Lý do lựa chọn đề tài Xuyên suốt chiều dài lịch sử tồn tại và phát triển của xã hội loài người,không có bất cứ nền văn hóa nào, không có bất cứ xã hội nào sống và tồn tạibên ngoài giới t
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Xuyên suốt chiều dài lịch sử tồn tại và phát triển của xã hội loài người,không có bất cứ nền văn hóa nào, không có bất cứ xã hội nào sống và tồn tạibên ngoài giới tự nhiên, tách rời giới tự nhiên, mà ngược lại, con người luônluôn gắn bó khăng khít với tự nhiên, giới tự nhiên được xem như là tiền đề, làđiều kiện, là môi trường sống đầu tiên để con người sống và tồn tại Từ chỗ
sợ hãi tự nhiên, nương theo tự nhiên, càng ngày, con người càng tác độngmạnh mẽ tới môi trường tự nhiên
Văn hóa Việt Nam, con người Việt Nam cũng không nằm ngoài quyluật khách quan đó Văn hóa Việt Nam là tổng thể những giá trị vật chất vàtinh thần do cộng đồng các dân tộc Việt Nam sáng tạo ra trong suốt quá trìnhdựng nước và giữ nước Cho đến ngày nay, để lập lại sự cân bằng giữa tựnhiên và con người, giữa tăng trưởng kinh tế với ổn định và phát triển hàihòa, với mong muốn xây dựng một môi trường xã hội bền vững, thì văn hóalại đóng vai trò vừa là động lực, vừa là hệ điều chỉnh cho sự phát triển kinh tế
- xã hội Văn hóa như chất keo kết dính các mối quan hệ kinh tế, chính trị, xãhội…tạo nên hình hài và bản sắc dân tộc Văn hóa có khả năng bao quát mộtcách trực tiếp, đảm bảo tính bền vững của xã hội, tính kế thừa của lịch sử vàkhông bị trộn lẫn ngay cả khi hội nhập vào những cộng đồng lớn hơn
Với mong muốn nghiên cứu kỹ hơn về văn hóa người Việt trong mốiquan hệ với môi trường tự nhiên, văn hóa người Việt với các khía cạnh ẩm
thực, trang phục, đi lại và làm ăn, tôi đã lựa chọn đề tài “Ảnh hưởng của môi trường tự nhiên đến việc hình thành, phát triển văn hóa Việt Nam”
làm đề tài tiểu luận kết thúc môn Cơ sở văn hóa Việt Nam Hy vọng rằngnhững góc nhìn được đề cập trong tiểu luận sẽ góp thêm giá trị vào việcnghiên cứu mối quan hệ giữa môi trường và văn hóa, từ đó xây dựng phươnghướng phát triển văn hóa phù hợp
Trang 22 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Mục đích:
Nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ mối quan hệ biện chứng giữa môi trường
tự nhiên và văn hóa xã hội, nhìn nhận lại quá trình phát triển văn hóa ViệtNam, từ đó đề xuất phương hướng phát triển văn hóa Việt Nam trong thờigian sắp tới
- Nhiệm vụ nghiên cứu
• Hệ thống những khái niệm, cơ sở lý luận về mối quan hệ biệnchứng giữa môi trường tự nhiên và sự hình thành, phát triển văn hóa.• Vậndụng mối quan hệ biện chứng giữa môi trường tự nhiên và văn hóa xã
hội để đánh giá thực trạng phát triển văn hóa Việt Nam hiện nay
• Đề xuất phương hướng đối với nhiệm vụ phát triển văn hóa ViệtNam trong giai đoạn sắp tới
3 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu; kết luận; danh mục tài liệu tham khảo, tiểu luậngồm 3 chương, 10 tiết
Trang 3CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA MỐI QUAN HỆ GIỮA MÔI
TRƯỜNG TỰ NHIÊN VÀ VĂN HÓA 1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Môi trường tự nhiên
Môi trường tự nhiên bao gồm tất cả các sinh vật sống và không sống cótrong tự nhiên, có nghĩa là không phải là nhân tạo Thuật ngữ này thườngđược áp dụng cho Trái Đất hoặc một số phần của Trái Đất Môi trường nàybao gồm sự tương tác của tất cả các loài sống, khí hậu, thời tiết và tàinguyên thiên nhiên có ảnh hưởng đến sự tồn tại của con người và hoạt độngkinh tế Khái niệm môi trường tự nhiên có thể được phân biệt thành các thànhphần:
• Các đơn vị sinh thái hoàn chỉnh hoạt động như các hệ thống tựnhiên mà không có sự can thiệp lớn của con người văn minh, bao gồm tất cảthảm thực vật, vi sinh vật, đất, đá, khí quyển và các hiện tượng tự nhiên xảy
ra trong ranh giới và bản chất của chúng
• Các nguồn tài nguyên thiên nhiên phổ biến và các hiện tượng vật lýthiếu ranh giới rõ ràng, chẳng hạn như không khí, nước và khí hậu, cũng nhưnăng lượng, bức xạ, điện tích và từ tính, không bắt nguồn từ hành động vănminh của con người
Trong cuốn “Giáo trình cơ sở văn hóa Việt Nam”, môi trường tự nhiênđược hiểu là “phần ngoại cảnh bao quanh chúng ta, là cơ sở, nền tảng chocuộc sống của con người, tồn tại và phát triển Môi trường tự nhiên gồm cócác yếu tố: khí quyển, sinh quyển, thủy quyển và thạch quyển” [1, tr22]
Khí quyển là tầng không khí bao quanh Trái đất, trong đó có tầng ozonngăn chặn các tia cực tím và các tia sáng ngoài vũ trụ không cần thiết chocuộc sống xâm nhập vào bề mặt Trái đất; ngoài ra, trong khí quyển còn có cácnguyên tố oxi, nito, cacbon, hydro…là nguồn dưỡng khí duy trì sự sống của
Trang 4con người Sinh quyển bao gồm thế giới thực vật và thế giới động vật, chúng
vô cùng đa dạng và phong phú, tồn tại ở trên mặt đất, dưới biển sâu và tronglòng đất Thủy quyển là quyển nước, một nhân tố hết sức quan trọng cho sựsống của thế giới và được phân bố ở khắp mọi nơi Thạch quyển là là quyển
đá Theo các nhà địa chất, từ khi hình thành Trái Đất, núi lửa hoạt động phunlên các nham thạch bằng đá rồi trải qua hang tỷ năm, những nham thạch đó bịphong hóa, dần dần tạo ra đất Nhờ mưa, lũ, bão tố mà các dòng suối, dòngsông được hình thành, vận chuyển phù sa tạo nên những vùng thung lũng,đầm lầy và đồng bằng màu mỡ
Trong môi trường thực tế, 4 thành tố nêu trên luôn luôn có sự hòa trộn
để tạo ra một môi trường tự nhiên vừa gần gũi, thân thiện, vừa biến đổi khônlường tác động đến cuộc sống của con người theo những cách khác nhau.Trên thực tế, môi trường tự nhiên được chia ra làm hai loại: môi trường thiêntạo và môi trường nhân tạo Môi trường thiên tạo là núi, sông, biển, mặt trời,không khí…, đó là những yếu tố được tạo thành bởi năng lượng vũ trụ mạnh
mẽ mà con người không thể tự tạo ra được Môi trường nhân tạo là môitrường do con người tác động vào tự nhiên nhằm phục vụ cuộc sống củamình, như đê biển, đê sông, kênh rạch, làng xóm,…
1.1.2 Văn hóa
Trong đời sống hàng ngày, chúng ta nói nhiều về “văn hóa”, văn hóa
ăn, văn hóa ở, văn hóa mặc, văn hóa lao động, văn hóa gia đình, văn hóanghe nhìn, văn hóa đọc,… Trong ngôn ngữ thường ngày, sắc thái nhiều vẻ và
ý nghĩa đa dạng của từ “văn hóa” được thể hiện trên các lĩnh vực chính trị, tưtưởng, khoa học; xuất hiện trong các văn kiện, các cương lĩnh chính trị củaĐảng, được báo chí sử dụng làm công cụ truyền đạt tư tưởng Đặc biệt, cáchoạt động nghệ thuật thường xuyên sử dụng từ “văn hóa” Có thể nói, vănhóa là một khái niệm gần gũi trong cuộc sống hàng ngày Thế nhưng, văn hóahoàn toàn “không phải là khái niệm có nội hàm hẹp, đơn nghĩa, đơn tuyến,
Trang 5được sử dụng trong việc khái quát trí thức lịch sử hay một vài tri thức xã hộinào đó” [2, tr.14]
Nếu được hiểu theo chiết tự từ, thì “văn” là đẹp, “hóa” là giáo hóa Vậythì “văn hóa”, hiểu một cách đơn giản, chính là giáo dục, giáo hóa con người
ta hướng đến cái đẹp, điều hay lẽ phải trong cuộc sống
Nếu văn hóa được tiếp cận dưới góc độ khoa học, người ta bắt đầu thấytính phức tạp và đa dạng của nó đến mức khó hiểu Thời buổi đầu, qua nghiêncứu mối tương quan của thuật ngữ “văn hóa” trong tiếng Pháp, tiếng Anh vớitiếng Hy Lạp cổ, người ta cho rằng: văn hóa gắn với sự sáng tạo của conngười, gắn với sự tác động của con người vào tự nhiên nhằm tạo ra những sảnphẩm nông nghiệp phục vụ cuộc sống Cũng từ nền văn minh Hy Lạp cổ đại,Xixeron quan niệm: Triết học là văn hóa vì triết học là khoa học mở đường,
là khoa học bao trùm văn học, sử học, nghệ thuật Nhưng đến thế kỷ XVIII,
từ Châu Âu văn minh, một học giả người Pháp cho rằng văn hóa là trí tuệcủa con người, vì con người có trí tuệ thì mới có thể góp phần xây dựng một
xã hội tốt đẹp Vào năm 1774, một nhà luật học người Đức định nghĩa: vănhóa là sự tác động của con người vào tự nhiên, làm biến đổi tự nhiên, văn hóa
là hoạt động mang tính xã hội và là sản phẩm đặc trưng của con người
Sang đến phương Đông, Mạnh Tử quan niệm văn hóa đồng nghĩa vớigiáo dục, giáo hóa, bởi vì giáo dục, giáo hóa nhằm chế ngự bản năng khôngtốt, hướng con người đến với cái chân, thiện, mỹ Nhà tư tưởng người Ấn lạicho rằng: văn hóa là một khái niệm rộng, không chỉ bao hàm giáo hóa, giáodục mà còn bao gồm cả phong tục tập quán, văn học, nghệ thuật và khoahọc Tức là khái niệm văn hóa đã được phát triển, bao gồm thêm nhiều lĩnhvực ngoài giáo dục
Các nhà khoa học trong nước cũng có những cách tiếp cận khác nhau
về văn hóa Có quan niệm cho rằng văn hóa là cách sinh hoạt của con người;
Trang 6có quan niệm lại nhấn mạnh văn hóa là quá trình nhân hóa, là sự tách ra khỏigiới động vật.
Trong cuốn giáo trình Cơ sở văn hóa Việt Nam, đã nêu ra khái niệm vềvăn hóa một cách khái quát, đầy đủ nhất như sau: “Văn hóa là một tổng thể
hệ thống những giá trị, những chuẩn mực, những thói quen, những hoạt độngtrong thực tiễn, có ý thức, mang tính xã hội, sáng tạo và nhân văn của mộtcộng đồng người nhất định trong lịch sử nhằm thỏa mãn nhu cầu của cuộcsống và tạo ra bản sắc riêng” [3, tr.9]
Từ định nghĩa trên, có thể rút ra mấy đặc tính tiêu biểu của văn hóanhư sau:
• Văn hóa mang tính tổng thể, hệ thống
• Văn hóa là sự kết tinh những giá trị
• Văn hóa mang tính chuẩn mực
• Văn hóa mang tính thực tiễn
• Văn hóa bao gồm những hoạt động có ý thức của con người
• Văn hóa mang tính xã hội
• Văn hóa mang tính sáng tạo và nhân văn
Trang 71.1.3 Phát triển văn hóa
Khi đánh giá sự phát triển văn hóa trong các thời đại khác nhau, C.Mác
và Ph.Angghen không luận chứng cho những thành tựu riêng biệt của mỗithời đại ở một hoạt động nào đó, mà các ông đề cập tới trình độ phát triểnchung thông qua những thông số quan trọng nhất về tồn tại của con ngườitrong quan hệ với tự nhiên và với xã hội Có thể nói, trong tư tưởng củaC.Mác và Ph.Angghen, sự phát triển văn hóa được thể hiện trực tiếp trong sựphát triển những điều kiện tự nhiên và xã hội, và những tiền đề của hoạt độngcon người được thể hiện trong quá trình ấy
Nếu văn hóa là sự thống nhất trong thực tiễn hoạt động của con ngườivới tự nhiên và xã hội, thì phát triển văn hóa phải phát triển cả hoạt độngthực tiễn – tinh thần và thực tiễn – vật chất của con người Như vậy, pháttriển văn hóa có liên quan đến tiến bộ xã hội, bởi bản chất của tiến bộ xã hộitức là phát triển con người
1.2 Mối quan hệ giữa môi trường tự nhiên và văn hóa
1.2.1 Môi trường tạo tiền đề hình thành văn hóa
Trước hết, con người được sinh ra từ tự nhiên, môi trường tự nhiên làtiền đề cần thiết cho sự xuất hiện của con người, điều này chính là mối quan
hệ giữa con người với môi trường tự nhiên Càng ở thời kỳ sơ khai, môitrường tự nhiên tác động đến đời sống con người ngày càng mạnh mẽ và sâusắc, con người nguyên thủy, ban đầu là sợ hãi thiên nhiên, dần dần sống dựavào thiên nhiên, phụ thuộc vào thiên nhiên Môi trường nào thì con ngườiphải kiếm ăn theo cách tương ứng: Những cư dân tại các hòn đảo chắc chắnphải kiếm ăn bằng nghề săn bắt cá, cư dân trên các thảo nguyên phải biếtchăn nuôi, du mục, những người sống bên những cánh rừng trên lục địa lạikiếm ăn bằng săn bắn, hái lượm… Quá trình lao động sản xuất ra của cải vậtchất này dần dần tạo thành những phương thức sản xuất nhất định, và phương
Trang 8thức sản xuất lại quy định lối sống, văn hoá của xã hội ấy Có thể nói, hoạtđộng sản xuất của cải vật chất là hoạt đống sống căn bản nhất của con người
và chính nó quyết định nhiều nhất đến sự hình thành và phát triển văn hoácủa từng xã hội Có thể nói, tuy gián tiếp nhưng chính môi trường đã quyđịnh sự hình thành và phát triển của mỗi một nền văn hoá nói chung và mộthình thái biểu tượng nào đó nói riêng
Năm 1898, một nhà văn người Anh đã nêu lên 2 mô hình thể hiện mốiquan hệ giữa văn hóa với môi trường tự nhiên: mô hình phương Đông nhấnmạnh đến sự hài hòa giữa Thiên – Địa – Nhân; trong khi người phương Đôngtheo văn minh trồng trọt, sống định cư, ít di chuyển, theo tín ngưỡng vạn vậthữu linh, thì người phương Tây theo văn minh du mục, thích di chuyển,hướng ngoại, có tư tưởng chinh phục tự nhiên, có tư duy khoa học nhưngmạnh mẽ và cực đoan
Bên cạnh đó, môi trường còn tác động đến tâm trí, tư tưởng và đờisống tinh thần của con người Xuất phát từ gốc văn hóa nông nghiệp, khácvới gốc văn hoá du mục ở chỗ trọng tĩnh hơn động, lại có liên quan nhiều vớicác hiện tượng tự nhiên, tư tưởng triết học Việt Nam đặc biệt chú tâm đếncác mối quan hệ mà sản phẩm điển hình là thuyết âm dương ngũ hành (khônghoàn toàn giống Trung Quốc) và biểu hiện cụ thể rõ nhất là lối sống quânbình hướng tới sự hài hoà Sau đó, chịu nhiều ảnh hưởng tư tưởng của Phậtgiáo, Nho giáo, Đạo giáo được dung hợp và Việt hoá đã góp phần vào sự pháttriển của xã hội và văn hoá Việt Nam Đặc biệt các nhà Thiền học đời Trần đãsuy nghĩ và kiến giải hầu hết các vấn đề triết học mà Phật giáo đặt ra (Tâm-Phật, Không-Có, Sống-Chết ) một cách độc đáo, riêng biệt Tuy Nho học vềsau thịnh vượng, nhiều danh nho Việt Nam cũng không nghiên cứu Khổng-Mạnh một cách câu nệ, mù quáng, mà họ tiếp nhận cả tinh thần Phật giáo,Lão-Trang nên tư tưởng họ có phần thanh thoát, phóng khoáng, gần gũi nhândân và hoà với thiên nhiên hơn Như vậy, Việt Nam không có một hệ thống lý
Trang 9luận triết học và tư tưởng riêng, thiếu triết gia tầm cỡ quốc tế Nhưng không
có nghĩa là không có những triết lý sống và những tư tưởng phù hợp với dântộc mình
Xã hội nông nghiệp có đặc trưng là tính cộng đồng làng xã với nhiềutàn dư nguyên thuỷ kéo dài đã tạo ra tính cách đặc thù của con người ViệtNam Đó là một lối tư duy lưỡng hợp, một cách tư duy cụ thể, thiên về kinhnghiệm cảm tính hơn là duy lý, ưa hình tượng hơn khái niệm, nhưng uyểnchuyển linh hoạt, dễ dung hợp, dễ thích nghi Đó là một lối sống nặng tìnhnghĩa, đoàn kết gắn bó với họ hàng, làng nước (vì nước mất nhà tan, lụt thì lút
cả làng) Đó là một cách hành động theo xu hướng giải quyết dung hoà, quânbình, dựa dẫm các mối quan hệ, đồng thời cũng khôn khéo giỏi ứng biến đãtừng nhiều lần biết lấy nhu thắng cương, lấy yếu chống mạnh trong lịch sử
1.2.2 Văn hóa tác động trở lại đến môi trường
Một trong những tác động của văn hóa đến xã hội thể hiện qua hiệuứng chức năng Đó là sự phản ánh cách thức văn hóa hoạt động để có thể duytrì và phát triển xã hội Những tác động này có thể kể đến việc thúc đẩy sựtham gia của người dân, góp phần phát triển cộng đồng, hình thành và giữgìn bản sắc, xây dựng sự gắn kết xã hội… Suy nghĩ và hành vi của mỗingười chịu ảnh hưởng bởi hai yếu tố cá nhân và môi trường xã hội và hai hìnhthức định hướng là điều chỉnh và chế tài
Thứ nhất, những hành động được điều chỉnh theo quy định của phápluật, theo những quy phạm pháp luật, chịu những chế định cụ thể Đây làcách định hướng bề nổi vì chúng có thể được nhận diện rõ ràng Mọi ngườidân sống trong xã hội đều phải tuân thủ những điều được quy định trong Hiếnpháp và pháp luật Nếu vi phạm những điều đó, con người sẽ phải chịu xửphạt theo các chế tài Đây là những quy định theo hình thức mang tính chấtbắt buộc và góp phần định hướng hoạt động của con người trong hoạt độngthực tiễn với mục đích bảo vệ và bảo đảm sự công bằng giữa mọi người
Trang 10Thứ hai, những ảnh hưởng ngầm không được công nhận theo hướngchính thức ở bề nổi và khó nhìn thấy được Đó là các thông lệ, thói quen vàcác “luật bất thành văn” góp phần hình thành nên văn hóa, bởi quan niệm
“trăm cái lý không bằng một tý cái tình” trong văn hóa Việt Nam Trong cách
tư duy của người Việt, cái tình luôn có tác động mạnh và trực tiếp đến hành
vi của con người Trong một xã hội như vậy, những hành động thể hiện nhântính, tình người được đánh giá cao, được tôn vinh Bởi vậy, để có được sựủng hộ của cộng đồng trong quá trình phát trình phát triển xã hội, việc tácđộng đến tình cảm của con người là rất quan trọng
Trên cơ sở hai định hướng đó, văn hóa được hình thành, phát triển vàchi phối đến suy nghĩ, hành vi của con người trong xã hội Tuy nhiên, vănhóa vừa thể hiện những tác động, vừa được hoàn thiện theo sự phát triển xãhội
Điểm quan trọng nhất của văn hóa tác động đến sự phát triển xã hội làcách con người giao tiếp với nhau Xã hội được hình thành trên nhiều mốiquan hệ khác nhau của con người, trong đó quan hệ giữa con người với conngười là mối quan hệ cơ bản nhất Để duy trì và phát triển nó, con người traođổi thông tin, tác động, ảnh hưởng lẫn nhau thông qua phương tiện giao tiếpbằng ngôn ngữ, thể hiện qua lời nói, chữ viết, hay giao tiếp phi ngôn ngữ, thểhiện qua nét mặt, cử chỉ, trang phục… Qua đó, con người tạo mối liên hệ, sựtương tác và khẳng định sự tồn tại, sự sống của mình trong xã hội
Trang 11CHƯƠNG 2: ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN ĐẾN
HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VĂN HÓA VIỆT NAM
Văn hóa vùng có thể được hiểu là tập hợp những đặc điểm của mộtcộng đồng dân cư về lao động sản xuất, tổ chức xã hội, sinh hoạt cộng đồng
mà những đặc điểm đó được hình thành do sự tác động ảnh hưởng của điềukiện địa lý, khí hậu, thổ nhưỡng trong một khu vực (vùng) nhất định Trongmột vùng văn hóa có thể cùng tồn tại những tộc người khác nhau và mỗi mộttộc người sẽ có những cách ứng xử khác nhau tạo nên những sắc thái đadạng Như vậy, trong văn hóa vùng vừa có sự thống nhất, vừa có sự khácbiệt Dựa vào điều kiện tự nhiên như núi rừng, sông ngòi, biển cả, khí hậu,thổ nhưỡng…ở nước ta có thể chia thành các vùng văn hóa sau:
2.1 Vùng văn hóa Tây Bắc – Việt Bắc
• Đặc điểm địa lý: Vùng Tây Bắc là vùng miền núi phía tây của miền
bắc Việt Nam, có chung đường biên giới với Lào và Trung Quốc Đây là mộttrong 3 tiểu vùng của Bắc Bộ Việt Nam, bao gồm các tỉnh: Mường Lay, LaiChâu, Lào Cai, Điện Biên, Sơn La, Yên Báí Địa hình Tây Bắc hiểm trở, cónhiều khối núi và dãy núi cao chạy theo hướng Tây BắcĐông Nam, trong đó
có dãy Hoàng Liên Sơn dài đến 180 km, rộng 30 km, cao từ 1500m trở lên,các đỉnh cao nhất như Phanxipăng 3142m, Yam Phình 3096m, Pu Luông2.983m Dãy Hoàng Liên Sơn, được người Thái gọi là "sừng trời" (Khauphạ), chính là bức tường thành phía đông và vùng Tây Bắc Vùng Tây Bắc cóhai con sông lớn, đó là sông Đà (tên Thái là Nặm Tè) và sông Thao (tức sôngHồng), thượng nguồn của sông Mã cũng nằm trên vùng đất Tây Bắc, phíaTây tỉnh Sơn La Các con sông này không chỉ là cơ sở cho sự định cư của củacác dân tộc nơi đây cũng như nền nông nghiệp trong vùng mà còn là nguồncảm hứng cho những câu hát và truyền thuyết của các tộc người Thái,Mường
Trang 12• Dân cư: Tây Bắc là nơi sinh tụ lâu đời, ngàn năm của cư dân văn
minh đồng thau với hơn 20 tộc người cư trú xen kẽ, bao gồm các dân tộc:Thái, Dao, H’Mông, Bố Y, Giáy, Há Nhì, Kháng, Máng, Khơ-mu, Sila, Tày,Xinh-mun, La-ha…
• Đời sống văn hóa: Tuy nông nghiệp không phải là một khía cạnh
văn hóa phổ biến trong mỗi tiểu vùng nhưng riêng với vùng văn hóa Tây Bắc,đây có thể coi là một yếu tố làm nên nét văn hóa độc đáo của vùng Văn hóanông nghiệp thung lũng Thái nổi tiếng vì hệ thống tưới tiêu, được gói gọntrong 4 từ văn vần: "Mường - Phai - Lái –Lịn", lợi dụng độ dốc của dòngchảy dốc của, người ta lấy đá ngăn suối làm nước dâng cao, đó là cái "phai".Phía trên "phai" xẻ một đường chảy lên dẫn vào cánh đồng, đó là "mương"
Từ "mương" xẻ những rãnh chảy vào ruộng, đó là "lái" Còn "lịn" là cách lấynước từ nguồn trên núi cao, dẫn về ruộng, về nhà, bằng các cây tre đục rừngđục mấu, nối tiếp nhau, có khi dài hàng cây số
Người Kinh vùng núi Phú Thọ (cũ) học theo cách làm này và gọi chệch
đi là "lần nước" Do chủ động tưới tiêu nên người Thái nuôi cá ngay trongmực nước của ruộng lúa Gặt lúa xong là tháo nước bắt cá Cá nuôi trongruộng vừa ăn sâu bọ cỏ dại, vừa sục bùn cho tốt lúa Cho nên, món dâng cúngtrong lễ cơm mới bao giờ cũng có xôi và cá nướng
Ngoài ra, bản làng có một thái độ rất kính trọng với rừng Chẳng phải
vì rừng có ma thiêng, mà vì rừng là nơi con người nương tựa để tồn tại LuậtThái có hàng chục điều quy định về việc khai thác rừng, săn bắn thú, đặc biệt
là những quyết định về bảo vệ rừng đầu nguồn Mỗi bản làng có một già làng(trưởng bản) đứng đầu, phải là một người đàn ông có kinh nghiệm lao độngsản xuất, am hiểu phong tục tập quán của dân tộc mình, có uy tín và có khảnăng giao tiếp với người láng giềng Tín ngưỡng vạn vật hữu linh đậm nét,vai trò của thầy mo được coi trọng, hàng năm có lễ hội xuân, lễ hội mùa