Trang phục truyền thống của người Việt chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc...14 CHƯƠNG 3: TRANG PHỤC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI...16 3.1... Vì vậy, việc nghiên cứu đặc trưng văn hóa trang phục
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Đối tượng nghiên cứu và phạm nghiên cứu 3
NỘI DUNG 5
CHƯƠNG 1: ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA VĂN HÓA TRANG PHỤC 5
CHƯƠNG 2: TRANG PHỤC VIỆT NAM TRUYỀN THỐNG 8
2.1 Chất liệu, kỹ thuật để tạo ra trang phục 8
2.2 Đặc trưng của trang phục truyền thống 10
2.2.1 Trang phục của người phụ nữ 10
2.2.2 Trang phục của người đàn ông 12
2.2.2 Các bộ phận khác trong trang phục truyền thống Việt Nam 13
2.3 Trang phục truyền thống của người Việt chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc 14
CHƯƠNG 3: TRANG PHỤC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI 16
3.1 Sự xuất hiện của trang phục hiện đại 16
3.2 Đặc điểm của trang phục hiện đại 16
KẾT LUẬN 19
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 21
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trang phục là khái niệm chỉ các loại đồ mặc như áo quần, đồ đội như
mũ khăn nón, đồ đi như giày dép guốc, những trang phục phụ như khăn quàng thắt lưng cùng với các đồ trang sức Chức năng chủ yếu của trang phục là nhằm bảo vệ thân thể con người và để làm đẹp cho con người
Văn hóa trang phục là văn hóa mặc của con người Con người không chỉ biết mặc cho ấm mà còn biết cách mặc cho đẹp, nên vấn đề mặc chính là vấn đề của văn hoá
Vì vậy, việc nghiên cứu đặc trưng văn hóa trang phục Việt Nam là một điều cần thiết bởi đằng sau trang phục là thị hiếu thẩm mỹ, là quan niệm sống,
là sự thể hiện trình độ nhận thức trong văn hoá ứng xử Mỗi bộ trang phục đều thể hiện một quan niệm riêng, mỗi dân tộc đều có sự lựa chọn riêng làm nên diện mạo của văn hóa trang phục
Nếu không có các nhận thức đúng đắn về trang phục thì người ta sẽ dễ
có sự nhầm lẫn từ đó dẫn đến chủ quan trong cách mặc Một thực tế cho thấy rằng, nhiều người hiện nay còn chưa biết cách mặc sao cho đẹp, đúng với chuẩn mực và hoàn cảnh
2 Đối tượng nghiên cứu và phạm nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đặc trưng văn hóa trang phục của Việt Nam và một số vấn đề đặt ra đối với văn hóa trang phục của Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu: Trang phục của người Việt có thể được xem xét bằng cách phân định thời gian: trang phục truyền thống, trang phục hiện đại
Trang 3Đông và phương Tây Trong bài tiểu luận, tác giả lựa chọn nghiên cứu văn hóa trang phục theo phân định thời gian: trang phục truyền thống và trang phục hiện đại
Trang 4NỘI DUNG CHƯƠNG 1: ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA VĂN HÓA TRANG PHỤC
Mỗi trang phục của từng dân tộc, từng quốc gia đều mang bản sắc riêng
và có sự khác nhau Trang phục của từng dân tộc, quốc gia hình thành và phát triển gắn bó với những đặc điểm lịch sử, đặc điểm kinh tế, địa lý, phong tục tập quán, tín ngưỡng tôn giáo mà dân tộc đó, quốc gia đó chịu sự chi phối
Ví dụ như trang phục truyền thống của các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á: Sampot - Campuchia, Sinh - Lào, Phasin - Thái Lan, Baju Kurung -Malaysia,…
Trang phục nhiều khi là dấu hiệu bên ngoài để nhận thấy vị trí xã hội của con người, chỉ rõ đẳng cấp, nguồn gốc xuất thân của người mặc trang phục như người Việt đã có câu “Y phục xứng kỳ đức” Trong thứ bậc thời phong kiến ở phương Đông, thì chỉ có vua mới được mặc áo Long bào là tấm
áo trên đó được thêu hình rồng trên cả vạt áo trước và vạt áo sau Con rồng chính là biểu tượng của quyền lực và sức mạnh tuyệt đối của đất trời Trên trang phục của hoàng hậu, công chúa lại được thêu hình phượng Đó là biểu tượng của tầng lớp quý tộc, vương giả
Cùng với sự vận động và phát triển của lịch sử, trang phục đã có nhiều
sự biến đổi Ban đầu con người dùng những đồ che thân từ những vật liệu thô
sơ, cho đến nay con người đã tự trang điểm cho mình bằng những bộ trang phục với chất liệu quý hiếm, có thể được trang trí cầu kỳ bằng nhiều loại đá quý, bằng những đường thêu với những họa tiết hoa văn sặc sỡ Người ta mặc những bộ trang phục thích hợp với hoàn cảnh, với tính chất nghề nghiệp, với môi trường sinh hoạt đa dạng của từng người
Trang 5trang phục dân tộc, trang phục biểu diễn nghệ thuật, trang phục tôn giáo, trang phục lễ cưới lễ tang
Trang phục dân tộc là một yếu tố quan trọng thể hiện nét đặc trưng riêng của văn hóa dân tộc Qua tiến trình lịch sử, trang phục dân tộc về cơ bản vẫn giữ được những cốt cách truyền thống và có thêm sự tiếp nhận để biến đổi phù hợp hơn với xu thế
Trang phục lễ cưới chủ yếu được sử dụng trong ngày cưới, được may theo kiểu cách riêng, rực rỡ và màu sắc hơn, không giống trang phục ngày thường bởi ngày cưới là ngày trọng đại của đời người Ở một số nơi trang phục này mang dấu ấn bản sắc dân tộc, như là trong văn hóa phương Đông đã
có sự khác biệt: trang phục lễ cưới cho cô dâu người Trung Quốc thường là màu đỏ, cô dâu Việt Nam lại chọn màu trắng tinh khiết hay những sắc màu trang nhã, kín đáo hơn
Trang phục lễ tang cũng mang sắc màu văn hóa riêng biệt, ở phương Đông, trang phục ấy thường mang màu trắng, văn hóa phương Tây lại chọn màu đen cho trang phục lễ tang
Trang phục sân khấu rất đa dạng, được may cách điệu hóa, phù hợp với không gian biểu diễn của sân khấu nghệ thuật, phù hợp với tính cách và tuổi tác của nhân vật
Trang phục thể thao thường được may theo những tiêu chuẩn quy định , đường nét khỏe khoắn, đảm bảo kỹ thuật và thẩm mỹ
Trang phục phụ nữ thường mềm mại diêm dúa hơn trang phục của đàn ông, trong khi trang phục trẻ em thường giản dị, gọn gàng và nhiều màu sắc , phù hợp với tính cách hiếu động của trẻ em
Trang phục tôn giáo chịu sự quy định của giáo lý Các nhà sư thường mặc áo cà sa, khăn nâu, chuỗi tràng hạt, trong khi các nhà tu hành của thiên chúa giáo thường mặc áo chùng hoặc áo choàng màu đen, tím, đỏ, trắng, áo
Trang 6ren trắng, đội mũ quả trám, thắt lưng màu đỏ, đeo dây thánh giá Các vị giáo
cả đạo Islam thường mặc bộ áo vải rộng, cổ đứng, khăn đội đầu, quấn xarông dài, sắc màu được lựa chọn là màu trắng phù hợp với quy định của kinh Côran Mỗi tôn giáo đều có một quy định về trang phục riêng, ngoài ý nghĩa
là để bảo vệ cơ thể còn mang một thông điệp đó là trách nhiệm và lòng tin của các tín đồ đối với tôn giáo mà họ thờ phụng
Văn hóa trang phục dù là cái mặc là cái bên ngoài, nhưng nó lại là hình thức phản ánh nội dung bởi nó tạo ấn tượng sâu sắc ngay trong lần gặp mặt đầu tiên Đôi khi thành bại của công việc phụ thuộc vào chính ấn tượng ban đầu này cho nên sự chỉn chu, lịch sự trong ăn mặc là thước đo nhận thức văn hoá của con người
Trang 7CHƯƠNG 2: TRANG PHỤC VIỆT NAM TRUYỀN THỐNG
2.1 Chất liệu, kỹ thuật để tạo ra trang phục
Ban đầu, người Việt cổ sử dụng vỏ cây, lá cây, những sợi dây rừng để làm ra trang phục Vỏ cây được đập dập, ngâm đầu nguồn nước sau đó dùng xương cá làm kim, dây rừng làm chỉ để khâu lại thành tấm, để từ đó người Việt tạo cho mình kiểu trang phục sơ khai Dần dần, người Việt đã bắt đầu sáng tạo ra những chất liệu mới từ nguồn thực vật cây cỏ vốn có
Trước hết, đó là tơ tằm Cùng với nghề trồng lúa, nghề tằm tang có từ rất sớm Trong những di chỉ khảo cổ thuộc hậu kì đá mới cách này khoảng 5.000 năm (như Bàu Tró), đã thấy có dấu vết của vải, có gọi xe chỉ bằng đất
nung Cấy lúa và trồng dâu, nông và tang là hai công việc chủ yếu luôn gắn
liền nhau của người nông nghiệp Việt Nam Người Hán từ xưa cũng đã luôn xem đó là hai đặc điểm tiêu biểu nhất của văn hóa người Việt, trong chữ
“Man” mà người Hán dùng để chỉ người phương Nam có chứa bộ trùng chi con tằm Tơ tằm của nhân dân ta đã dệt nên nhiều loại sản phẩm rất phong phú: tơ, lụa, lượt, là, gấm vóc, nhiễu, the, đoạn, lĩnh, dũi…
Ngoài tơ tằm, nghề dệt truyền thống của ta còn sử dụng các chất liệu thực vật đặc thù khác như tơ chuối, tơ đay gai, sợi bông Vải tơ chuối là một mặt hàng đặc sản của Việt Nam mà đến thế kỷ VI, kỹ thuật này đã đạt đến trình độ cao và được người Trung Quốc rất thích, họ gọi vải này là “vải Giao Chỉ” Sách “Nam phương dị vật chí” viết: “phụ nữ lấy tơ chuối dệt thành hai loại vải hi và khích, đều là vải Giao Chi (Giao Chỉ cát), sách “Quang ca” chép: “Thân chuối xé ra như tơ, đem dệt thành vải Vải ấy dễ rách nhưng đẹp, màu vàng nhạt, sản xuất ở Giao Chỉ”
Vải dệt bằng sợi tơ đay, gai cũng xuất hiện khá sớm bởi điều kiện đất đai và khí hậu nước ta rất thích hợp cho những loại cây này phát triển Tổ tiên
Trang 8ta không chỉ biết khai thác nguồn nguyên liệu sản có này mà còn thuần dưỡng chúng thành loại cây trồng phổ biến Người ta nhận xét vải day gai bền hơn vài tơ chuối nhiều; đem cây day gai ngâm nước cho thịt thối rữa ra, còn lại tơ đem xe thành sợi dệt vải thì vải cũng “mịn như lượt là” Sử sách nước ta đã ghi chép: “Cứ mỗi tháng vào ngày mồng Một, thường tiêu đều mặc áo tơ gai”
Nghề dệt vải bông xuất hiện muộn hơn, từ các thế kỷ đầu Công nguyên Sách vở Trung Hoa gọi loại vải này là vải Cát Bối Sách Lương thư giải thích:
“Cát Bối là tên cây, hoa nở giống như lông ngỗng, rút tay sợi dệt thành vải trắng muốt chẳng khác gì vải đay” Kỹ thuật trồng bông dệt vải từ phương Nam du nhập sang Trung Hoa vào thế kỷ X đến thế kỷ XI, vải bông trở thành một loại vải phổ biến đến nỗi người Trung Quốc đương thời kêu là “vải bông bọc kín cả thiên hạ”
Bên cạnh đó, người Việt xưa đã bắt đầu tạo ra màu sắc để giúp trang phục trở nên rực rỡ, đẹp đẽ hơn, không chỉ đơn thuần là một vât dụng che mưa che nắng Kỹ thuật nhuộm vải ra đời, ban đầu là “Gái trai cũng một áo nâu nhuộm bùn”, sau đó là những màu sắc được tận dụng và chế biến từ tự nhiên Màu đen là từ lá tre đốt ra mà thành, màu xanh từ lá cây, nhựa cây hoặc
từ rỉ đồng, màu vàng từ gạch non hoặc từ cây dành dành Những màu nguyên này còn được sử dụng tới ngày nay ở làng tranh Đông Hồ, đó là “Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp”
2.2 Đặc trưng của trang phục truyền thống
2.2.1 Trang phục của người phụ nữ
Trang phục của người phụ nữ Việt thường là mũ đội đầu, yếm che thân
và váy Áo yếm được coi là di sản của trang phục Việt Đó là một mảnh vải vuông che ngực phụ nữ có dải buộc sau cổ, hai góc đối nhau vắt sang hai bên sườn, thường được chính ta người phụ nữ tự cắt may rồi nhuộm
Trang 9Áo yếm đã được cách tân, sáng tạo thành nhiều loại với kiểu dáng và màu sắc phong phú: yếm cổ tròn gọi là cổ xây, tôn vinh vẻ đẹp đôn hậu; nếu
cổ nhọn gọi là yếm cổ xẻ, yếm cổ chữ V sâu xuống gọi là yếm cổ cánh nhạn; yếm có màu nâu mặc ngày thường đi làm ở nông thôn, yếm trắng ở thành thị, yếm đào, yếm thắm dùng trong lễ hội Những cách tân này khiến áo yếm của người phụ nữ Việt Nam đi vào nghệ thuật với những lúng liếng: “Trời mưa lấy yếm mà che - Có anh đứng gác còn e nỗi gì”, “Ước gì sông rộng một gang
- Bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi” Áo yếm đã được đưa vào văn chương, trở thành biểu tượng của nữ tính: “Yếm trắng mà vã nước hồ, Vã đi
vã lại anh đồ yêu thương; trầu em têm tối hôm qua, Cất trong dải yếm mở ra mời chàng; Ước gì sông rộng một gang, Bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi”
Bên cạnh áo yếm, váy cũng là một trang phục mà người Việt rất tự hào:
“bằng cái trống mà thủng hai đầu, bên ta thì có, bên Tàu thì không” Váy có hai loại: váy mở với một mảnh vải quấn quanh thân, váy kín được khâu lại thành hình ống Trang phục này rất phù hợp với khí hậu nóng bức của nước
ta, cũng như thuận tiện cho công việc đồng áng
Người phụ nữ Việt còn trang điểm cho mình bằng “quần lĩnh, áo the mới, tay em cầm chiếc nón quai thao, chân em đi đôi guốc cao cao ” Trong
đó, áo cánh là loại áo ngắn có hai túi phía dưới, có thể xẻ tà hai bên hông hoặc bít tà, có đính cúc; ngoài Bắc gọi là áo cánh, trong Nam gọi là áo bà ba
Áo dài từ lâu đã tở thành biểu tượng của văn hóa mặc của người dân Việt Nam, đặc biệt hình ảnh áo dài thường gắn liền với vẻ đẹp của người phụ
nữ Việt Từ xa xưa, người Việt đã mặc áo dài, cả nam và nữ mặc tấm áo đơn
sơ dài từ cổ đến đầu gối
Nữ mặc áo giao lãnh, giống như áo tứ thân nhưng khi mặc thì hai tà áo trước để giao nhau mà không buộc lại Tuy nhiên, để phù hợp lối sống sinh hoạt, áo giao lãnh được thu gọn lại thành áo tứ thân cho người phụ nữ chốn
Trang 10thôn quê tảo tần lam lũ, thành áo ngũ thân dùng cho phụ nữ chốn thị thành.
Áo tứ thân may từ bốn mảnh vải, hai mảnh sau ghép liên ở giữa sống lưng, hai tà đằng trước khi mặc bỏ buông hoặc buộc thắt vào nhau Áo năm thân cũng may như áo tứ thân, chỉ có điều vạt trước phía trái may ghép từ hai thân vải, thành ra rộng gấp đôi vạt phải, để bên ngoài, gọi là vạt cả, đè lên vạt phải
để bên trong, gọi là vạt con Với áo năm thân có vạt trái lớn hơn và nằm ngoài vạt phải, ta lại bắt gặp một biểu hiện đầy thú vị của triết lý coi trọng bên trái (bên đông) hơn bên phải (bên tây) theo Ngũ hành
Dịp hội hè, phụ nữ xưa hay mặc áo lối “mớ ba, mở bảy” tức là mặc nhiều áo cánh lồng vào nhau Ở Nam Bộ, nơi khí hậu nóng quanh năm, “áo mớ” được thay bằng “áo cặp”
2.2.2 Trang phục của người đàn ông
Không chỉ người phụ nữ, người đàn ông thời xa xưa cũng rất chú tâm đến trang phục Nếu phụ nữ “váy vận, yếm mang” thì đàn ông lại “cởi trần đóng khố” Khố là một mảnh vải dài quấn một hoặc nhiều vòng quanh bụng
và luồn từ trước ra sau Cái khố của những con người bình dân cũng đã được nhắc đến qua câu chuyện về đạo hiếu của Chử Đồng Tử - một trong Tứ Bất Tử: vì nhà nghèo nên hai cha con chỉ có một cái khố, đến khi người cha đã khuất, không nỡ an táng trần truồng, Chử Đồng Tử đã nhường khố cho cha, còn mình ở không
Khố mặc mát, phù hợp với khí hậu nóng bức, và giúp người ta dễ thao tác trong lao động Vì vậy, nó không chỉ là đồ mặc điển bình thời Hùng Vương mà còn được duy trì ở một bộ phận dân chúng khá lâu về sau này; thời Nguyễn, các sắc lính tuy phân biệt với nhau bằng màu của thắt lưng (lễ phục) hoặc xà cạp (thường phục), nhưng vẫn được gọi là “khố”: lính khố xanh (địa phương), lính khố đỏ (quân thường trực), lính khố vàng (phục vụ vua)
Trang 11Tuy nhiên, người đàn ông cũng không bằng lòng với chiếc khố che thân, mà đã biết tạo cho mình bộ áo quần riêng Trong đời thường đó là áo cánh, có hai túi dưới xẻ tà Đi cùng với áo cánh có khi đơn giản chỉ là đóng khố, có khi là quần lá tọa rộng rãi tiện lợi cho khi đi làm, trong sinh hoạt đời thường Quần lá tọa là một thứ quần có ống rộng và thẳng, đũng sâu, cạp quần
to bản Khi mặc, người ta buộc dây thắt lưng ra ngoài rồi thả phần cạp thừa phía trên rủ xuống ra ngoài thắt lưng (vì thế nên có tên gọi là “lá tọa”)
Dần dần, trang phục của đàn ông cũng phát triển hơn nhằm mục đích làm đẹp, thể hiện được tính thẩm mỹ cao Xuất hiện một loại quần ống hẹp, đũng cao, gọn gàng hơn và thường hay bằng vải màu trắng, đó là quần ống sớ
Lễ phục của người đàn ông về sau là áo dài thường được gọi là “áo the đen” khăn xếp bổ thêm Bộ trang phục này được lưu giữ cho đến tận hôm nay
2.2.2 Các bộ phận khác trong trang phục truyền thống Việt Nam
Bên cạnh hai bộ phận chính là quần và áo, trang phục Việt Nam còn có những bộ phận khác không kém quan trọng như thắt lưng, đồ đội đầu, đồ trang sức
Thắt lưng ban đầu có mục đích giữ cho đồ mặc dưới khỏi tuột (có thể là một sợi dây, gọi là dải rút), rồi phát sinh thêm mục đích giữ áo dài cho gọn, và tôn tạo cái đẹp cơ thể của phụ nữ Các bà, các chị còn dùng thắt lưng bao (còn gọi là ruột tượng) để kiểm nhiệm mục đích thứ tư là làm túi đựng đồ vặt (tiền, trầu cau, )
Trên đầu thường đội khăn Phụ nữ trước đây để tóc dài và vấn tóc bằng một mảnh vải dài cuộn lại để trên đầu (gọi là cải vận tóc), đuôi tóc để chừa ra một ít gọi là đuôi gà: “Một thương tóc để đuôi gà, Hai thương ăn nói mặn mà
có duyên” Có thể phủ ra ngoài cái vấn tóc là cái khăn vuông, chít hình mỏ quạ vào mùa lạnh (có mỏ nhọn phía trước, hai đầu buộc dưới cằm) hoặc hình đồng tiền vào mùa nóng (hai đầu buộc ra sau)