1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TL CSVHVN đặc trưng văn hóa trang phục việt nam

24 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề TL CSVHVN Đặc Trưng Văn Hóa Trang Phục Việt Nam
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Văn A
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Văn hóa Dân tộc Việt Nam
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 1,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việt Nam từ xưa tới nay qua các thời kỳ, các triều đại khi xây dựngđất nước đều đặt phục trang là một yếu tố ưu tiên, bởi trang phục chính là “nhận dạng” của quốc gia dân tộc.. Mục đích,

Trang 1

2.3 Thời Hậu Lê (Lê sơ) – Mạc – Lê Trung Hưng11

2.3.1 Thời Lê sơ11

2.3.2 Thời Mạc11

2.3.3 Thời Lê Trung Hưng11

2.4 Thời Tây Sơn15

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Những vấn đề về trang phục - từ truyền thống đến hiện đại - là nhữngvấn đề của văn hóa, của mô hình thẩm mỹ, của sáng tạo và khoa học thíchnghi, lại càng khó hơn khi nghiên cứu trang phục với tư cách của một phạmtrù lịch sử Dân tộc Việt Nam đã có hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữnước oanh liệt với một nền văn hóa phong phú, độc đáo, lâu đời Nền văn hóa

ấy được tìm hiểu và giới thiệu về nhiều mặt, trong đó có văn hóa trang phục

Không ngoa khi nói rằng áo quần là thước đo văn minh của một nềnvăn hóa Á Đông như Việt Nam, bởi nó đại diện cho tư tưởng, thẩm mỹ và cảnền tảng kỹ nghệ đất nước Nghề dệt may trong lịch sử luôn là một ngành kỹthuật tinh xảo và có mối liên hệ sâu sắc với sự thịnh vượng kinh tế và thể diệnquốc gia Việt Nam từ xưa tới nay qua các thời kỳ, các triều đại khi xây dựngđất nước đều đặt phục trang là một yếu tố ưu tiên, bởi trang phục chính là

“nhận dạng” của quốc gia dân tộc

Vì vậy, em đã lựa chọn đề tài này để tìm hiểu một cách sâu sắc về vănhóa trang phục Việt Nam, với mong muốn được hiểu thêm về văn hóa trangphục – một văn hóa rực rỡ của Việt Nam

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Tìm hiểu chi tiết về văn hóa trang phục Việt Nam qua các thời kỳ, chủyếu là trang phục dân gian vì văn hóa trang phục Việt Nam bắt nguồn từ trangphục dân gian dân dã, bình dị, đặc biệt là thời kỳ các triều đại phong kiến bởiđây là thời kỳ văn hóa trang phục Việt Nam được kiến tạo và phát triển mộtcách rực rỡ nhất

3 Kết cấu tiểu luận

Trang 3

Ngoài phần mở đầu, kết thúc và tài liệu tham khảo, tiểu luận gồm có 3chương.

Vì nhiều vấn đề em còn không hiểu hoặc trong lúc tìm kiếm tư liệu đểnghiên cứu có sai sót, đặc biệt thời kỳ tiền sử em không tìm được tư liệu, nênbài làm sẽ không tránh khỏi thiếu sót, em rất mong nhận được sự phản hồi vàgóp ý từ cô để bài làm của em được hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm

ơn cô!

Trang 4

CHƯƠNG 1 TRANG PHỤC THỜI KỲ TIỀN SỬ VÀ SƠ SỬ 1.1 Một số nét thời kỳ tiền sử

Từ thời tiền sử con người đã biết dùng các vật dùng từ tự nhiên để tạotrang phục cho mình, ví dụ như trang phục được chế tác từ vỏ cây, lá cây, dâyrừng,

1.2 Thời kỳ sơ sử

Cách đây hàng ngàn năm, vào thời đại đồng thau phát triển, nước ViệtNam có tên gọi là Văn Lang Người dân ở đây đã sinh sống bằng săn bắn, háilượm và trồng trọt Trang phục cũng có sự thay đổi, họ không dùng vỏ câylàm áo nữa mà đã biết trồng gai, đay, dâu, nuôi tằm, ươm tơ dệt vải

Trên trống đồng hay nhiều tượng, phù điêu bằng đồng đều có khắc họanhững cảnh sinh hoạt thời kỳ này, cho thấy các loại trang phục được thể hiện

dù được thể hiện bằng biện pháp nghệ thuật cách điệu và trừu tượng hóanhững cho thấy sự phong phú của trang phục thời kỳ này

Trống đồng được trưng bày tại Bảo tàng Hùng Vương

Trang 5

(Nguồn ảnh: vovworld.vn)

Phụ nữ thời này thường mặc áo ngắn đến bụng, xẻ ngực, bó sát vàongười, phía trong mặc yếm cổ tròn sát cổ, kín ngực, trang trí những hình chấmhạt gạo Thắt lưng có 3 hàng chấm trang trí cách đều nhau quấn ngang bụng,đầu và cuối thắt lưng thả xuống phía trước và sau thân người, tận cùng cónhững tua rủ Váy kín bó sát vào thân, trang trí chấm tròn, những đường gạchchéo song song và hai vòng tròn có chấm ở giữa Bình thường váy ngắn mặcchấm đầu gối, một kiểu váy khác dài hơn, đến gót chân, đây có lẽ là trangphục khi không lao động

Đàn ông thường cởi trần, đóng khố (là một dải vải) Tùy theo chiều dàicủa khổ vải mà người ta quấn một hoặc nhiều vòng quanh bụng, thả đuôi khố

về phía sau hoặc về phía trước Một số hiện vật khác cho thấy, đàn ông thời

kỳ này có thể cũng đã mặc áo, ví dụ như áo choàng có hoa văn trang trí, v.v

Trang phục thời Hùng Vương (Nguồn: Đoàn Thị Tình, “Trang phục Việt Nam”, Nxb Mỹ thuật 2006)

Vào nửa sau thế kỷ III TCN, Thục Phán, một thủ lĩnh người Âu Việt từmiền trên đã tràn xuống đánh chiếm nước Văn Lang, thống nhất hai lãnh thổ,dựng nên nước Âu Lạc Về trang phục, hầu như không có sự thay đổi, thayvào đó văn hóa trang phục thêm phát triển, ví dụ như truyền thuyết Mị Châu –Trọng Thủy có chi tiết chiếc áo lông ngỗng, cho thấy sự phát triển về trangphục

Trang 6

Về sau, đất nước Âu Lạc bị Triệu Đà xâm lược, cai trị, cộng với ba lần

bị phong kiến phương Bắc thống trị hơn một ngàn năm, tuy nhiên nhân dân tathời đó không hề bị đồng hóa hoàn toàn về trang phục, mà tiếp nhận các yếu

tố văn hóa phương Bắc để bổ sung và làm giàu thêm văn hóa trang phụctruyền thống Thời này người Việt xưa đã biết dùng tơ để dệt vải

Trang 7

CHƯƠNG 2 TRANG PHỤC THỜI KỲ CÁC TRIỀU ĐẠI PHONG KIẾN

2.1 Thời Ngô – Đinh – Tiền Lê

Tư liệu và di vật về trang phục thời kỳ này rất hiếm, các tư liệu thànhvăn cũng chỉ chủ yếu đề cập đến trang phục triều đình nhưng lại không có ghichép tỉ mỉ, cặn kẽ Hình nét trên các di vật bằng gỗ, đá để lại không được rõràng, nên rất khó xác định

Thời nhà Ngô, dựa trên một vài hiện vật như tượng Ngô Quyền ở đìnhHàng Kênh, Hải Phòng, có thể thấy tượng mặc long bào, có trang trí rồng, cổtròn, tay thụng

Tượng Ngô Quyền ở đình Hàng Kênh, Hải Phòng

(Nguồn: haiphongnews.gov.vn)

Đến thời nhà Đinh, sử sách, tài liệu ghi chép về trang phục nhân dâncũng rất ít hoặc không có, chủ yếu chỉ có ghi chép về trang phục triều đình,quan phẩm hoặc binh lính

Trang 8

Thời Tiền Lê, tư liệu ghi chép cũng chỉ có trang phục triều đình vàtrang phục binh lính, không thấy có tư liệu về trang phục nhân dân thời này.

2.2 Thời Lý – Trần

2.2.1 Thời Lý

Ngoài các ghi chép về trang phục triều đình, trang phục của quan haygiới quý tộc, còn có một số tư liệu, ghi chép về trang phục nhân dân thời Lý

Mô tả người Việt thời Lý, Lĩnh Ngoại Đại Đáp của Chu Khứ Phi người Tống

có viết như sau, “Người nước ấy áo thâm, răng đen, búi tóc chuy kế, đi đất,sang hèn đều như vậy […] Những người còn lại, ngày thường trên thì vận áoSam

đen cổ tròn bó sát, bốn vạt như áo Bối Tử, gọi là áo Tứ Điên; dưới thìvận

thường đen [ ] Thường đen là phục sức quây bên ngoài của đàn ông.”

(Nguồn: Ngàn năm áo mũ, dịch bởi Trần Quang Đức) Mã Đoan Lâm tham

khảo ghi

chép của Chu Khứ Phi, đồng thời chú thích: “Những người còn lại đềumặc

áo cổ tròn bốn vạt, áo Sam đen không thắt lưng, dưới áo Sam thắt

thường đen, …” (Nguồn: Ngàn năm áo mũ, dịch bởi Trần Quang Đức)

Trang 9

Hình ảnh phỏng dựng áo Tứ Điên (Nguồn: daivietcophong.wordpress.com)

Mã Đoan Lâm cũng ghi chép: “Phụ nữ nhiều người trắng trẻo, khác hẳnđàn ông, thích mặc áo trực lĩnh màu lục thụng tay, đều thắt bằng thường đen.”

(Nguồn: Ngàn năm áo mũ, dịch bởi Trần Quang Đức) Đối với trang phục của

nữ giới, qua miêu tả của Mã Đoan Lâm, phụ nữ Đại Việt đều thích mặc áotrực lĩnh màu lục, thụng tay, đều thắt bằng váy đen Khái niệm áo trực lĩnhthường được hiểu là áo giao lĩnh, sở dĩ gọi trực lĩnh (cổ thẳng) chủ yếu nhằmphân biệt với loại áo viên lĩnh (cổ tròn)

2.2.2 Thời Trần

Dưới thời Trần, trang phục dân gian Trần vẫn tiếp tục kế thừa trangphục thời Lý với áo Sam cổ tròn bốn vạt, thường màu đen, quần lụa trắng AnNam chí lược cho biết: “Vương hầu và thứ dân thường mặc áo cổ tròn,thường màu đen huyền, quần bằng là trắng, hài chuộng loại bằng da” Sứ thần

Trang 10

nhà Nguyên Trần Cương Trung cũng miêu tả: “Người trong nước đều mặcmàu đen, áo đen bốn vạt, cổ tròn làm bằng là Phụ nữ cũng mặc áo đen, song

áo trắng bên trong lộ rõ ra ngoài, ôm lấy cổ, rộng bốn tấc là khác biệt Cácmàu xanh, đỏ, vàng, tía tuyệt nhiên không có.” Tuy nhiên, nói như vậy không

có nghĩa rằng toàn bộ người Đại Việt, ai nấy đều mặc cùng một kiểu áo.Ngoài loại áo cổ tròn, chắc chắn vẫn còn có các loại áo tứ thân, giao lĩnh màqua bức tranh Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ chúng ta vẫn bắt gặp

Một phần bức “Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ”

Nguồn (vi.wikipedia.org)

2.2.3 Thời nhà Hồ

Năm 1400, Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần, tự lên làm vua, lấy quốchiệu là Đại Ngu, lập nên nhà Hồ Ngoài các ghi chép về trang phục triều đình,trang phục dân gian dưới thời nhà Hồ được ghi chép lại rằng: “Hồ HánThương cấm mọi người trong thiên hạ dùng loại lụa phiếu kỹ làm áo, chỉ cho

phiếu sơ qua” (Toàn thư), tức chỉ cho phép dân gian được dùng loại lụa thô

may quần áo, không được dùng lụa mịn

Năm 1406, nhà Minh sang xâm lược nước ta, năm 1407, nhà Hồ sụp

đổ Nhà Minh bắt đầu đặt bộ máy cai trị, âm mưu đồng hóa nước ta: Nhà

Trang 11

Minh cấm nam nữ không được cắt tóc Phụ nữ mặc áo dài, váy dài, đổi theo

phong tục phương Bắc” (Toàn thư) Tuy nhiên, nhân dân ta không khuất

phục, chống trả quyết liệt bảo vệ văn hóa dân tộc

2.3 Thời Hậu Lê (Lê sơ) – Mạc – Lê Trung Hưng

2.3.1 Thời Lê sơ

Ghi chép cụ thể về trang phục dân gian thời kỳ này không rõ, chỉ biếtkhi lao động, đàn bà thường mặc yếm cổ xây (yếm có một góc khoét hình trònlàm cổ yếm), cánh tay để trần, mặc váy ngắn, thắt lưng thả múi phía trước;trang phục đàn ông không có gì đặc biệt, khi lao động thường cởi trần, đóngkhố

2.3.2 Thời Mạc

Với sự cai trị của các ông “vua quỷ” Lê Uy Mục và “vua lợn” LêTương Dực, nhà Lê sơ sụp đổ sau 100 năm trị vì Tháng 6 năm 1527, quyềnthần Mạc Đăng Dung phế truất vị vua cuối cùng của triều Lê sơ, tự xưnghoàng đế

Tuy nhiên, tư liệu thời Mạc có ghi chép về trang phục không nhiều, đặcbiệt là trang phục dân gian, dựa theo các pho tượng, chỉ có thể phỏng dựng lạitrang phục của triều đình thời Mạc

2.3.3 Thời Lê Trung Hưng

Ngoài các tài liệu ghi chép về trang phục triều đình, trang phục dângian cũng được ghi chép lại dù không nhiều nhưng vẫn thể hiện được trangphục dân gian thời kỳ này Dạng trang phục được sử dụng rộng rãi trong dângian thời này chính là áo giao lĩnh – tràng vạt

Vào năm 1681, Jean Baptiste Tavernier mô tả cách ăn mặc của ngườiViệt trang trọng và đơn giản: “Đó là một cái áo dài đến gót chân, gần giống

áo dài của Nhật Bản, đàn ông và đàn bà ăn mặc giống nhau không phân biệt

Trang 12

Áo dài họ mặc được thắt ở khoảng giữa thân bằng một cái thắt lưng lụa, đeo

đồ vàng, bạc đánh rất đẹp.” Loại áo này chính là áo giao lĩnh

Năm 1776, Lê Quý Đôn ở chức Hiệp trấn tham tán quân cơ tại ThuậnHóa nhắc nhở: “[…]Thường phục đàn ông, đàn bà dùng áo cổ đứng, ngắn tay,cửa ống tay rộng, hẹp tùy tiện Hai bên nách áo trở xuống phải khâu liền chokín, không được để hở hang Đàn ông muốn mặc áo cổ tròn và hẹp tay chotiện làm việc cũng được […]”

Một số áo giao lĩnh thời Lê Trung Hưng được khai quật tại vườn đào Nhật Tân

(Ảnh: GS TS Nguyễn Lân Cường)

Trịnh Hoài Đức cũng cho biết, trước khi diễn ra cuộc cải cách y phụcĐàng Trong năm 1744, người Việt tại thành Gia Định vẫn tuân theo tập tục cũcủa Giao Chỉ: “[…] nam nữ đều dùng áo trực lĩnh ngắn tay, áo may khép lạihai bên nách, không có quần, đàn ông dùng một khổ vải quấn quanh eo, đếndưới mông thì bó lại thắt vào vùng rốn, gọi là cái khố, đàn bà có loại váy quâykhông gấp nếp […]”

Qua lời ghi nhận của cả Trịnh Hoài Đức và Lê Quý Đôn, có thể thấy loại

áo giao lĩnh sử dụng rộng rãi đương thời không chiết eo và cũng không xẻ vạtquá cao như loại áo dài kiểu Khách, tiền thân của dạng áo dài năm thân Mặtkhác, nam giới thường dân người Việt thường chỉ đóng khố, mặc trùm áo giaolĩnh ra bên ngoài

Trang 13

Hiện vật áo giao lĩnh liệm cùng thi hài quan Đại Tư Đồ Nguyễn Bá Khanh (thế kỷ XVIII), phát hiện tại xã An Vĩ, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.

(Nguồn: Phim tài liệu “Trang phục Việt” của đì VTV)

Ngoài kiểu áo giao lĩnh, cổ tròn thì các dạng áo tứ thân, váy đụp, yếm

và khố đều là những kiểu trang phục truyền thống, cố cựu đã hiện diện từ thời

Lý – Trần và tiếp tục được kế thừa vào thời Lê – Nguyễn

Jerome Richard miêu tả người Việt Đàng Ngoài năm 1778: “Nhữngngười phụ nữ nói chung ăn mặc khá khiêm nhã Họ mặc một chiếc váy dài và

Trang 14

một hoặc nhiều áo cùng kiểu như của nam giới nhưng chúng ngắn hơn Họbuộc quanh ngực một chiếc yếm là một mảnh vải hoặc một mảnh lụa có hìnhtrái tim, dùng để làm đẹp cho họ […] Quần áo của dân Đàng Ngoài đa dạng

về màu sắc Thông thường nhất là màu trắng Có nghĩa là màu sắc tự nhiên

của lụa hoặc của vải.” Thanh triều văn hiến thông khảo cũng có ghi nhận

tương tự: “[…] Quần áo hoặc làm bằng vải hoặc làm bằng lụa, phần lớn dùngsắc trắng Đàn ông dùng vải thắt lưng, sau đó luồn xuống dưới mông trở raphía trước thắt bọc lại Đàn bà dùng vải lụa che ngực.”

Phục dựng áo Viên lĩnh của nam giới Đàng Ngoài thế kỷ XVII-XVIII

(Nguồn: daivietcophong.wordpress.com)

Về sau, cuộc cải cách y phục Đàng Trong năm 1744 đánh dấu sự ra đời

và quá trình phổ cập của áo dài năm thân

Trang 15

2.4 Thời Tây Sơn

Sau cải cách y phục của chúa Nguyễn Phúc Khoát, quần chân áo chítdần trở thành dạng trang phục truyền thống của toàn Đàng Trong, bất kể làvùng đất của dòng dõi chúa Nguyễn hay vùng đất của anh em Tây Sơn.Chapman mô tả trang phục dân gian Đàng Trong dưới sự cai trị của NguyễnNhạc năm 1778 cho biết, đàn ông và phụ nữ Nam Hà đều mặc cùng một loại

áo cổ nhỏ cài cúc bắt chéo trên ngực

John Barrow miêu tả trang phục vùng Gia Định và Nam bộ năm 1792cho biết: “Y phục của người dân Nam Hà không chỉ đã trải qua một cuộc biếncách mà còn được rút bớt đi rất nhiều […] Quần áo của giới nữ không có gì làhấp dẫn Nhìn chung một chiếc áo vải bông dài lụng thụng, màu nâu hoặcxanh, buông rủ xuống tận giữa bắp đùi, một chiếc quần đen bằng vải thô dày,may rất rộng, là y phục thông thường của họ […] Y phục của người đàn ông

ít phân biệt với y phục nữ giới, nếu có là một chiếc áo khoác và đôi ống quầndài.”

2.5 Thời Nguyễn

Triều Nguyễn là triều đại quân chủ cuối cùng của Việt Nam, triều đạilưu lại nhiều ấn tượng mặc định và những ảnh hưởng lâu dài trong quan niệmcủa người Việt hiện đại về phong tục tập quán của ông cha, trong đó có quanniệm về trang phục Triều Nguyễn là triều đại phong kiến gần nhất hiện naynên tư liệu và hiện vật, ghi chép còn rất nhiều, bên cạnh các ghi chép về trangphục triều đình như trang phục hoàng đế, hậu phi, bá quan, binh lính, thì trangphục dân gian cũng được ghi chép, miêu tả chi tiết, tỉ mỉ

Loại trang phục phổ biến nhất trong dân gian Việt Nam thời Nguyễnhiển nhiên là bộ quần chân áo chít Song theo ghi nhận của Thái Đình Lan thìvào năm 1835 thời vua Minh Mạng, nam giới người Việt ở Trung, Nam kỳthường mặc áo chít màu đen cài khuy hẹp tay kết hợp với quần nhiễu đỏ,

Trang 16

“(họ) đều dùng lụa đen vấn đầu, mặc áo đen ống tay hẹp, quần may bằng lĩnh

đỏ, đi chân đất.” Riêng loại quần chân áo chít của nữ giới, theo Phan Kế Bính,trong khoảng những năm 1910-1915, quần thì phần nhiều mặc quần sồi, quầnlĩnh thâm, đôi khi cũng có người mặc quần nhiễu đỏ

Đối với tầng lớp dân nghèo, sử gia Trần Trọng Kim cho biết: “Cách ănmặc thì chỉ có đồ vải đồ nâu, người nghèo khổ chỉ có manh áo cánh và thườngthì đóng cái khố, có đi đâu mới mặc cái quần vải dài đến đầu gối”

Dưới triều Nguyễn, nhân dân lao động, đặc biệt là đàn bà thường mặc

áo cánh ngắn, cổ tròn, viền nhỏ, tà mở, đa số không cài cúc trước ngực Bêntrong là tấm yếm màu vàng tơ tằm hay bằng vải màu hoa hiên hoặc nâu non,thông thường đàn bà mặc hai loại yếm: yếm cổ xây (một góc khoét hình trònlàm cổ yếm), yếm cổ xẻ/yếm con nhạn (một góc khoét hình chữ V làm cổyếm); thường cổ yếm xẻ nông nhưng cũng có loại xẻ sâu xuống phía dưới.Váy (có nơi ở Bắc Trung Bộ gọi là mấm) thường mặc ngắn đến ống chân, khilàm ruộng thìxắn váy cao lên trên đầu gối rồi buộc túm gấu váy trước và sauvào nhau Họ thường quấn thắt lưng bằng vải màu một hoặc hai vòng ngoàicạp váy, hoặc dùng hai thắt lưng khác màu nhau để quấn Khi làm việc, đầuthắt lưng giắt gọn lên cạp váy cho đỡ vướng Mùa rét, phụ nữ nông thônthường mặc thêm tấm áo cánh hoặc mặc một kiểu áo cộc tay bằng vải thô,buộc một sợi dây quanh bụng cho gọn gàng

Từ năm 1827 cho đến năm thứ 1837, vua Minh Mạng đã 4 lần ra chỉ dụbắt nhân dân miền Bắc phải thay đổi trang phục theo kiểu của nhân dân từQuảng Bình trở vào Nam, với lý do: “Nhà nước ta, cõi đất hợp làm một, vănhóa cùng nhau” nên phải thống nhất ăn mặc Theo đó, chỉ dụ cấm đàn bà mặcváy (quần không đáy), lệnh cho phụ nữ Bắc Kỳ ra đường phải mặc quần haiống như phụ nữ Nam Kỳ Tuy vậy, phụ nữ Bắc Kỳ vẫn mặc áo tứ thân, váyđụp, vẫn sử dụng các loại thắt lưng lớn nhỏ, thắt lại ở trước bụng, thoát khỏi

Ngày đăng: 30/04/2023, 23:34

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w