1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TL CSVHVN ảnh hưởng của phật giáo đến đời sống văn hoá việt nam

32 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sống văn hoá Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Xã Hội Và Nhân Văn - Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Văn hoá Việt Nam
Thể loại Bài luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 47,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì các triết lý của Phật giáo xuất phát từ tâm tưnguyện vọng của người lao động nên số lượng người theo Phật tăng lên nhanhchóng.. Theo nghĩa rộng, văn hoá là toàn bộ những giá trị vật c

Trang 1

MỤC LỤC

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tôn giáo là một nhu cầu của bộ phận văn hoá tinh thần của từng conngười, của từng cộng đồng xã hội Trong đó Phật giáo là một trào lưu triết họctôn giáo với cái đích là giúp con người thoát khỏi nỗi khổ

Nội dung cơ bản của triết học Phật giáo là đề cập đến việc lý giải cănnguyên của nỗi khổ và tìm con đường giải thoát con người khỏi nỗi khổ triềnmiên đó

Phật giáo khởi thuỷ ở Ấn Độ truyền đi khắp các xứ lân cận Trước hếtsang các nước Trung Á rồi sang Tây Tạng, Trung Hoa, Nhật Bản và các nướcmiền Nam châu Á Việt Nam cũng thuộc trong phạm vi ảnh hưởng ấy Phậtgiáo du nhập vào nước nào đều mang tinh thần lịch sử, ảnh hưởng của nướcđó

Phật giáo đến với người Việt từ rất lâu đời và nó nhanh chóng đã có vịtrí nhất định trong lòng mỗi người dân nước ta

Từ khi vào Việt Nam, Phật giáo ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinhthần của người dân Việt Nam Vì các triết lý của Phật giáo xuất phát từ tâm tưnguyện vọng của người lao động nên số lượng người theo Phật tăng lên nhanhchóng

Chính vì lẽ đó, em đã chọn đề tài “ Ảnh hưởng của Phật giáo đến đờisống văn hoá Việt Nam” làm đề tài tiểu luận cho việc kết thúc môn học “Cơ

sở văn hoá Việt Nam” của mình

2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Xác định rõ khái niệm về văn hoá, chức năng, đặc trưng của nó

- Xác định được giáo lý, bản chất, con đường du nhập đạo Phật vào Việt Nam

và những ảnh hưởng của nó

Trang 3

- Đề xuất một số giải pháp nâng cao giá trị văn hoá tinh thần của đạo Phật vàođời sống nhân dân Việt Nam.

3 Nội dung nghiên cứu

- Nêu được cái khái niệm, đặc trưng, chức năng của văn hoá

- Tìm hiểu được giáo lý, bản chất, con đường du nhập của đạo Phật

- Đưa ra được giải phát nhằm phát huy giá trị văn hoá tinh thần đạo Phật vàođời sống nhân dân Việt Nam

Trang 4

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN - ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO

ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ VIỆT NAM

1.1 Khái niệm văn hoá

Văn hoá là gì?

Theo cách hiểu của chủ tịch Hồ Chí Minh,

Khi sinh thời khái niệm văn hoá của Bác được hiểu theo ba nghĩa:nghĩa rộng, nghĩa hẹp và nghĩa rất hẹp

Theo nghĩa rộng, văn hoá là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần

do loài người sáng tạo ra với phương thức sử dụng chúng, nhằm đáp ứng lẽsinh tồn, đồng thời đó cũng là mục đích của cuộc sống loài người

Người viết : “ Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loàingười mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật,khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằngngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng chúng Toàn bộ những sángtạo và phát minh đó tức là văn hoá Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phươngthức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằmthích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn.”

Theo nghĩa hẹp, người viết : “ Trong công cuộc kiến thiết nước nhà, cóbốn vấn đề cần chú ý đến, cũng phải coi trọng ngang nhau: chính trị, kinh tế,

xã hội, văn hoá Nhưng văn hoá là một kiến trúc thượng tầng.”

Theo nghĩa rất hẹp, văn hoá đơn giản là trình độ học vấn của conngười, thể hiện ở việc Hồ Chí Minh yêu cầu mọi người phải đi học “văn hoá”,xoá mù chữ,…

Còn theo cách hiểu của nhà văn hoá nổi tiếng của Việt Nam thì văn hoáđược hiểu theo những đặc trưng cơ bản sau đây:

Trang 5

Từ “văn hoá” có rất nhiều nghĩa.

Trong tiếng Việt, văn hoá được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ họcthức (trình độ văn hoá), lối sống (nếp sống văn hoá)

Theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn(văn hoá Đông Sơn)…

Trong khi theo nghĩa rộng, thì văn hoá bao gồm tất cả, từ những sảnphẩm tinh vi hiện đại cho đến tín ngưỡng, phong tục, lối sống, lao động,…

Trên thế giới có hang trăm hàng ngàn cách hiểu khác nhau về văn hoánhưng để hiểu một cách cơ bản thì ta cần tìm ra những đặc trưng cơ bản nhấtcủa văn hoá

Còn khi sinh thời Bác thì khái niệm văn hoá của Bác được hiểu theo banghĩa: nghĩa rộng, nghĩa hẹp và nghĩa rất hẹp

Theo nghĩa rộng, văn hoá là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần

do loài người sáng tạo ra với phương thức sử dụng chúng, nhằm đáp ứng lẽsinh tồn, đồng thời đó cũng là mục đích của cuộc sống loài người

Người viết : “

Theo cuốn cơ sở văn hoá Việt Nam của Phó giáo sư, Viện sĩ Trần NgọcThêm có ghi: “ Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinhthần do con người sáng tạo và tích luỹ quan quá trình hoạt động thực tiễn,trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội.”

1.2 Đặc trưng và chức năng của văn hoá

Các đặc trưng cơ bản của văn hoá:

Thứ nhất, văn hoá có tính hệ thống Đặc trưng này để phân biệt hệthống với tập hợp, nó giúp phát hiện những mối liên hệ mật thiết giữa cáchiện tượng, sự kiện thuộc một nền văn hoá, phát hiện các đặc trưng, nhữngquy luật hình thành và phát triển của nó

Trang 6

Đặc trưng thứ hai của văn hoá là tính giá trị Văn hoá theo nghĩa đennghĩa là “trở thành đẹp, trở thành có giá trị” Tính giá trị cần để phân biệt giátrị với phi giá trị Nó là thước đo mức độ nhân bản của xã hội và con người.

Các giá trị văn hoá, theo mục đích có thể chia thành giá trị vật chất(phục vụ cho nhu cầu vật chất) và giá trị tinh thần (phục vụ cho nhu cầu tinhthần), theo ý nghĩa có thể chia thành giá trị sử dụng, giá trị đạo đức và giá trịthẩm mỹ, theo thời gian có thể phân biệt các giá trị vĩnh cửu và giá trị nhấtthời Sự phân biệt các giá trị theo thời gian cho phép ta có được cái nhìn biệnchứng và khách quan trong việc đánh giá tính giá trị của sự vật, hiện tượng,tránh được những xu hướng cực đoan – phủ nhận sạch trơn hoặc tán dươnghết lời

Vì vậy, muốn kết luận một hiện tượng có thuộc phạm trù văn hoá haykhông phải xem xét mối tương quan giữa các mức độ “giá trị” và “phi giá trị”của nó

Đặc trưng thứ ba của văn hoá là tính nhân sinh Tính nhân sinh chophép phân biệt văn hoá như một hiện tượng xã hội (do con người sáng tạo,nhân tạo) với các giá trị tự nhiên (thiên tạo) Văn hoá là cái tự nhiên đượcbiến đổi bởi con người Sự tác động của con người vào tự nhiên có thể mangtính vật chất ( như việc luyện quặng, đẽo gỗ,…) hoặc tinh thần ( như việc đặttên, truyền thuyết cho các cảnh quan thiên nhiên…)

Văn hoá có tính lịch sử Nó cho phép phân biệt văn hoá như sản phẩmcủa một quá trình và được tích luỹ qua nhiều thế hệ với văn minh như sảnphẩm cuối cùng, chỉ ra trình độ phát triển của từng giai đoạn Tính lịch sử tạocho văn hoá một bề dày, một chiều sâu, nó buộc văn hoá thường xuyên tựđiều chỉnh, tiến hành phân loại và phân bố lại các giá trị Tính lịch sử đượcduy trì bằng truyền thống văn hoá Truyền thống văn hoá là những giá trịtương đối ổn định (những kinh nghiệm tập thể) được tích luỹ và tái tạo trongcông đồng người qua không gian và thời gian, được đúc kết thành những

Trang 7

khuôn mẫu xã hội và cố định hoá dưới dạng ngôn ngữ, phong tục, tập quán,nghi lễ, luật pháp, dư luận,…

Các chức năng của văn hoá

Văn hoá có chức năng tổ chức: xã hội loài người được tổ chức theonhững cách thức đặc biệt thành những làng xã, quốc gia, đô thị, hội đoàn, tổnhóm, mà giới động vật chưa hề biết tới đó là nhờ văn hoá Làng, xã, quốcgia, đô thị… của mỗi dân tộc lại cũng khác nhau- cái đó cũng do sự chi phốicủa văn hoá Chính tính hệ thống của văn hoá là cơ sở cho chức năng này

Văn hoá có chức năng điều chỉnh: mọi sinh vật có khả năng thích nghivới môi trường xung quanh bằng cách tự biến đổi mình sao cho phù hợp với

tự nhiên qua cơ chế di truyền và chọn lọc tự nhiên Con người thì hành xửtheo một cách thức hoàn toàn khác hẳn: dùng văn hoá để biến đổi tự nhiênphục vụ cho mình bằng cách tạo ra đồ ăn, quần áo, nhà cửa, vũ khí, máy móc,thuốc men,… Tính giá trị là cơ sở cho chức năng điều chỉnh của văn hoá Nhờ

có chức năng điều chỉnh, văn hoá trở thành mục tiêu và động lực của sự pháttriển trong xã hội loài người

Văn hoá có chức năng giao tiếp: Sự khác biệt giữa con người với độngvật là giao tiếp Văn hoá tạo ra những điều kiện và phương tiện (ngôn ngữ và

ký hiệu) cho sự giao tiếp ấy

Văn hoá là môi trường giao tiếp của con người.Văn hoá là sản phẩmcủa giao tiếp, sản phẩm văn hoá được tạo ra bằng hoạt động của các cá nhân,văn hoá chỉ có thể là sản phẩm của hoạt động xã hội

Văn hoá có chức năng giáo dục.Do có năng lực thông tin hoàn hảo vănhoá mã hoá hệ thống, ký hiệu sản phẩm nằm ngoài cá nhân, con người

Do vậy, nó được tích luỹ nhân bản và tăng lên nhanh chóng từ thế hệnày sang thế hệ khác

Trang 8

Tích luỹ và chuyển giao: ngôn ngữ, phong tục, tập quán, nghi lễ, luậtpháp, dư luận,… từ thế hệ này sang thế hệ khác tạo nên truyền thống văn hoá.Các giá trị ổn định khác giá trị đang hình thành thành hệ thống chuẩn mực màcon người đang hướng tới.

Văn hoá quyết định hình thành nhân cách con người và đưa con ngườigia nhập vào cộng đồng xã hội

Trang 9

CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA - ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT

GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ VIỆT NAM

2.1 Hoàn cảnh ra đời của đạo Phật

Phật giáo là một trong ba tôn giáo lớn của thế giới, nó ra đời ở Ấn Độ,

do Siddharta Gautama (563-483 trước Công nguyên) sáng lập

Thái tử Cồ đàm Tất Đạt Đa (Siddharta Gautama), sinh năm 563 tr.Cn,con vua Tịnh Phạm (Shuddohdhana) nước Catỳlavệ (Capilavaxtu) ở chân núiHymalaya- miền đất bao gồm một phần miền Nam nước Nêpan và một phầncủa Ấn Độ ngày nay

Ngay từ nhỏ, Thái tử Tất Đạt Đa đã được sống trong nhung lụa, khôngtiếp xúc với xã hội bên ngoài, không hề thấy và không hề biết rằng trong cuộcđời lại có những đói khát, bệnh tật, già yếu và chết chóc

Năm 17 tuổi, Thái tử cưới vợ là công chúa Da-du-đà-la (Yasodhara)sinh một con trai là Laầula Từ đó, Thái tử mới được tiếp xúc với hiện thựccuộc sống ngoài chốn cung đình Những cuộc gặp gỡ bất ngờ với những cảnhgià yếu, bệnh tật, chết chóc,… đã tác động mạnh đến tâm hồn nhạy cảm củaNgài

Năm 29 tuổi, Ngài quyết định rời bỏ ngôi cao quyền lực, rời bỏ cuộcsống nhung lụa xa hoa để dấn thân vào con đường tu hạnh khổ hạnh, mongtìm được sự giải thoát cho chúng sinh

Sau 6 năm tu khổ hạnh ở núi Tuyết Sơn mà không đạt được sự yên tĩnhtrong tâm hồn và cũng không nhận thức được chân lí, Ngài nghiệm ra là cảcuộc sống tràn đầy vật chất, thoả mãn dục vọng, lẫn cuộc sống khổ hạnh đềukhông giúp tìm con đường giải thoát, chỉ có đường trung đạo là đúng đắnnhất Do đó, Ngài tự mình đào sâu suy nghĩ để nhận thức chân lí và bỏ lối tukhổ hạnh, đi sâu vào tư duy trí tuệ

Trang 10

Sau 49 ngày thiền định dưới gốc bồ đề tại làng Uruvela, chìm đắmtrong tư duy sâu thẳm, Ngài tuyên bố đã đến được với chân lí, hiểu được bảnchất của tồn tại, nguồn gốc khổ đau và con đường cứu vớt Ngài tự xưng làPhật (Buddha – có nghĩa là giác ngộ) Người đời gọi là Thích Ca Mâu Ni (bậcThánh của dòng họ Thích ca).

Từ đó, Phật truyền bá đức tin, thành lập các đoàn truyền đạo Đạo Phật

ra đời Giáo lí đạo Phật sâu sắc, hấp dẫn, đề cao sự bình đẳng, hướng tới sựgiải thoát , lễ nghi đạo Phật đơn giản nên nhanh chóng thu hút được đông đảotín đồ

Phật giáo Đại thừa chủ trương “không luận”, cho rằng vạn pháp tuy có(“hữu”) nhưng thự ra là không (“vô”) Phật giáo Tiểu thừa chủ trương “hữuluận”, cho rằng vạn pháp vô thường nhưng vẫn có “hữu” một cách tương đối,chứ không nói là không “vô” được

Phật giáo Đại thừa cho rằng ngay trong quá trình sinh tử, con người vẫn

có thể chứng ngộ được cảnh giới Niết bàn, nếu như tu luyện tốt

Ngược lại, Phật giáo Tiểu thừa cho rằng chỉ khi nào thoát được khỏivòng luân hồi sinh tử, con người mới có thể đại đến được cảnh giới Niết bàn

Phật giáo Đại thừa chủ trương “tự độ tự tha, tự giác tha”, nghĩa là vừa

tự giác ngộ, tự giải thoát, vừa giác ngộ, giải thoát cho chúng sinh Trong khi

đó, Phật giáo Tiểu thừa cho rằng chỉ có “tự độ, tự tha” Chính vì quan niệmnày mà có tên gọi là “Đại thừa” (con đường cứu vớt rộng, hay cỗ xe lớn, chở

Trang 11

được nhiều người) và “Tiểu thừa” (con đường cứu vớt hẹp, chở được ítngười).

Về sự thờ phụng và cách thức tu hành, Phật giáo Đại thừa thờ Phật vàcác vị Bồ tát, người tu hành mặc áo nâu và tự lao động để sống, còn Phật giáoTiểu thừa chỉ thờ Phật, người tu hành mặc áo vàng và sống bằng khất thực

2.2 Giáo lí cơ bản của đạo Phật

Giáo lí của đạo Phật được thể hiện trong Tam tạng kinh điển là Kinhtạng, Luật tạng và Luận tạng

Kinh tạng (Sutra Pitaka) là những sách ghi lời Phật Thích Ca giảng vềgiáo lí, được đệ tử A-nan-đa kể lại trong lần kết tập đầu tiên

Luật tạng (Vinaya Pitaka) là sách ghi những giới luật do Phật chế địnhlàm khuôn phép sinh hoạt cho tăng đoàn và các đệ tử tại gia, do Ưu-bà-ly kểlại trong lần kết tập đầu tiên

Luận tạng (Abhidharma Pitaka) là hệ thống những luận giải của các Hộpháp về kinh tạng là luật tạng

Giáo lí cơ bản của đạo Phật được thể hiện qua những khái niệm như:

Vô tạo giả, Vô thường, Vô ngã, Tứ diệu đế,…

Vô tạo giả

Vô tạo giả là không có kẻ sáng tạo đầu tiên

Trong giáo lí của đạo Phật thì không gian là vô tận, thế giới nhiều nhưcát sông Hằng Không gian có “Tam thiên thế giới” gồm: Đại thiên thế giới,Trung thiên thế giới, Tiểu thiên thế giới Mỗi tiểu thiên thế giới có hàng chụcngàn thế giới Thời gian có “tam kiếp” gồm: đại kiếp, trung kiếp và tiểu kiếp.Một đại kiếp bằng 4 trung kiếp, một trung kiếp bằng 20 tiểu kiếp, một tiểukiếp bằng hàng chục triệu năm

Trang 12

Thế giới trong không gian được gọi là thế gian Mỗi thế giới đều cómột vật ở trung tâm là Tu-di Tu-di là tên quả núi, có đỉnh và chân, xungquanh núi có mặt trời, mặt trăng và bốn vùng thiên hạ.

Dưới Tu-di là địa ngục, bốn xung quanh, lưng chừng núi là chỗ ở của tứthiên hạ là: người, atula, ngã quỷ, súc sinh,… Ở lưng chừng xung quanh núi,cao hơn là cõi trời thứ nhất, chỗ ở của Thiên vương Ở trên đỉnh núi có cõitrời thứ hai, là chỗ ở của Vua Đế Thích và 32 vị thần khác Trên đỉnh Tu-di làcõi trời thứ ba, thứ tư, thứ năm, thứ sáu Cõi thứ sáu là cõi cuối cùng trongdục giới Thế giới được phân chia thành ba cõi lớn: Dục giới, Sắc giới, và Vôsắc giới

Dục giới : gồm những sắc chất không trong sạch, có bốn cảnh khổ vàhai cảnh phúc

Bốn cảnh khổ là: Địa ngục, Súc sinh, Ngã quỷ, A-tu-la

Địa ngục (Ni Raya-Ni: Không, Raya: Hạnh phúc) là cảnh khổ màchúng sinh phải chịu vì đã tạo nghiệp ác Ở đó cũng có cơ quan thoát ra, donghiệp Thiện tạo ra, được Địa Tạng Bồ Tát cứu độ

Súc sinh: Chúng sinh bị tái sinh vào cảnh cầm thú vì tạo nghiệp xấu.Ngã quỷ (Peta Yoni-Peta: quỷ, Yoni: cảnh): Peta là người tuyệt đốikhông có hạnh phúc, mắt người không thấy được

Atula (Asuta – Yoni) là cảnh giới của nhiều người không bao giờ vui,không có tiêu khiển giải trí, là nhiều chúng sinh cùng đau khổ như ngã quỷ

Hai cảnh phúc: là Cảnh người và Cảnh trời

Cảnh người là cảnh giới có hạnh phúc và khổ não Đây là cảnh hiệnthực

Trang 13

Cảnh trời là cõi hữu phúc, người ở cõi này cũng có hình thể, nhưng tinh

tế, không thấy được Họ cũng chết, trí tuệ không hơn người Đây là cảnh hưkhông

Vạn pháp (các sự vật hiện tượng) trong thế giới được tạo nên bởi nhữngphần tử vật chất và tinh thần gọi là Ngũ uẩn: Sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn,hành uẩn, thức uẩn

Sắc uẩn gồm tứ đại: Địa, thuỷ, hoả, phong

Thọ uẩn là cảm giác vui, khổ hoặc không vui, không khổ, được cảmnhận do sự tiếp xúc của sáu cảnh tương ứng bên ngoài là: hình sắc, mùi, âmthanh, vị, cứng mềm và những đối tượng của tư tưởng

Tưởng uẩn là ấn tượng, tri giác được phát sinh do sự tiếp xúc giữa sáucăn (mắt, mũi, tai, lưỡi, thân và ý) với sáu cảnh bên ngoài giúp nhận biết sựvật là vật lí hay tâm lí

Hành uẩn (tư duy) là những thao tác của tâm thức, gồm những hoạtđộng của ý chí Trong hành có “nghiệp”, “nghiệp” là chính ý muốn

Khi đã có ý muốn, thì người ta thao tác bằng thân, miệng, ý (thânnghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp) dẫn đến những hoạt động tốt, xấu

Cảm giác và tri giác không phải là những hoạt động của ý chí, chúngkhông phát sinh nghiệp quả Chỉ có hành (những hoạt động do ý chí) như: chú

ý (tác ý), muốn (dục), xác định (thắng giải), tin (tín), định (kiên định), tuệ (trítuệ), nghị lực (tinh tấn), tham (ham muốn), thù ghét (hận), ngu si (vô minh),kiêu căng (mạn), chấp vào thân xác (thân kiến) mới sinh nghiệp quả

Thức uẩn là phản ứng của các giác quan đối với sáu hiện tượng ngoạigiới (hình sắc, âm thanh, mùi, vị, sự vật tiếp xúc, tâm giới) Thức không nênxem là “tinh thần” đối lập với vật thể Nó tồn tại tuỳ thuộc vào vật thể đượccảm giác, tri giác

Vô thường

Trang 14

Vô thường (Anitya): Vạn pháp trong vũ trụ không đứng yên mà luônchuyển động, biến đổi theo chu trình: thành – trụ - hoại – không hay sinh – trụ

- dị - diệt

Sinh – diệt là hai quá trình xảy ra trong mỗi một sự vật, hiện tượngcũng như trong toàn vũ trụ Thế giới này là sự hoại – không của thế giới khác,pháp khác, cứ như vậy mà tiếp diễn Các pháp chuyển động, biến đổi đều bịchi phối bởi luật nhân duyên

Nhân là mầm tạo quả Duyên là điều kiện, phương tiện Nhân duyênhoà hợp thì sự vật sinh Nhân duyên tan rã thì sự vật diệt, tuỳ theo nhân duyên

mà hợp thành các sự vật, hiện tượng khác nhau Một sự vật, hiện tượng khôngphải do một nguyên nhân mà do nhiều nhân duyên đã có từ trước Trong vũtrụ, nhân – duyên là vô tận, là tính trùng trùng duyên khởi Do đó, các sự vật,hiện tượng quan hệ mật thiết với nhau, nương nhờ chi phối lẫn nhau Thế giới

sự vật, hiện tượng biến đổi ở các trạng thái sắc (hữu hình) và không (vô hình).Sắc – Không là hai dạng tồn tại của vạn pháp

Vô ngã

Giáo lí đạo Phật cho con người là “một pháp” đặc biệt của thế giới, baogồm phần sinh lí và tâm lí, là sự kết hợp của Ngũ uẩn (sắc, thụ, tưởng, hành,thức)

Phần sinh lí (sắc uẩn) là thần sắc, hình tướng, được tạo thành bởi Tứđại (địa- thuỷ- hoả- phong)

Phần tâm lí (tinh thần, ý thức) gồm thụ - tưởng – hành – thức, đượcbiểu hiện bằng Thất tình: ái, ố, hỉ, lạc, ai, dục

Phần tâm lí bao giờ cũng dựa vào phần sinh lí, con người sinh – diệt là

sự giả hợp của ngũ uẩn Khi ngũ uẩn hợp là sinh, khi ngũ uẩn tan là diệt Do

đó, không có cái gọi là “bản ngã” (cái tôi) Tồn tại con người chỉ là “vô ngã”

Trang 15

Con người có cái tâm thường trụ bất biến và bao hàm vũ trụ Tâm củacon người là cái Tâm đại bình đẳng, Tâm bát nhã, Tâm chân như, Phật tính,tâm Phật Không thể phân biệt Tâm của ta hay Tâm của người.

Tâm của chúng sinh do vô minh che lấp nên chỉ là cái tâm mê loạn, vì

vô minh nên không thấy được chân lí của vũ trụ là “chư hành vô thường”,

“chư pháp vô ngã”, vì vô minh nên chúng sinh tưởng lầm mọi cái, kể cả xácthân ta là có thật Mọi sự vật, kể cả con người đều chỉ là giả tưởng, không cóthật Để khắc phục vô minh, cần phải diệt trừ cái nhận thức mê lầm của Ngãchấp (chấp có Ta)

Khi thân xác chết (gọi là “chấp đoạn”), linh hồn sẽ được đầu thai vàokiếp khác (gọi là “chấp trường”) Cứ như vậy luân hồi sinh tử không dứt

Con người ở kiếp này phải chịu quả báo về những việc của họ làm từkiếp trước Như vậy, con người chịu sự quy định của nhân quả, nhân quả tácđộng lẫn nhau do duyên Mọi pháp đều giới hạn, tương đối và phụ thuộc vàonhau Nó thể hiện trong nguyên tắc của duyên khởi: Cái này có, thì cái kia có,cái này sinh, thì cái kia sinh, cái này không có, thì cái kia không có, thì cái kiakhông có, cái này diệt, thì cái kia diệt

Duyên khởi (Thập nhị nhân duyên) gồm: vô minh – hành- thức-danhsắc- lục nhập- xúc- thụ - ái – thủ - hữu- sinh- tử

Đây là quá trình sự sống phát sinh, tồn tại và tiếp diễn Nếu chấp dứt sựchết, thì quá trình sẽ chấm dứt: Không còn vô minh, không còn phiền não…

Vô minh diệt thì hành diệt, hành diệt thì thức diệt, thức diệt thì danh sắc diệt,danh sắc diệt thì lục nhập diệt… cho đến khi sinh diệt thì lão tử diệt Mỗi mộtduyên khởi vừa là quả, vừa là nhân, vừa bị định đoạt, vừa làm điều kiện Vìthế, chúng đều là tương đối, liên quan với nhau, không có gì là tuyệt đối haybiệt lập Thập nhị nhân duyên, vì thế không phải là một chuỗi, mà là mộtvòng

Trang 16

đế thứ nhất con bao gồm những ý nghĩa sâu sắc hơn: “bất toàn”, “vô thường”,

“trống rỗng”, “giả tạm” Dukkha trong nghĩa thông thường gọi là khổ - khổgồm: sinh, lão, bệnh, tử, oán tăng hội, thụ biệt li, sở cầu bất đắc Phật chorằng: “Cuộc đời là bể khổ”, “Nước mắt của chúng sinh còn nhiều hơn nướcbiển” Dukkha phát sinh do vô thường, chuyển biến, hoại khổ Hạnh phúc,khoái lạc sớm muộn cũng thay đổi Khi thay đổi nó phát sinh khổ hạnh Khổ

vì những hoàn cảnh giới hạn của sinh tử trong ngũ uẩn (thủ uẩn ngũ) Ngũuẩn vô thường, mà bất cứ cái gì vô thường đều là Dukkha

Mặc dù cuộc sống có khổ đau nhưng không nên buồn sầu, oán hận haythiếu kiên nhẫn vì nó Con người cần hiểu rõ vấn đề khổ đau, nó phát sinh thếnào, làm sao xua đuổi nó, và tuỳ theo đấy mà hành động với sự kiên nhẫn,thông minh và nghị lực, để vui vẻ thanh thoát, hồn nhiên, sung sướng, vuihưởng hạnh phúc

Tập đế (Samuđaya) là chân lí nói về nguyên nhân của sự khổ

Nguyên nhân trực tiếp, rõ rệt và phổ biến gây lên sự khổ là dục vọng,bao gồm: Ham muốn khoái lạc giác quan, ham muốn tài sản, ham muốn thếlực, ham muốn tư tưởng, ham muốn danh vọng, và ham muốn những sự tintưởng Mọi ham muốn đều có cội rễ là tam độc, gồm: Tham (lòng tham vị kỉ),sân (sự giận dữ) và si (sự mê si)

Như vậy, mầm mống của Dukkha phát sinh ở ngay chính Dukkha chứkhông phải ở bên ngoài Bất cứ cái gì thuộc về bản chất của sinh cũng đều

Ngày đăng: 30/04/2023, 23:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh, Việt Nam văn hoá sử cương, Nxb TPHCM-Khoa sử ĐHSP TP.HCM, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hoá sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb TPHCM-Khoa sử ĐHSP TP.HCM
Năm: 1992
2. Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục, Nxb TP.HCM,1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: Nxb TP.HCM
Năm: 1990
3. Mai Ngọc Chừ, Văn hoá Đông Nam Á, ĐHQG Hà Nội 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá Đông Nam Á
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Nhà XB: ĐHQG Hà Nội
Năm: 1998
4. Trần Ngọc Thêm, Cơ sở văn hoá Việt Nam, Nxb GD, H.1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hoá Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Thêm
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1998
5. E.Tyloor, Văn hoá nguyên thuỷ,Nxb VNTT, H.2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá nguyên thuỷ
Tác giả: E.Tyloor
Nhà XB: Nxb VNTT
Năm: 2000

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w