BỘ XÂY DỰNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA KHOA HỌC CƠ BẢN – BỘ MÔN KHXH TIẾU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN CƠ SỞ VĂN HOÁ VIỆT NAM Lớp học phần GVHD Nguyễn An Thuỵ Sinh viên Nguyễn Quang[.]
Trang 1BỘ XÂY DỰNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA KHOA HỌC CƠ BẢN – BỘ MÔN KHXH
TIẾU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
CƠ SỞ VĂN HOÁ VIỆT NAM
Lớp học phần:
GVHD: Nguyễn An Thuỵ
Sinh viên: Nguyễn Quang Trần Lĩnh
MSSV: 20510101382
TP HCM, ngày 26 tháng 12 năm 2021
Trang 2TP HỒ CHÍ MINH
Khoa: Khoa Học Cơ Bản
Bộ môn: Khoa Học Xã Hội
NĂM HỌC 2021 – 2022
Môn: Cơ sở văn hóa Việt Nam LỚP HP: 310001205
Học kì: I
HỌ TÊN SINH VIÊN: Nguyễn Quang Trần
Lĩnh
MSSV: 20510101382
Bộ môn / Khoa
(Ký duyệt)
Nguyễn Thị Song
Thương
Chữ ký Giảng viên ra đề Nguyễn An Thụy
Chữ ký giám thị 1 Chữ ký giám thị 2
Chữ ký giảng viên
chấm thi thứ 1 Chữ ký giảng viên chấm thi thứ 2 Điểm số Điểm chữ
Câu hỏi tiểu luận: Triết lí Âm Dương và ảnh hưởng của triết lí Âm Dương trong đời
sống văn hóa của người Việt
Trang 3MỞ ĐẦU
Triết lý Âm Dương từ lâu đã tồn tại song song trong đời sống văn hoá của người Á Đông nói chung, người Việt nói riêng Do từ rất xa xưa, con người đã nhận thức được rằng mọi vạn vật đều có sự đối lập, tương phản với nhau, tuy nhiên kh ở cạnh nhau, chúng vẫn luôn có thể tồn tại một cách hoà hợp, dung hoà và hỗ trợ nhau Mãi cho đến sau này, khi đúc kết được nhận thức đó, người ta gọi đó lầ Triết lý Âm Dương Âm Dương không đơn thuần là quan niệm mà nó là triết lý, gắn bó chặt chẽ với cuộc sống, sinh hoạt của người Việt Triết lí Âm Dương ngày càng có nhiều biểu hiện rõ ràng trên nhiều chiều hướng và góc độ khác nhau, không chỉ dừng lại trong cuộc sống mà nó còn thể hiện trong các phong tục, tín ngưỡng,,…Trong lối suy nghĩ của người Việt dù là truyền thống hay hiện đại vẫn luôn tồn tại triết lý này Do đó chứng mình được rằng sức ảnh hưởng của triết lý
âm dương là rất lớn, liên quan đến cả một nền tư tưởng văn hoá của cả dân tộc Bài tiểu luận dưới đây sẽ phân tích làm rõ những vấn đề về triết lý Âm Dương, từ đây nếu ra các quan điểm, chứng minh sức ảnh hưởng của triết lý này trong đời sống văn hó của người Việt
NỘI DUNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1 Sự hình thành triết lý Âm Dương
Xuất phát điểm của đất nước là một nước nông nghiệp, gắn liền với nền nông nghiệp lúa nước phát triển mạnh mẽ Do đó, sự sinh sôi nảy nở là điều kiện quan trọng cũng như là rất cần thiết đối với cư dân nông nghiệp Dần dần con người nhận ra được nguyên nhân tạo ra được sự sinh sôi phát triển đó chính là sự giao thoa giữa đất- trời, đực- cái, cha- mẹ, âm- dương,…Đây đều là những cái đối lập nhau nhưng vẫn luôn hỗ trợ nhau, tạo ra một sự hài hoà nhất định Triết lí Âm Dương cũng ra đời dựa trên cơ sở này Có thể nói đây là sản phẩm sáng tạo của người Việt nói riêng và nền nông nghiệp nói chung
2 Triết lí Âm Dương là gì ?
Trang 4Như đã nhắc đến ở trên, triết lý Âm Dương là sản phẩm sáng tạo dựa trên ý niệm
và ước mơ của cứ dân nông nghiệp Ngoài sự sinh sôi nảy nở về hoa màu, người ta còn quan tâm đến sự phất triển của con người Do đó có hai cặp đối lập là Đất- trời dành cho hoa màu và Cha- mẹ dành cho con người Tuy nhiên về sau này người ta nhận thấy rằng về bản chất thì hai hình thái sinh sản này lại có nhiều điểm tương đồng, vậy nên đã hợp nhất chúng Say này khi nhắc đến sẽ nói rằng, triết lý Âm Dương với hai cặp trái lập gốc là Đất- trời và Cha- mẹ Dựa trên cơ sở này, ngày càng có thêm nhiều cụm từ trái lập nhau ra đời
3 Quy luật của triết lý Âm Dương
Có hai quy luật cơ bản trong triết lý Âm Dương để xác định được bản chất âm/dương của các sự vật, hiện tượng xung quanh cuộc sống
3.1 Quy luật về thành tố: Không có gì hoàn toàn âm vầ không có gì hoàn
toàn dương, trong âm có dương và trong dương có âm
- Muốn xác định tính chất âm dương một vật, trước tiên phải xác định
được đối tượng so sánh
- Muốn xác định tính chất âm dương một vật, ngòi việc phải xác định
được đối tượng so sánh, còn phải xác định được cơ sở so sánh
3.2 Quy luật về quan hệ: Âm và dương luôn gắn bó mật thiết với nhau và
chuyển hoá cho nhau: âm cực sinh dương, dương cực sinh âm
Biểu tượng Âm- Dương ( hình thành trong Đạo giáo), là biểu tượng phản ánh đầy
đủ và rõ nhất về quan hệ và bản chất của hai quy luật trên
II: ẢNH HƯỞNG CỦA TRIẾT LÝ ÂM DƯƠNG TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ NGƯỜI VIỆT
Triết lý Âm Dương từ lâu đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống văn hoá của người Việt Biểu hiện của nó ngày càng rõ ràng hơn và xuất hiện ở nhiều mặt của đời sống từ tư duy nhận thức đến đời sống thường ngày và ảnh hưởng đến cả văn hoá tín ngưỡng
1 Ảnh hưởng trong tư duy, nhận thức:
Trang 5- Đối với quy luật “trong âm có dương, trong dương có âm”, được hiểu là
trên đời này không có gì là thuần chất cả, trong mỗi cái đều có hai mặt của nó, trong cái này có cái kia và ngược lại Thể hiện rõ ở các câu thành ngữ, tục ngữ được dúc kết từ đời sống nhân dân của các thế hệ trước, ví dụ như:
Trong cái rủi có cái may
Trong hoạ có phúc
Người có lúc vinh lúc nhục
Sông có khúc đục khúc trong
- Đối với quy luật “âm cực sinh dương, dương cực sinh âm” chính là thể
hiện mối quan hệ mật thiết, gấn bó, chuyển hoá, bổ trợ cho nhau giữa cặp trái ngược Âm- Dương Lối tư duy này có thể hiểu theo xu hướng là quan hệ nhân quả Ví dụ như:
Sướng lắm khổ nhiều
Trèo cao ngã đau
Yêu nhau lắm, cắn nhau đau
Tham thì thâm
- Ngay cả trong cấu trúc các câu thành ngữ cũng có sự đối xứng nhau.
Trong câu thơ thì thường là đối thanh, đối hình, đối ý,…
Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Hai cặp đối nhau là Cha- mẹ và núi- nước
2 Ảnh hưởng về mặt đời sống:
Triết lý âm dương ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống văn hoá của người Việt trên nhiều phương diện và nhiều mặt khác nhau của đời sống Trong đó, thể hiện rõ nhất trong ba nhu cầu là ăn, mặc và ở
2.1 Trong nhu cầu ăn uống: Trong các nhu cầu: thực, y, cư, hành, khang, lạc,
… thì thực (ăn) đứng đầu Do đó việc ăn uống là quan trọng bởi nó duy trì được
Trang 6sự sống Đối với nghệ thuật ăn uống, người Việt luôn có sự tính tế dự trên cở sở triết lý Âm Dương
- Một là đảm bảo được sự hài hoà âm dương của thức ăn Để làm được
điều này, người Việt phân biệt thức ăn theo năm mức dựa trên cơ sở ngũ hành bao gồm:
+ Hàn: lạnh, âm nhiều, hành thuỷ + Nhiệt: nóng, dương nhiều, hành hoả + Ôn: ấm, dương ít, hành mộc
+ Lương: mát, âm ít, hành kim + Bình: trung tính, hành thổ
Ví dụ: Trứng vịt lộn ăn kèm với rau dăm do trứng vịt lộn là
hàn-âm, rau dăm là nhiệt- dương
Ví dụ 2: Món cá kho thường kho với gừng, do cá là hàn- âm còn
- Hai là đảm bảo sự quân bình âm dương trong cơ thể Người Việt quan
niệm rằng các bệnh tật sinh ra là do cơ thể bị mất quân bình âm dương, Vậy nên họ sử dụng thức ăn như là các vị thuốc để trị bệnh, điều chỉnh
sự mất cân bằng âm dương
Ví dụ: Người bị đau bụng là do bị lạnh (âm), nên ăn đồ ăn mang tính dương ví dụ như gừng (nước gừng)
Ví dụ 2: Người bị bệnh kiết lị là do bị nóng (quá dương), nên ăn những đồ ăn có tính âm ( mát, lạnh) như trứng gà rang với lá mơ
- Ba là đảm bảo sự quân bình âm dương giữa con người và môi trường.
Người Việt thường có tập quán ăn uống theo vùng khí hậu khác nhau và theo mùa
Ví dụ: mùa hè nóng (nhiệt – hành hỏa) nên ăn các loại thức ăn hàn, lương (mát), có nước (âm – hành Thủy), có vị chua (âm) thì vừa dễ ăn, vừa dễ tiêu hóa, vừa giải nhiệt
Ví dụ 2: Mùa đông lạnh (hàn – âm) thì nên ăn các loại thức ăn khô, nhiều mỡ (dương), như các món xào, rán, kho…
Trang 7 Ví dụ 3: người Việt xưa không uống bia, cũng không uống rượu Tây Do rượu Tây phù hợp với người xứ lạnh Thức ăn Việt phải dùng chung với rượu Việt Nam nấu từ gạo nếp mới ngon
2.2 Trong nhu cầu mặc (trang phục): Ở nhu cầu này, người Việt luôn đề cao
hai yếu tố âm tính và dương tính Trang phục Việt Nam trước hết phải thích hợp với khí hậu nhiệt đới gió mùa và truyền thống nông nghiệp lúa nước Sau đó sẽ xem xét đến quan điểm thẩm mỹ và phải phù hợp với công việc
- Trong trang phục của người Việt xưa, màu ưa thích vốn là những màu
âm tính, phù hợp với phong cách tế nhị, kín đáo của dân tộc
- Trang phục xưa của miền Bắc chuộng màu nâu, màu gụ của đất.
- Trang phục xưa của miền Nam chuộng màu đen, màu của bùn.
- Trang phục ngày nay thay đổi càng nhiều, theo xu hướng dương tính,
màu sắc sặc sỡ, nhiều kiểu dáng khác nhau và mới lạ hơn
Miền Bắc Miền Nam
2.3 Trong nhu cầu ở: người Việt chú trọng vấn đề về phong thủy “Phong” là gió
(thuộc dương); thủy là nước (thuộc âm) Phong thủy là hai yếu tố quan trọng nhất tạo thành vi khí hậu của một ngôi nhà
Trang 8- Ở Việt Nam, căn nhà trước hết cần phải có đủ điều kiện phục vụ yêu
cầu đối phó với thiên nhiên và khí hậu khắc nghiệt
- Thứ hai, nhà ở phải thuận tiện với nghề nông (nền nông nghiệp lúc
nước), thích hợp với miền sông nước và khí hậu nóng ẩm gió mùa của Việt Nam
- Các kiểu nhà như nhà sàn, nhà bè, nhà thuyền, kiến trúc mái cong có
tính thẩm mỹ Nói chung nhà cao cửa rộng, chắc chắn phù hợp thời tiết
3 Ảnh hưởng trong văn hoá tín ngưỡng
3.1 Trong tín ngưỡng phồn thực: Phồn là nhiều, thực là nảy nở.
- Trống đồng là biểu tượng toàn diện của tín ngưỡng phồn thực Dấu tích
để lại trên các hình vẽ của trống đồng, trên thạp đồng và một số trò chơi
cổ xưa
- Mõ tụng kinh: Cái mõ bằng gỗ là dương, chuông bằng đồng là âm,
Tiếng mõ và tiếng chuông tạo âm dương hoà hợp
- Chùa Một Cột: Phần thân chùa là âm, đặt trên một cột tròn là dương, cột
tròn lại được đặt trong một cái hồ hình vuông là âm
Mõ tụng kinh Trống đồng
Trang 93.2 Với tín ngưỡng sùng bái tự nhiên: từ xưa ông cha ta luôn coi trọng tín
ngưỡng đa thần, lấy chất âm tính làm căn bản (trọng tình cảm, trọng nữ giới), vì vậy mà có tục thờ Mẫu hay tín ngưỡng sùng bái loài vật Tiên, Rồng,…
- Do ảnh hưởng của tín ngưỡng phồn thực như đã nói ở trên nên các vị
thần đó không phải là các cô gái trẻ đẹp như trong một số tôn giáo, tín ngưỡng khác mà là các bà mẹ, các Mẫu
Thờ mẫu Tam Phủ
- Thờ động vật: Người Việt là dân tộc đa dạng trong việc thờ các vị thần
có nguồn gốc từ động vật Thường thì sẽ thờ những con vật mạnh mẽ như hổ, cá voi, voi, ngựa, rắn Ngoài những con vật đó ra, người Việt con thờ các con vật hiền như cóc, chó, hạc, dơi do đây là các con vật gần gũi với cuộc sống của người dân nông nghiệp
Trang 10Thờ quan ngũ hổ
- Thờ thực vật: Loại thực vật được tôn sùng nhất là cây lúa, có Thần Lúa,
Hồn Lúa, Mẹ Lúa, đôi khi ta thấy còn thờ Thần Cây Đa, Cây Cau,
Tục thờ cây lúa ở Phú Thọ
Trang 113.3 Với tín ngưỡng sùng bái con người:
Do ảnh hưởng triết lý âm dương sâu sắc, nên con người xưa quan niệm chết
là từ cõi dương về cõi âm, từ đó đến nay con người Việt Nam ta vẫn luôn coi trọng tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
- Thờ tổ tiên:
Thà đui mà giữ đạo nhà Còn hơn sáng mắt ông cha không thờ
Bàn thở tổ tiên
- Thờ tổ nghề: Phạm Thị Trân là tổ nghề hát chèo, Nguyễn Thị Sen là tổ
nghề may áo dài, Nguyễn Minh Không tổ nghề đúc đồng, Mạc Thị Giai là bà tổ bếp Phương Nam
Trang 12Thờ tổ nghề sân khấu
- Giỗ tổ Hùng Vương
Ngày giỗ tổ Hùng Vương
III ẢNH HƯỞNG CỦA TRIẾT LÝ ÂM DƯƠNG TRONG KIẾN TRÚC CỔ VIỆT NAM
1 Triết lý Âm- Dương với kiến trúc cổ Việt Nam
Trang 13- Từng có nhận định rằng kiến trúc cổ của Việt Nam là bản sao của kiến
trúc Trung Hoa và không có bản sắc riêng Tuy nhiên đây là một nhận định hoàn toàn sai
- Dẫn chứng cụ thể nhất chính là cách mà người Việt tận dụng tự nhiên để
làm ra một nền văn minh thực vật Tre, Nứa, Lá, Gỗ góp phần xác định hình ảnh kiến trúc Việt
- Cách người Việt ứng phó với mưa nắng của điều kiện nhiệt đới gió mùa
tạo ra cấu trúc ngôi nhà cũng đã góp phần xây dựng hình ảnh Kiến trúc Việt
- “Nhà cao cửa rộng” – Đó cũng là cách người Việt tạo ra tổ chức công
năng trong công trình kiến trúc hài hòa với nghề nghiệp, với đời sống tâm linh và tư duy nhận thức, góp phần khẳng định bản sắc trong kiến trúc Việt
- Ngôi nhà cũng thể hiện tín ngưỡng của người Việt, mái cong có hình
dáng con thuyền mang ý nghĩa đối với nền văn minh gắn liền với sông nước Việt Nam, và mái ngói âm dương cũng thể hiện rõ sự ảnh hưởng của triết lí âm dương vào các công trình kiến trúc của người Việt Các chi tiết trang trí, chạm khắc mang hình dáng con rồng, hoa sen, và các chi tiết liên quan đến ngũ hành, âm dương
Mái ngói âm dương
Trang 142 Triết lý Âm- Dương trong tổ chức không gian cảnh quan
- Kiến trúc phương Tây phát triển theo chiều cao như một sự khẳng định
cho sự chế ngự tự nhiên Tuy nhiên đối với kiến trúc cổ Việt Nam, người ta phát triển không gian dàn trải theo chiều sâu và chiều rộng do xem trọng và tôn thờ tự nhiên
- Công trình kiến trúc của người Việt thường có quy mô vừa phải, gợi lên
cảm giác gần gũi, thân thiện Phía trước của công trình thường là sông, ngòi, ao, hồ, do đó tạo ra một không gian thanh bình và trầm lắng
- Nét độc đáo của kiến trúc Việt là công trình luôn gắn liền với môi
trường sông nước Văn hóa Việt Nam được xếp vào không gian văn hóa nước, là điều kiện quan trọng đối với cư dân nông nghiệp
- Công trình kiến trúc cao là dương, hồ ao, thấp, sâu là âm Công trình
nhìn ra, soi bóng trên sông, trên hồ tạo ra sự đối đãi âm – dương, có như vậy mọi thứ mới được phát sinh, phát triển
- Bố trí cảnh quan xung quanh ngôi nhà dựa vào phong thủy, hướng chính
của ngôi nhà cũng là cách vận dụng triết lí âm dương vào kiến trúc Hướng chính của nhà là hướng nam, đón gió mát, tránh được nắng hướng tây, mùa đông tránh được gió lạnh hướng bắc, trước nhà trồng cây cao bóng mát, sau nhà trồng các loại câu bụi, thấp để chắc gió lạnh vào nhà,
Bố cục ngôi nhà ở làng cổ Phước Tích, Huế
3 Triết lý Âm- Dương trong cái đẹp kiến trúc Việt
Trang 15- Triết lý Âm – Dương có ảnh hướng khá quan trọng đến cách tổ chức
không gian, do đó tạo ra cái đẹp cho các công trình Kiến trúc
- Người Việt luôn kết hợp hài hòa các không gian với nhau như cao- thấp,
trên- dưới, trước- sau, thưa- mau, để tạo ra tính nhịp điệu trong không gian của công trình Kiến trúc
Một số loại mái nhà truyền thống
- Đây cũng chính là sự hài hòa giữa các mặt đối lập, tiêu chí quan trọng
để tạo ra cái đẹp Mà với người Việt, là sự hài hòa của hai mặt Âm và Dương chính là cái đẹp
Đình Bảng, Mái đầu đao, có hình tượng con thuyền
4 Triết lý Âm- Dương trong quy thức của Kiến Trúc Việt
Trang 16- Kết cấu khung nhà gỗ của người Việt là một sản phẩm sáng tạo mang
đặc trưng của cư dân nông nghiệp Tổ chức không gian mang đậm chất tính cộng đồng của người Việt, thể hiện rõ rất là nhà gỗ cổ truyền Bắc
Bộ Không gian trong nhà chia theo gian ( thường là 3, 5, 7 gian) chứ không chia phòng
- Bộ phận chịu lực chính của ngôi nhà là bộ cột, thường là 4 đến 6 hàng
cột, cột được đặt trực tiếp trên đế kê chân cột, không chôn sâu dưới đất
để tạo sự vững chắc Cùng với cột là xà, xà là những giằng ngang, liên kết các cột lại với nhau tạo thành một bộ khung chịu lực
Kết cấu khung chịu lực của ngôi nhà
- Bộ phận quan trọng phải kể đến nữa là kẻ, là các dầm đơn đặt theo
phương chéo của mái nhà, gác lên các cột bằng liên kết mộng Kẻ ngồi liên kết đầu cột cái sang cột quân, kẻ hiên liên kết cột quân và cột hiên
Kể đến nữa là các bẩy, là các dầm trong khung nhà, liên kết các cột quân sau nhà với nhau để đỡ phần mái phía sau
Trang 17- Ngoài ra còn phải kể đến những cấu kiện khác như: Hoành, dui, mè…
và bộ vì kèo hình tam giác đỡ mái nhà ở trên
- Trong cấu kiện nhà gỗ của một số tộc người ở Việt Nam như người
Thái, người Dao, cũng sử dụng xà, cột nhưng chúng được gắn kết với nhau bằng cách buộc dây, còn với người Việt là gắn kết mộng- chốt, lồi-lõm, âm- dương Lối kết cấu này xuyên suốt chiều dầy của lịch sử kiến trúc cổ Việt Nam
Liên kết đầu cột bằng mộng gỗ