ thẩm số 96/DS-ST/2015 ngày 15/1/2015 của Toà án nhân huyện N Tuy nhiên,
nay đã hết thời hiệu yêu cầu thi hành án thì ông D có quyền khởi kiện đòi lại tài sản bằng
vụ án dân sự mới Trong trường hợp này, nếu không có căn cứ xác định ông D đã từ bỏ
Trang 26quyền tài sản thì phải chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông N
Tuy nhiên, khi xem xét vấn đề có được khởi kiện lại vụ án hay không thì người tư vấn cần lưu ý những trường hợp vụ án đã có bản án quyết định đã có hiệu lực pháp luật giải quyết tranh chấp nhưng đương sự lại muốn khởi kiện yêu cầu giải quyết một quan hệ pháp luật khác với các đương sự khác Trong trường hợp này nếu đối tượng tranh chấp đã được giải quyết trong một bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật thì người tư vấn cần giải thích cho đương sự là nên khiếu nại theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm chứ không nên khởi kiện ra Toà án thành một vụ án mới cho dù là khởi kiện khác quan hệ pháp luật cũng như là khác đương sự
Ví dụ 8: Chị A khởi kiện B yêu cầu ly hôn và giải quyết tranh chấp về tài sản chung
là một ngôi nhà diện tích 100m 2 tại huyện N tỉnh P theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên chị A và anh B Bản án sơ thẩm số 10/2017/DS-ST của Toà án huyện N đã quyết định chị A được sở hữu ½ căn nhà và anh B được sở hữu ½ căn nhà Tuy nhiên, sau khi bản án có hiệu lực pháp luật thì chị C khởi kiện ra Toà án đòi chị A và anh B trả lại căn nhà này do ngôi nhà đó nguồn gốc là của mẹ chị C là bà H, bà H có cho bà N thuê căn nhà này Sau đó, bà N đã làm thủ tục bán ngôi nhà lại cho chị A và anh B Vậy, chị C
có quyền khởi kiện ra Toà án yêu cầu buộc chị A và anh B trả lại căn nhà này hay không?
Trong trường hợp này, mấu chốt của vụ án này là nguồn gốc ngôi nhà tại huyện N tỉnh P thuộc quyền sở hữu của ai Có hai phương án để C lựa chọn:
- Phương án 1: Khi C cho rằng ngôi nhà này thuộc quyền sở hữu của bà H thì có nghĩa Toà án huyện N đã xác định không đúng tài sản chung của vợ chồng chị A và anh B
và việc chia cho chị A được sở hữu ½ căn nhà và anh B được sở hữu ½ căn nhà là không chính xác Do đó, để xác định xem Toà án cấp sơ thẩm có giải quyết vụ án không đúng với sự thật khách quan hay không thì bản án sơ thẩm số 10/2017/DS-ST của Toà án huyện N phải bị xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm Chị C sẽ khiếu nại đến những người có thẩm quyền để kháng nghị bản án sơ thẩm này theo thủ tục giám đốc thẩm
- Phương án 2: Khi chị C cho rằng ngôi nhà là của bà H mà không phải thuộc quyền
sở hữu của A, B thì C có quyền khởi kiện đòi lại tài sản Toà án có thể chấp nhận yêu cầu khởi kiện của C buộc chị A và anh B trả lại căn nhà đó cho C
Tuy nhiên, với phương án 2 dẫn đến tình trạng cả hai bản án đều có hiệu lực pháp luật cùng giải quyết về một đối tượng tranh chấp là căn nhà Cả hai bản án này đều có hiệu lực thi hành nên cơ quan thi hành án dân sự sẽ không biết thi hành theo bản án nào
Do đó, để giải quyết triệt để tranh chấp này, xác định lại nguồn gốc của căn nhà thì người
tư vấn nên giải thích cho khách hàng lựa chọn phương án 1 là không khởi kiện vụ án khác
Trang 27mà khiếu nại theo thủ tục giám đốc thẩm
2.4 Các điều kiện khác
Mặc dù điều kiện để cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện ra Toà án theo thủ tục tố tụng dân sự chỉ cần xem xét điều kiện về chủ thể khởi kiện, về đúng thẩm quyền dân sự theo loại việc và vụ án chưa được giải quyết bằng một bản án, quyết định đã
có hiệu lực pháp luật của Toà án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Tuy nhiên, để Toà án chấp nhận đơn khởi kiện của khách hàng và vào sổ thụ lý vụ án mà không bị trả lại đơn khởi kiện, chuyển đơn khởi kiện hay sau khi Toà án thụ lý vụ án thì vụ án bị đình chỉ giải quyết, chuyển vụ án thì người tư vấn cần giải thích cho khách hàng một số các điều kiện khác, cụ thể:
Thứ nhất, điều kiện mà pháp luật nội dung quy định
Đối với một số loại tranh chấp thì pháp luật có quy định về các điều kiện để cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước Do đó, khi cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện ra Toà án thì ngoài việc thoả mãn các điều kiện khởi kiện đã trình bày ở trên thì còn phải thoả mãn các điều kiện
mà pháp luật nội dung quy định thì Toà án mới được thụ lý vụ án Trong trường hợp người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa án khi còn thiếu một trong các điều kiện đó thì Toà
án sẽ căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 192 BLTTDS năm 2015 và Điều 3 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP để trả lại đơn khởi kiện
Do đó, người tư vấn cần giải thích cho khách hàng hiểu rõ nếu tranh chấp mà họ khởi kiện thuộc các trường hợp mà pháp luật quy định phải thoả mãn các điều kiện này mới được khởi kiện ra Toà án thì cần thực hiện các điều kiện này trước Điều kiện mà pháp luật nội dung quy định bao gồm các trường hợp sau:
(i) Vụ án mà pháp luật quy định phải giải quyết ở các cơ quan khác trước khi khởi kiện ra Tòa án thì người khởi kiện chỉ được khởi kiện ra Toà án khi các cơ quan hữu quan không giải quyết trong thời hạn luật định hoặc đã giải quyết mà các bên không đồng ý với việc giải quyết của các cơ quan đó Theo quy định của pháp luật hiện hành những tranh chấp này bao gồm:
- Tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất: Điều 3 Nghị quyết
04/2017/NQ-HĐTP quy định “2 Đối với tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất mà chưa được
hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp theo quy định tại Điều 202 Luật Đất đai năm 2013 thì được xác định là chưa có đủ điều kiện khởi kiện quy
Trang 28định tại điểm b khoản 1 Điều 192 BLTTDS năm 2015” Do đó, đối với tranh chấp ai là
người có quyền sử dụng đất thì trước khi nộp đơn khởi kiện tại Toà án có thẩm quyền, các bên phải thực hiện hòa giải tại cơ sở Đây được xem là thủ tục bắt buộc trong tranh chấp
ai là người có quyền sử dụng đất và là điều kiện để Toà án thụ lý vụ án, nếu các bên không hòa giải tại cơ sở thì Toà án sẽ trả lại đơn khởi kiện theo quy định tại điểm b khoản
1 Điều 192 BLTTDS năm 2015
Tuy nhiên, người tư vấn cũng cần giải thích cho khách hàng hiểu là đối với các tranh chấp khác liên quan đến quyền sử dụng đất như: tranh chấp về giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất, tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất, chia tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất, thì thủ tục hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp không phải là điều kiện khởi kiện vụ án
- Tranh chấp lao động:
Điều 188 BLLĐ năm 2019 quy định:“Tranh chấp lao động cá nhân phải được giải
quyết thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động hoặc Toà án giải quyết, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải: Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động; Về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động; Giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động; Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y
tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế, về bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về việc làm, về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động; Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; Giữa người lao động thuê lại với người sử dụng lao động thuê lại” Như vậy, đối với các
tranh chấp lao động cá nhân trừ một số tranh chấp lao động cá nhân không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải thì thủ tục hoà giải do hoà giải viên lao động tiến hành là thủ tục bắt buộc trước khi khởi kiện ra Toà án hay trọng tài lao động Các bên chỉ được khởi kiện ra Toà án khi tranh chấp lao động cá nhân không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải hoặc trường hợp hết thời hạn hòa giải mà hòa giải viên lao động không tiến hành hòa giải hoặc trường hợp hòa giải không thành thì các bên tranh chấp có quyền lựa chọn yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết hoặc yêu cầu Toà án giải quyết Nếu các bên không tiến hành thủ tục hoà giải mà khởi kiện ra Toà án thì Toà án sẽ trả lại đơn khởi kiện Ngoài ra, tranh chấp lao động tập thể về quyền phải được giải quyết thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động hoặc Toà án giải quyết (Điều 191 BLLĐ năm 2019)
Trang 29- Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt
động quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án
Theo quy định tại khoản 8 Điều 46, khoản 2 Điều 52 Luật trách nhiệm bồi thường năm 2017 thì việc giải quyết bồi thường trước tiên được giải quyết ở cơ quan có trách nhiệm bồi thường Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết bồi thường mà người yêu cầu bồi thường không đồng ý với quyết định đó hoặc kể từ ngày
có biên bản kết quả thương lượng thành mà cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công
vụ gây thiệt hại không ra quyết định giải quyết bồi thường hoặc kể từ ngày có biên bản kết quả thương lượng không thành thì có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu bồi thường
- Tranh chấp thương mại:
Theo quy định tại Điều 318 Luật Thương mại năm 2005 thì trừ trường hợp quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 237 của Luật thương mại năm 2015, thời hạn khiếu nại do các bên thỏa thuận, nếu các bên không có thỏa thuận thì thời hạn khiếu nại được quy định như sau: ba tháng, kể từ ngày giao hàng đối với khiếu nại về số lượng hàng hóa; sáu tháng, kể
từ ngày giao hàng đối với khiếu nại về chất lượng hàng hóa; trong trường hợp hàng hóa
có bảo hành thì thời hạn khiếu nại là ba tháng, kể từ ngày hết thời hạn bảo hành; chín tháng, kể từ ngày bên vi phạm phải hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc trong trường hợp có bảo hành thì kể từ ngày hết thời hạn bảo hành đối với khiếu nại về các vi phạm khác Như vậy, trước khi khởi kiện đến Tòa án, đương sự phải thực hiện thủ tục khiếu nại thương mại
- Tranh chấp về tài nguyên nước:
Theo quy định tại Điều 76 Luật tài nguyên nước năm 2012 thì đối với tranh chấp về
khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước thuộc trường hợp không phải xin cấp giấy phép thì UBND cấp huyện có trách nhiệm giải quyết Trường hợp không đồng ý với quyết định giải quyết tranh chấp của UBND cấp huyện thì các bên tranh chấp có quyền khiếu nại đến UBND cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Toà án theo quy định của pháp luật Như vậy, trước khi khởi kiện đến Toà án yêu cầu giải quyết tranh chấp này thì đương sự phải yêu cầu UBND cấp huyện giải quyết trước Toà án chỉ thụ lý khi đương sự
không đồng ý với quyết định giải quyết của UBND cấp huyện
Đối với tranh chấp phát sinh trong việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước đối với các trường hợp thuộc thẩm quyền cấp giấy phép của UBND cấp tỉnh thì UBND cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết Trường hợp không đồng ý với quyết định giải quyết tranh chấp thì các bên tranh chấp có quyền khởi kiện tại Toà án theo
Trang 30quy định của pháp luật Như vậy, đối với các tranh chấp này thì đương sự bắt buộc phải giải quyết ở UBND cấp tỉnh Toà án chỉ thụ lý giải quyết khi các đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết của UBND cấp tỉnh
Đối với tranh chấp phát sinh trong việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước đối với các trường hợp thuộc thẩm quyền cấp giấy phép của Bộ Tài nguyên và Môi trường thì Bộ Tài nguyên và Môi trường có thẩm quyền giải quyết Trường hợp không đồng ý với quyết định giải quyết tranh chấp thì các bên tranh chấp có quyền khởi kiện tại Toà án theo quy định của pháp luật Như vậy, đối với các tranh chấp này thì đương sự bắt buộc phải giải quyết ở Bộ Tài nguyên và Môi trường Toà án chỉ thụ
lý giải quyết khi các đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết của Bộ Tài nguyên
và Môi trường
- Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng thuê tài sản: theo khoản 2 Điều 474 BLDS năm
2015 thì trường hợp các bên không thỏa thuận về thời hạn thuê và thời hạn thuê không thể xác định được theo mục đích thuê thì mỗi bên có quyền chấm dứt hợp đồng bất cứ lúc nào, nhưng phải thông báo cho bên kia trước một thời gian hợp lý Như vậy, nếu đương
sự khởi kiện đòi lại tài sản cho thuê mà chưa thực hiện việc thông báo cho bên kia thì cũng được coi là chưa đủ điều kiện khởi kiện và Toà án trả lại đơn khởi kiện
(ii) Các vụ án thuộc trường hợp hạn chế quyền khởi kiện thì Toà án sẽ không được thụ lý Đây là trường hợp đương sự có đầy đủ quyền khởi kiện theo quy định của pháp luật nhưng trong một thời điểm nhất định, quyền này bị hạn chế và chỉ khi hết thời gian bị hạn chế quyền thì đương sự mới được khởi kiện và Toà án lúc này mới được thụ lý Ví
dụ: theo khoản 3 Điều 51 Luật HN&GĐ năm 2014:“Chồng không có quyền yêu cầu ly
hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi”
Trong khoảng thời gian này, người chồng sẽ không có quyền yêu cầu ly hôn, do đó Toà
án sẽ không được thụ lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ và trẻ em Như vậy, khi tư vấn cho khách hàng thì người tư vấn cần xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và căn cứ vào pháp luật nội dung để xác định xem là tranh chấp đó có phải thoả mãn các điều kiện khởi kiện mà pháp luật nội dung quy định hay không để giải thích cho đương sự trước khi khởi kiện đến Toà án
Thứ hai, điều kiện về khởi kiện đúng thẩm quyền các cấp và thẩm quyền theo lãnh thổ
Điều kiện về khởi kiện đúng thẩm quyền các cấp và thẩm quyền theo lãnh thổ là căn
cứ để Toà án nhận đơn khởi kiện xem xét có thụ lý vụ án đó hay không? Vì vậy, khi tư vấn khởi kiện cho đương sự thì ngoài việc xác định tranh chấp đó có thuộc thẩm quyền
Trang 31dân sự của Toà án theo loại việc thì người tư vấn cũng cần xác định luôn cho khách hàng
về Toà án mà họ sẽ nộp đơn khởi kiện
(i) Về thẩm quyền các cấp:
Người tư vấn cần xác định giúp khách hàng là tranh chấp mà khách hàng muốn khởi kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án cấp huyện (Điều 35 BLTTDS năm 2015) hay thuộc thẩm quyền của Toà án cấp tỉnh (Điều 37 BLTTDS năm 2015)
Theo quy định tại Điều 35 BLTTDS năm 2015 thì Toà án cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm các tranh chấp sau:
- Tranh chấp về dân sự quy định tại Điều 26 BLTTDS năm 2015 trừ tranh chấp quy định tại khoản 7 Điều 26 BLTTDS năm 2015
- Tranh chấp về hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 28 BLTTDS năm 2015
- Tranh chấp về lao động quy định tại Điều 32 BLTTDS năm 2015
- Tranh chấp về kinh doanh thương mại quy định tại khoản 1 Điều 30 BLTTDS năm
2015
- Các tranh chấp có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài, bao gồm:
+ Các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, cha mẹ và con, về nhận cha,
mẹ, con, nuôi con nuôi và giám hộ giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam theo quy định của BLTTDS năm 2015 và các quy định khác của pháp luật Việt Nam (khoản 4 Điều
35 BLTTDS năm 2015)
+ Các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động mà có đương sự là: (i) người nước ngoài định cư, làm ăn, học tập, công tác ở Việt Nam nhưng có mặt tại Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý vụ án dân sự; (ii) cơ quan,
tổ chức không phân biệt là cơ quan, tổ chức nước ngoài hay cơ quan, tổ chức Việt Nam
mà có trụ sở, chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý vụ
án1
Ví dụ 9: Tổ chức ActionAid International (gọi tắt là AAI) được thành lập theo pháp
luật Hà Lan và có trụ sở tại Nam Phi Tổ chức AAI thành lập văn phòng đại diện tại Hà Nội, Việt nam (gọi tắt là AAV) AAV đã được Bộ ngoại giao cấp giấy đăng ký lập văn
1 Để giải thích cho quy định đương sự, tài sản ở nước ngoài cần tham khảo Điều 7 Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2012 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ nhất “Những quy định chung” của BLTTDS đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của BLTTDS
Trang 32phòng đại diện của tổ chức AAI tại Hà Nội, Việt Nam Ngày 2/1/2004 chị Th ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn với văn phòng đại diện của AAI có trụ sở tại quận Hai
Bà Trưng, Hà Nội với vị trí cán bộ trợ lý hành chính Sau đó, năm 2016 văn phòng đại diện của tổ chức AAI tại Hà Nội thực hiện tái cơ cấu tổ chức nên sắp xếp cho chị Th công việc mới là cán bộ hỗ trợ hành chính Chị Th không đồng ý nên văn phòng đại diện của tổ chức AAI đã ra quyết định buộc thôi việc số AAV/HROD/INT/2016-39 ngày 28/10/2016 đối với chị Th với lý do “thực hiện tái cơ cấu tổ chức” Chị Th muốn gửi đơn khởi kiện đến Toà án nhân yêu cầu Toà án huỷ quyết định buộc thôi việc của văn phòng đại diện của tổ chức AAI và giải quyết các quyền lợi, chế độ theo quy định của BLLĐ năm 2012 Trong trường hợp này chị Th gửi đơn đến Toà án cấp nào?
Trước tiên cần xác định đây là tranh chấp về trường hợp người lao động bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động Do đó, theo quy định tại khoản 1 Điều 32 BLTTDS năm 2015 thì tranh chấp lao động này thuộc thẩm quyền dân sự của Toà án theo loại việc
và không bắt buộc phải qua hoà giải của hoà giải viên lao động
Về thẩm quyền theo cấp thì AAI là tổ chức nước ngoài, vậy có thể hiểu là đây trường hợp đương sự ở nước ngoài theo quy định tại khoản 3 Điều 35 BLTTDS năm 2015 hay không? Để hiểu về trường hợp thế nào là đương sự ở nước ngoài thì người tư vấn cần giải thích cho chị Th hiểu rằng cần tham khảo quy định tại Điều 7 Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP Theo đó, nếu đương sự là cơ quan, tổ chức không phân biệt là cơ quan, tổ chức nước ngoài hay cơ quan, tổ chức Việt Nam mà không có trụ sở, chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý vụ án thì được hiểu là đương
sự ở nước ngoài và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án cấp tỉnh Trong tranh chấp này, AAI là tổ chức nước ngoài có trụ sở văn phòng đại diện là AAV tại quận Hai
Bà Trưng, Hà Nội nên không đương coi là đương sự ở nước ngoài và chị Th khởi kiện ra Toà án cấp huyện
Theo quy định tại Điều 37 BLTTDS năm 2015 thì Toà án cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm các tranh chấp sau đây:
- Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do áp dụng biện pháp ngăn chặn hành chính không đúng theo quy định của pháp luật về cạnh tranh, trừ trường hợp yêu cầu bồi thường thiệt hại được giải quyết trong vụ án hành chính (Khoản 7 Điều 26 BLTTDS năm 2015)
- Tranh chấp về kinh doanh thương mại quy định tại khoản 2, 3, 4, 5 Điều 30 BLTTDS năm 2015: tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận; tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty; tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp
Trang 33giữa công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty; các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật
- Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động
mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 35 BLTTDS năm 2015
Đối với tranh chấp có đương sự ở nước ngoài thì người tư vấn cần lưu ý các trường hợp thuộc thẩm quyền của Toà án cấp tỉnh Đó là, (i) đương sự là người nước ngoài không định cư, làm ăn, học tập, công tác ở Việt Nam có mặt hoặc không có mặt tại Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý vụ án; (ii )đương sự là người Việt Nam định cư, làm ăn, học tập, công tác ở nước ngoài có mặt hoặc không có mặt tại Việt Nam vào thời điểm Tòa
án thụ lý vụ án; (iii) đương sự là người nước ngoài định cư, làm ăn, học tập, công tác ở Việt Nam nhưng không có mặt tại Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý vụ án; (iv) đương sự là người Việt Nam định cư, làm ăn, học tập, công tác ở Việt Nam nhưng không
có mặt tại Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý vụ việc dân sự; (v) đương sự là cơ quan,
tổ chức không phân biệt là cơ quan, tổ chức nước ngoài hay cơ quan, tổ chức Việt Nam
mà không có trụ sở, chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ
lý vụ án2
Ví dụ 10: Anh A là người Đức sang Việt Nam du lịch Khi đi chơi trên phố Tràng
Tiền, Hà Nội thì bị anh B đi ô tô đâm làm bị thương Anh A muốn khởi kiện ra Toà án để yêu cầu anh B bồi thường thiệt hại thì khởi kiện đến Toà án cấp nào?
+ Về thẩm quyền dân sự của Toà án theo loại việc: đây là tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được quy định tại khoản 6 Điều 26 BLTTDS năm 2015 Do đó, tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo thủ tục TTDS
+ Về thẩm quyền theo cấp: Anh A là người Đức đi du lịch tại Việt Nam có được coi
là đương sự ở nước ngoài theo khoản 3 Điều 35 BLTTDS năm 2015 không? Để hiểu về
2 Để giải thích cho quy định đương sự, tài sản ở nước ngoài cần tham khảo Điều 7 Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2012 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ nhất “Những quy định chung” của BLTTDS đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của BLTTDS
Trang 34trường hợp này thì người tư vấn cần giải thích cho anh A hiểu rằng cần tham khảo quy định tại Điều 7 Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP Theo đó, đương sự là người nước ngoài không định cư, làm ăn, học tập, công tác ở Việt Nam có mặt hoặc không có mặt tại Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý vụ án thì được hiểu là đương sự ở nước ngoài và tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án cấp tỉnh Trong tranh chấp này, anh A
là người nước ngoài không định cư, làm ăn, học tập, công tác ở Việt Nam nên dù anh A
có mặt hay không có mặt tại Việt Nam vào thời điểm Toà án thụ lý thì được coi là đương
sự ở nước ngoài nên anh A khởi kiện B ra Toà án thành phố Hà Nội để yêu cầu bồi thường thiệt hại
- Những vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân cấp huyện mà Toà
án nhân dân cấp tỉnh tự mình lấy lên để giải quyết khi xét thấy cần thiết hoặc theo đề nghị của Toà án nhân dân cấp huyện Mặc dù căn cứ này chưa có hướng dẫn giải thích cụ thể
là như thế nào là “xét thấy cần thiết” Tuy nhiên, thực tiễn xét xử cho thấy có những trường hợp Toà án cấp tỉnh lấy lên để xét xử theo yêu cầu của đương sự3 Do đó, người tư vấn có thể giải thích cho đương sự thấy nếu khởi kiện ra Toà án cấp huyện mà vụ án sẽ không được giải quyết khách quan thì làm đơn yêu cầu cầu Toà án cấp tỉnh lấy vụ án đó lên để xét xử
- Đương sự khởi kiện ra Toà án yêu cầu giải quyết tranh chấp dân sự đồng thời có yêu cầu huỷ quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức theo quy định tại khoản 4 Điều 34 BLTTDS năm 2015 Đây là trường hợp do yêu cầu huỷ quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức (chủ yếu là yêu cầu huỷ quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án cấp tỉnh nên người tư vấn cần căn cứ vào Điều 32 Luật
tố tụng hành chính năm 2015, Giải đáp số 02/2016/GĐ-TANDTC ngày 19/9/2016 và Giải đáp số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017 của Toà án nhân dân tối cao xác định yêu cầu này được giải quyết ở Toà án cấp tỉnh Tuy nhiên, hiện nay pháp luật chưa hướng dẫn
cụ thể là đương sự sẽ gửi đơn khởi kiện về cả hai vấn đề này đến Toà án cấp tỉnh hay chỉ khởi kiện việc huỷ quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến Toà án cấp tỉnh
(ii )Về thẩm quyền theo lãnh thổ và những trường hợp nguyên đơn được lựa chọn
Trang 35thuận của các bên và nơi có bất động sản Theo đó, người tư vấn cần xác định đối tượng tranh chấp có phải là về bất động sản không để xác định Toà án có thẩm quyền giải quyết,
cụ thể:
- Nếu vụ án có đối tượng tranh chấp là bất động sản thì Toà án có thẩm quyền giải quyết chỉ là Toà án nơi có bất động sản theo điểm c khoản 1 Điều 39 BLTTDS năm 2015 Nếu tranh chấp có nhiều bất động sản có ở nhiều địa phương khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi có một trong các bất động sản giải quyết theo điểm i khoản 1 Điều
+ Nếu các đương sự không thoả thuận được Toà án có thẩm quyền giải quyết thì Toà
án có thẩm quyền giải quyết là Toà án theo sự lựa chọn của nguyên đơn Căn cứ vào Điều
40 BLTTDS năm 2015 thì người tư vấn cần xác định tranh chấp mà khách hàng muốn khởi kiện ra Toà án để giải quyết có thuộc trường hợp được lựa chọn Toà án có thẩm quyền giải quyết hay không? Nếu tranh chấp thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 40 BLTTDS năm 2015 thì khách hàng có thể khởi kiện ra Toà án này
+ Nếu tranh chấp không thuộc trường hợp đương sự được lựa chọn Toà án thì căn
cứ vào điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS năm 2015 Toà án có thẩm quyền giải quyết là Toà án nơi cư trú, làm việc hoặc có trụ sở của bị đơn
- Nếu vụ án vừa có đối tượng tranh chấp là bất động sản, vừa có đối tượng tranh chấp không phải là bất động sản thì người tư vấn cần giải thích cho khách hàng là tranh chấp nào tranh chấp chính để căn cứ vào đó xác định Toà án có thẩm quyền giải quyết
Ví dụ 11: Anh A khởi kiện chị B yêu cầu xin ly hôn và giải quyết tranh chấp tài sản
chung là quyền sử dung đất A cư trú huyện N, B cư trú huyện M, đất ở tại huyện K Anh
A sẽ khởi kiện ra Toà án nào?
+ Xác định thẩm quyền dân sự của Toà án theo loại việc: căn cứ vào khoản 1 Điều
Trang 3628 BLTTDS năm 2015 thì đây là tranh chấp về ly hôn, chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn Do đó, tranh chấp này là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền loại việc của Toà án và được giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự
+ Xác định thẩm quyền các cấp của Toà án: căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 BLTTDS năm 2015 thì tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền của Toà án cấp huyện
+ Xác định thẩm quyền theo lãnh thổ: đây là vụ án ly hôn, chia tài sản chung của vợ chồng trong đó yêu cầu ly hôn là yêu cầu chính, yêu cầu giải quyết tranh chấp về tài sản chung là yêu cầu kéo theo của yêu cầu ly hôn nên căn cứ vào yêu cầu ly hôn để xác định thẩm quyền theo lãnh thổ Do đó căn cứ vào Điều 39, 40 BLTTDS năm 2015 thì người tư vấn cần xác định các Toà án sau đây có thẩm quyền giải quyết4:
+ Nếu A, B thoả thuận được về Toà án có thẩm quyền theo điểm b khoản 1 Điều 39 BLTTDS năm 2015 thì Toà án có thẩm quyền giải quyết là Toà án nơi cư trú của nguyên đơn tức là Toà án huyện N Do đó, anh A khởi kiện ra Toà án huyện N để yêu cầu ly hôn
và chia tài sản chung
+ Nếu A, B không có thoả thuận về Toà án có thẩm quyền thì Toà án có thẩm quyền
là Toà án nơi cư trú của bị đơn theo điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS năm 2015 Do đó, anh A khởi kiện ra Toà án huyện M để yêu cầu ly hôn và chia tài sản chung
Thứ ba, điều kiện về thời hiệu khởi kiện vẫn còn
Theo quy định tại Điều 192 BLTTDS năm 2015 thì thời hiệu khởi kiện không phải
là một trong các điều kiện để Toà án xem xét việc thụ lý vụ án Tuy nhiên, sau khi Toà án thụ lý, nếu các đương sự có yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện trước khi Toà án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ án thì Toà án phải xem xét áp dụng quy định về thời hiệu khởi kiện (Điều 185 BLTTDS năm 2015) Trong trường hợp thời hiệu khởi kiện
đã hết thì Toà án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án theo điểm e khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015 Do đó, để tránh việc vụ án bị đình chỉ sau khi Toà án thụ lý vụ án cũng như đương sự mất thời gian theo đuổi vụ kiện thì trước khi khởi kiện, người tư vấn cần xác định xem thời hiệu khởi kiện còn hay hết Nếu thời hiệu khởi kiện đã hết thì giải thích để khách hàng không khởi kiện nữa Việc xác định thời hiệu khởi kiện căn cứ vào quy định BLDS và các văn bản pháp luật chuyên ngành Tuy nhiên, cần lưu ý các trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện và thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện
4 TANDTC (2017), Giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/04/2017 của TANDTC
Trang 37theo quy định tại Điều 155, 156 BLDS năm 20155
Ví dụ 12: Ngày 7/6/2010, A và B có ký kết hợp đồng đặt cọc cho việc giao kết hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, trong đó A chuyển nhượng cho B quyền sử dụng mảnh đất diện tích 50m 2 tại huyện V tỉnh HY với giá chuyển nhượng là 100 triệu đồng Theo thoả thuận đặt cọc, B đặt cọc cho A là 25 triệu đồng tiền cọc vào ngày 7/6/2010 Nếu hết thời hạn 30 ngày kể từ ngày 7/6/2010 mà B không trả nốt số tiền còn lại thì B mất tiền cọc Nếu A không muốn chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho B thì A bị phạt cọc gấp đôi số tiền mà B đã đặt cọc Sau đó, A không muốn chuyển nhượng quyền sử dụng mảnh đất cho B nhưng không trả tiền cọc cũng như tiền phạt cọc theo thoả thuận giữa hai bên B đã đòi nhiều lần nhưng A không trả Ngày 26/11/2016, B muốn nộp đơn khởi kiện
ra Tòa án huyện V để buộc A trả lại 25 triệu đồng tiền đặt cọc và 50 triệu đồng tiền phạt cọc do vi phạm thỏa thuận đặt cọc ngày 07/6/2010 Tranh chấp này có còn thời hiệu khởi kiện không?
Để xác định thời hiệu khởi kiện trong trường hợp còn hay hết cần căn cứ vào quy định tại điểm a khoản 3 Điều 159 của BLTTDS năm 2005 và điểm b khoản 3 Điều 23 Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP: “Tranh chấp về quyền sở hữu tài sản, về đòi lại tài sản, đòi lại quyền sử dụng đất do người khác quản lý, chiếm hữu thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện, Tòa án thụ lý giải quyết theo thủ tục chung” Do đó, yêu cầu của anh B đòi lại 25 triệu tiền cọc sẽ không áp dụng thời hiệu khởi kiện vì đây là yêu cầu đòi lại tài sản Đối với yêu cầu đòi 50 triệu tiền phạt cọc được hiểu là tranh chấp phát sinh từ hợp đồng đặt cọc nên áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với hợp đồng dân sự theo Điều 427 BLDS năm 2005 Theo đó, thời hiệu khởi kiện đối với tranh chấp hợp đồng dân sự là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác bị xâm phạm Như vậy, yêu cầu đòi lại tiền phạt cọc của B đã hết thời hiệu khởi kiện
3 Kỹ năng tư vấn và trợ giúp đương sự chuẩn bị hồ sơ khởi kiện vụ án dân sự
Sau khi xác định khách hàng có đủ điều kiện để khởi kiện vụ án dân sự ra Toà án thì người tư vấn cần giúp khách hàng chuẩn bị hồ sơ khởi kiện Hồ sơ khởi kiện là hồ sơ mà nguyên đơn nộp cho Toà án khi khởi kiện vụ án Việc lập hồ sơ khởi kiện nhằm tập hợp một cách có hệ thống các tài liệu, chứng cứ và những vấn đề liên quan đến vụ án mà
5
Tham khảo hướng dẫn áp dụng thời hiệu khởi kiện theo Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ nhất “Những quy định chung” của BLTTDS đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS; Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/05/2017 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định tại Khoản 2 và khoản 3 Điều 192 BLTTDS năm 2015 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ
án và Giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ số 01/2018/GĐ-TANDTC ngày 05/01/2018 của TANDTC
Trang 38nguyên đơn đang yêu cầu Toà án xem xét, giải quyết Hồ sơ khởi kiện giúp đưa các thông tin đích thực của nguyên đơn đến với các thành viên của Hội đồng xét xử để làm sáng tỏ yêu cầu của mình6
Hồ sơ khởi kiện bao gồm:
- Đơn khởi kiện
- Các tài liệu, chứng cứ chứng minh người khởi kiện có đủ điều kiện để khởi kiện ra Toà án:
+ Tài liệu, chứng cứ chứng minh người khởi kiện có đủ tư cách chủ thể
+ Tài liệu, chứng cứ chứng minh người khởi kiện có quyền lợi bị xâm phạm hoặc tranh chấp
- Tài liệu, chứng cứ chứng minh tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án Khi chuẩn bị hồ sơ cho khách hàng, người tư vấn cần đảm bảo rằng việc khởi kiện của đương sự là có đủ điều kiện khởi kiện và được Toà án thụ lý Các tài liệu, chứng cứ nộp kèm theo đơn khởi kiện phải đảm bảo tính đầy đủ và tính hợp pháp, phù hợp với hình thức và các nội dung, tình tiết, yêu cầu trình bày trong đơn khởi kiện7 Do đó, khi chuẩn
bị hồ sơ khởi kiện cho khách hàng, người tư vấn thực hiện những hoạt động sau:
Một là, tư vấn và trợ giúp khách hàng soạn thảo đơn khởi kiện
Đơn khởi kiện là hình thức thể hiện ý chí của người khởi kiện cũng như yêu cầu của
họ đến Toà án có thẩm quyền để Toà án căn cứ vào đó xác định phạm vi xét xử và giải quyết các yêu cầu của người khởi kiện Điều kiện về hình thức khởi kiện là một trong các điều kiện để Toà án thụ lý vụ án dân sự nên đơn khởi kiện phải thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về nội dung và hình thức được quy định tại khoản 4 Điều 189 BLTTDS năm 2015
Thứ nhất, về nội dung của đơn khởi kiện thì cần phải trình bày đầy đủ các nội dung
theo quy định tại khoản 4 Điều 189 BLTTDS năm 2015, cụ thể:
- Ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện;
- Tên Tòa án nhận đơn khởi kiện;
- Tên, nơi cư trú, làm việc của người khởi kiện là cá nhân hoặc trụ sở của người khởi kiện là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có) Trường hợp các bên thỏa thuận địa chỉ để Tòa án liên hệ thì ghi rõ địa chỉ đó;
6 Học viện Tư pháp (2007), Giáo trình Kỹ năng giải quyết vụ việc dân sự, Nxb Công an Nhân dân, Hà Nội, tr.101
7
Học viện Tư pháp (2016), Giáo trình Kỹ năng cơ bản của Luật sư tham gia giải quyết các vụ việc dân sự, Nxb
Công an Nhân dân, Hà Nội, tr 36, 37
Trang 39- Tên, nơi cư trú, làm việc của người có quyền và lợi ích được bảo vệ là cá nhân hoặc trụ sở của người có quyền và lợi ích được bảo vệ là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có);
- Tên, nơi cư trú, làm việc của người bị kiện là cá nhân hoặc trụ sở của người bị kiện
là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có) Trường hợp không
rõ nơi cư trú, làm việc hoặc trụ sở của người bị kiện thì ghi rõ địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở cuối cùng của người bị kiện;
- Tên, nơi cư trú, làm việc của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cá nhân hoặc trụ sở của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có) Trường hợp không rõ nơi cư trú, làm việc hoặc trụ sở của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì ghi rõ địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi
có trụ sở cuối cùng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
- Quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm; những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết đối với người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
- Họ, tên, địa chỉ của người làm chứng (nếu có);
- Danh mục tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện
Khi trợ giúp cho khách hàng viết đơn khởi kiện hoặc viết hộ đơn khởi kiện cho khách hàng thì người tư vấn cần lưu ý một số điểm sau:
(i) Cần ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở của người khởi kiện, người bị kiện và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và phải là địa chỉ liên lạc để chứng minh Toà án mà họ gửi đơn khởi kiện là đúng thẩm quyền cũng như thuận tiện cho việc thông báo các văn bản giấy tờ của Toà án
Về việc ghi đầy đủ và đúng địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì người tư vấn cần tuân theo đúng quy định tại Điều 5 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP, cụ thể:
+ Nếu người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là công dân Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vẫn còn quốc tịch Việt Nam trở về Việt Nam sinh sống thì nơi cư trú của họ là địa chỉ chỗ ở hợp pháp mà người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thường trú hoặc tạm trú hoặc đang sinh sống theo quy định của Luật
cư trú;
+ Nếu người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là người nước ngoài đang cư trú tại Việt Nam thì nơi cư trú của họ được xác định theo quy định của Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam;
Trang 40+ Nếu người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là người nước ngoài, người Việt Nam đang cư trú ở nước ngoài thì nơi cư trú của họ được xác định căn cứ vào tài liệu, chứng cứ do người khởi kiện cung cấp hoặc theo tài liệu, chứng cứ do cơ quan có thẩm quyền cấp, xác nhận;
+ Nếu người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cơ quan, tổ chức có quốc tịch Việt Nam thì địa chỉ của cơ quan, tổ chức được xác định là nơi cơ quan, tổ chức
đó có trụ sở chính hoặc chi nhánh theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc theo quy định của pháp luật
Trường hợp cơ quan, tổ chức có quốc tịch nước ngoài thì địa chỉ của cơ quan, tổ chức được xác định căn cứ vào tài liệu, chứng cứ do người khởi kiện cung cấp hoặc theo tài liệu, chứng cứ do cơ quan có thẩm quyền cấp, xác nhận
+ Người khởi kiện đã cung cấp địa chỉ “nơi cư trú, làm việc, hoặc nơi có trụ sở” của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cho Tòa án theo đúng quy định của pháp luật tại thời điểm nộp đơn khởi kiện mà được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp, xác nhận hoặc có căn cứ khác chứng minh rằng đó là địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì được coi là đã ghi đúng địa chỉ của người bị kiện, người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định BLTTDS năm 2015
+ Đối với địa chỉ “nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở cuối cùng” của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan quy định tại điểm đ, e khoản 4 Điều 189 BLTTDS năm 2015 là địa chỉ người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã từng cư trú, làm việc hoặc có trụ sở mà người khởi kiện biết được gần nhất tính đến thời điểm khởi kiện và được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp, xác nhận hoặc có căn cứ khác chứng minh
(ii) Về nội dung tranh chấp và yêu cầu của người khởi kiện thì người tư vấn cần đặc biệt chú trọng Phần nội dung tranh chấp trình bày rõ ràng, theo mốc thời gian để Toà án nắm được diễn biến của việc phát sinh tranh chấp Phần yêu cầu trình bày cụ thể, rõ ràng
để Toà án xác định phạm vi xét xử
Thứ hai, về hình thức đơn khởi kiện thì đơn khởi kiện phải tuân thủ theo đúng quy
định tại Điều 189 BLTTDS năm 2015 và Mẫu số 23-DS (Ban hành kèm theo Nghị quyết
số 01/2017/NQ-HĐTP) Đơn khởi kiện phải có chữ ký xác nhận hoặc điểm chỉ của người khởi kiện, cụ thể:
- Người khởi kiện là cá nhân từ đủ 18 tuổi và không bị mất năng lực hành vi dân sự (bao gồm cả trường hợp người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi đã tham gia lao động theo hợp đồng lao động hoặc giao dịch dân sự bằng tài sản riêng của mình)