Triết học Ấn Độ cổ đại coi linh hồn vũ trụ là thực tại tinh thần tối cao, là bản chất, là nguồn sống vĩnh hằng, là cội nguồn chi phối mọi sự sinh thành và hủy diệt của mọi cái trong thế
Trang 1TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI
1 Triết học có sự đan xen với tôn giáo:
Nét nổi bật của văn hóa Ấn Độ cổ đại là mang dấu ấn sâu đậm về tín ngưỡng tôn giáo Do đó, triết học Ấn Độ cổ đại là một nền triết học chịu ảnh hưởng lớn của những tư tưởng tôn giáo Giữa triết học và tôn giáo rất khó phân biệt Tư tưởng triết học ẩn giấu sau các lễ nghi huyền bí, chân lý thể hiện qua các bộ kinh Vêđa, Upanisát
Ấn Độ cổ đại phát triển qua 3 thời kỳ với hai hệ thống triết học, là hệ thống chính thống và hệ thống không chính thống dựa trên cơ sở thái độ đối với kinh Vêđa Hệ thống chính thống bao gồm các trường phái: Vêđanta, Samkhya, Mimansa, Nyaya, Vaisêsika, Yôga Hệ thống không chính thống bao gồm các trường phái: Lokayata, Jaina, và Phật giáo
Thực tế kinh Vêđa không phải là thiên khải, cũng không do một nhân vật nào đó sáng tác Nó là một bộ sách thâu lượm tất cả các câu ca dao, vịnh phú về sự giàu đẹp, hùng vĩ của thiên nhiên Ấn
Độ, về những tập tục nghi lễ, quan điểm tư tưởng và những bài thánh ca cầu nguyện các đấng thần linh của người Arya
Với những hiện tượng tự nhiên – xã hội ẩn giấu những điều bí ẩn, kỳ diệu, mạnh mẽ vốn là cái nôi sinh trưởng, tồn tại của con người nhưng lại luôn gây ra cho con người bao tai họa, bất trắc, người
Ấn Độ đã sáng tạo ra thế giới các vị thần có tính chất tự nhiên để giải thích các hiện tượng phong phú và phức tạp trong thực tại Các vị thần đầu tiên trong kinh Vêđa đều tượng trưng cho các lực lượng, sự vật tự nhiên mà người Ấn Độ thờ phụng như: trời, đất, mặt trời, mặt trăng, vòm trời, tinh tú, lửa, ánh sáng, gió, mưa, rạng đông và cả sinh thực khí Sau đó, để giải thích các hiện tượng trong lĩnh vực đạo đức, lý luận xã hội, người Ấn Độ đã xây dựng thêm các vị thần ác, thần thiện, pháp thần, thần công lý
Người Ấn Độ cổ tin và giải thích rằng trong vũ trụ tồn tại đồng thời 3 thế lực liên quan nhau là thần linh, con người và quỹ ác ứng với 3 cõi vũ trụ bao la là thiên giới, trần thế và địa ngục Họ đã phân tích các hiện tượng tự nhiên và lý giải chúng qua biểu tượng của thế giới thần linh phong phú, chia nhau chi phối sự biến hóa của vũ trụ vạn vật theo sự điều khiển của nguyên lý rita ( chân xác, thích hợp, trật tự vận hành vũ trụ), “Toàn thể vũ trụ được thành lập trên nguyên lý rita và vận hành trong nó”(Kinh Rig – Vêđa, I, 156)
Do đó, người Ấn Độ cổ đại rất sùng bái, tín ngưỡng, cầu nguyện và hiến tế Triết học của họ bênh vực và đề cao tầng lớp tăng lữ “ Vì sự phồn vinh của thế giới mà từ mồm, tay, đùi và bàn chân mình, Ngài (Bratman) đã tạo ra tăng lữ, quý tộc, bình dân tự do và nô lệ”, “Do sinh ra từ bộ phận
Trang 2cao quý nhất của Bratman, do sinh ra sớm nhất, do hiểu biết Vêđa mà tăng lữ có quyền làm chúa
tể của các tạo vật ấy” (Luật Manu)
Tuy Jaina giáo và Phật giáo thuộc hệ thống không chính thống nhưng cũng đều thể hiện quan điểm điểm duy tâm, thần bí Về thế giới tự nhiên, bằng sự phân tích nhân quả, Phật giáo cho rằng không thể tìm ra một nguyên nhân đầu tiên cho vũ trụ, có nghĩa là phủ nhận đấng tối cao Bratman sáng tạo ra vũ trụ và phủ nhận luôn atman nghĩa là không có tôi, và quan điểm “vô thường” Tôn giáo Ấn Độ cổ đại có xu hướng “hướng nội”, đi sâu tìm hiểu đời sống tâm linh, tinh thần để phát hiện ra sức mạnh của linh hồn cá nhân con người Triết học Ấn Độ cổ đại coi linh hồn vũ trụ
là thực tại tinh thần tối cao, là bản chất, là nguồn sống vĩnh hằng, là cội nguồn chi phối mọi sự sinh thành và hủy diệt của mọi cái trong thế giới, còn linh hồn cá nhân bị vây hãm, rang buộc bởi những ham muốn nhục dục của thể xác Con người phải dốc lòng tu luyện , chiêm nghiệm tâm linh để nhận ra bản tính thần thánh của mình mà quay về với linh hồn vũ trụ Vì vậy, triết học Ấn
Độ cổ đại mang nặng tính chất duy tâm, chủ quan, thần bí
Xuất phát từ những đòi hỏi và hiện thực xã hội, các nhà triết học Ấn Độ cổ đại là những nhà hiền triết, nhà tôn giáo, nhà giáo dục, đạo đức, chính trị - xã hội, thiên về cải tạo thế giới, giải thoát chúng sinh ra khỏi điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội khắc nghiệt
2 Triết học có sự đan xen giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, giữa phép biện chứng và phép siêu hình:
Do chịu ảnh hưởng bởi tinh thần Vêđa mà triết học Ấn Độ cổ đại không thể phân chia rõ ràng thành chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, phép biện chứng và phép siêu hình mà chủ yếu được chia thành hệ thống chính thống và hệ thống không chính thống Trong các trường phái triết học cụ thể luôn có sự đan xen giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, giữa phép biện chứng
và phép siêu hình
Chẳng hạn như những nhà tư tưởng của phái Samkhya sơ kỳ bộc lộ những tư tưởng có tính duy vật chứa ít nhiều biện chứng về bản nguyên hiện hữu Họ đưa ra học thuyết về sự tồn tại của kết quả trong nguyên nhân trước khi nó xuất hiện và học thuyết về sự chuyển hóa thực tế của nguyên nhân trong kết quả Họ cho rằng loại nào có nguyên nhân của loại đó “Trồng Sali được Sali, trồng Vrihi được Vrihi” Từ đó mà trong quan niệm về sự hình thành sự vật, họ cho rằng nếu vạn vật của thế giới này là vật chất thì yếu tố tạo nên vạn vật với tính cách là nguyên nhân cũng là vật chất, đó
là “vật chất đầu tiên” (Prakriti) một dạng vật chất tiềm ẩn, không hình dạng, không giới hạn, không thể nhận biết được bằng cảm tính Thế giới vật chất là thể thống nhất của ba yếu tố: Sativa
Trang 3(nhẹ nhàng, thuần khiết), razas (tích cực, năng động), tamas (nặng, ỳ) Khi ba yếu tố trên ở trạng thái cân bằng thì Prakriti ở trạng thái chưa biểu hiện, tức là trạng thái không thể trực quan được Nhưng khi sự cân bằng bị phá vỡ thì sự sinh thành vạn vật của vũ trụ khởi đầu
Ngược lại, các nhà tư tưởng của phái Samkhya hậu kỳ lại có khuynh hướng nhị nguyên luận khi thừa nhận sự tồn tại song song của hai yếu tố đầu tiên là vật chất (Prakriti) và tinh thần (Purusa) Yếu tố tinh thần (Purasa) mang tính phổ quát, vĩnh hằng, bất biến, nó truyền sinh khí, năng lượng
và biến hóa vào yếu tố vật chất ở con người Khi tinh thần chiếu rọi vào Sativa thì sinh ra trí tuệ, khi tinh thần chiếu rọi vào razas thì sinh ra vận động, khi tinh thần chiếu rọi vào tamas thì sinh ra hình thể
Còn các nhà triết học Mimansa dựa vào tư tưởng triết học - tôn giáo của Vêđa, nhưng coi Vêđa như các tập công thức hay thần chú về nghi lễ Mimansa sơ kỳ không thừa nhận sự tồn tại của thần Theo Sabara thì chúng ta thiếu chứng cứ về sự tồn tại của thần và cảm giác không nhận thức được thần Nhưng cảm giác lại được coi là nguồn gốc của mọi tri thức khác Phái Mimansa không phản đối việc coi thần linh như cái tên hay âm thanh cần thiết cho các câu thần chú của nghi lễ Nghi lễ không phải là hành động khẩn cầu, sùng bái thần linh, mà nghi lễ tự nó có sức mạnh, có thể đưa lại hiệu quả Họ hiểu nghi lễ như một hành động ma thuật Tuy nhiên, tinh thần duy vật và
vô thần của phái Mimansa không được tiếp tục phát triển Những nhà triết học Mimansa hậu kỳ
đã thừa nhận sự tồn tại của thần
Về nguồn gốc thế giới, phái Mimansa có quan điểm duy vật cho rằng thế giới được sinh ra từ các nguyên tử
Phái Mimansa coi đời người là khổ và vấn đề đặt ra là phải thoát khỏi nỗi khổ ấy Họ chủ trương thoát khổ bằng cách duy trì các nghi lễ, đặc biệt là lễ "Hiến sinh" Họ cho rằng cần phải biết kết hợp lòng tin và kiến thức để đạt đến giải thoát Có hai con đường để tạo kiến thức là bằng giác quan và bằng suy luận
Khi giải quyết mối quan hệ giữa tinh thần với thể xác, họ lại đứng trên lập trường duy tâm coi tinh thần tồn tại mãi mãi, còn thể xác thì mất đi
Qua đó có thể thấy, trong triết học Ấn Độ cổ đại sự phân chia các trường phái triết học chỉ có tính đại thể, còn khi đi sâu vào những nội dung cụ thể thì có mặt duy vật, có mặt duy tâm, sơ kỳ là duy vật thì hậu kỳ là nhị nguyên hay duy tâm Điều đó thể hiện rõ sự thiếu nhất quán trong thế giới quan, sự thiếu triệt để của triết học vì phân kỳ lịch sử trong các xã hội Ấn Độ không mạch lạc như phương Tây
Trang 43 Triết học Ấn Độ cổ đại lấy nhân sinh quan làm gốc, đặc biệt là vấn đề luân hồi, nghiệp báo, sau đó mới là vũ trụ quan, bản thể luận:
Triết học Ấn Độ cổ đại đã đặt ra nhiều vấn đề thuộc về lĩnh vực nhân sinh (bản chất, ý nghĩa đời sống, nguồn gốc nổi khổ của con người) nhằm tìm kiếm phương tiện, con đường, cách thức giải thoát chúng sinh ra khỏi điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội khắc nghiệt mà không thấy mối quan hệ giữa con người trong lao động sản xuất
Upanishad bàn tới vấn đề "luân hồi", "nghiệp báo" Vì Atman "linh hồn" tồn tại trong thể xác con người trần tục nên ý thức con người lầm tưởng rằng "linh hồn" đó khác với "linh hồn vũ trụ" bất
tử Những cảm giác, ham muốn dục vọng và hành động của con người nhằm thỏa mãn những ham muốn đó trong đời sống trần tục đã gây ra những hậu quả, gieo đau khổ ở kiếp này và cả kiếp sau, gọi là "nghiệp báo" (Karma) Do vậy, linh hồn bất tử cứ bị giam hãm vào hết thể xác này đến thể xác khác, bị che lấp, ràng buộc bởi thế giới hiện tượng như ảo ảnh, gọi là sự "luân hồi" (Samsara), không nhận ra và không trở về đồng nhất với chân bản của mình là Brahman được
Muốn giải thoát linh hồn bất tử khỏi vòng vây hãm của luân hồi, nghiệp báo để đạt tới đồng nhất với "Tinh thần vũ trụ tối cao" tuyệt đối thì con người phải dốc lòng toàn tâm tu luyện hành động
và tu luyện tri thức Bằng nhận thức trực giác, thực nghiệm tâm linh, con người mới nhận ra chân bản của mình, khi đó linh hồn bất tử mới đồng nhất được với "linh hồn vũ trụ tối cao" và bắt đầu
"siêu thoát" (moksa)
Thừa nhận quan niệm "Luân hồi" và "Nghiệp báo" trong Upanishad, Phật giáo đặc biệt chú trọng triết lý nhân sinh, đặt mục tiêu tìm kiếm sự giải thoát cho chúng sinh khỏi vòng luân hồi, nghiệp báo để đạt tới trạng thái tồn tại Niết bàn (Nirvana)
Từ sự lý giải về căn nguyên nỗi khổ của con người, Thích Ca Mâu Ni đã đưa ra thuyết "Tứ diệu đế" và " Thập nhị nhân duyên" để giải thoát chúng sinh ra khỏi mọi nỗi khổ và kiếp nghiệp báo, luân hồi Thuyết “tứ diệu đế” là cốt lõi của quan niệm nhân sinh quan của Phật giáo, gồm:
+ Khổ đế: Phật giáo coi " đời là bể khổ" Có trăm ngàn nỗi khổ, nhưng có 8 nỗi khổ trầm luân, bất tận mà bất cứ ai cũng phải gánh chịu là: Sinh, lão, bệnh, tử, thụ biệt ly ( Yêu thương mà phải chia lìa), Oán tăng hội ( Oán ghét nhau mà phải sống với nhau), sở cầu bất đắc ( Cầu mong mà không được), ngũ thụ uẩn ( năm yếu tố vô thường nung nấu làm nên sự đau khổ)
+ Nhân đế (hay Tập đế): Giải thích những nguyên nhân gây nên đau khổ cho chúng sinh Đó là 12 nguyên nhân ( Thập nhị nhân duyên): 1 Vô minh; 2 Hành; 3 Thức; 4 Danh sắc; 5 Lục nhập; 6 Xúc; 7 Thụ; 8 ái; 9 Thủ; 10 Hữu; 11 Sinh và 12 Lão, tử Trong 12 nhân duyên ấy thì Vô minh
Trang 5tức là ngu tối, không sáng suốt là nguyên nhân đầu tiên.
+ Diệt đế: Là lần theo Thập nhị nhân duyên, tìm ra cội nguồn của nỗi khổ, tiêu diệt nó và đưa chúng sinh thoát khỏi nghiệp chướng, luân hồi, đạt tới cảnh trí Niết bàn
+ Đạo đế: Chỉ ra con đường diệt khổ đạt tới giải thoát Đó là con đường "tu đạo", hoàn thiện đạo đức cá nhân gồm 8 nguyên tắc ( bát chính đạo):
1 Chính kiến: Hiểu biết đúng đắn
2 Chính tư duy: Suy nghĩ đúng đắn
3 Chính ngữ: Giữ lời nói phải
4 Chính nghiệp: Giữ đúng trung nghiệp
5 Chính mệnh: Giữ ngăn dục vọng
6 Chính tinh tiến: Rèn luyện không mệt mỏi
7 Chính niệm: Có niềm tin vững chắc vào sự giải thoát
8 Chính định: An định, không bị ngoại cảnh chi phối
Tám nguyên tắc này có thể thâu tóm vào 3 điều phải học tập, rèn luyện là: Giới - Định - Tuệ ( tức là: giữ giới luật, thực hành thiền định và khai thông trí tuệ bát nhã)
Từ đó cho thấy xu hướng cơ bản trong triết học Ấn Độ cổ đại là quan tâm giải quyết các vấn đề nhân sinh dưới gốc độ tâm linh tôn giáo với xu hướng “hướng nội” Có thể nói sự phản tỉnh nhân sinh là một nét trội và là ưu thế của nhiều học thuyết triết học Ấn Độ cổ đại
4 Triết học Ấn Độ cổ đại nhấn mạnh sự thống nhất trong mối quan hệ giữa con người và
vũ trụ theo nguyên tắc “thiên nhân hợp nhất”:
Các nhà triết học Ấn Độ cổ đại cho rằng muốn nhận thức tốt thì phải hòa hợp giữa chủ thể và khách thể với nhau
Xu hướng chính của Upanisát là nhằm biện hộ cho học thuyết duy tâm tôn giáo trong kinh Vêđa
về cái gọi là “tinh thần sáng tạo tối cao” sáng tạo và chi phối thế giới này Upanisát cho rằng “tinh thần vũ trụ tối cao” Brátman là thực thể cao nhất, có trước nhất, tồn tại vĩnh viễn, bất diệt, là cái
từ đó tất cả thế giới đều nảy sinh ra và nhập về với nó sau khi chết, là khách thể Còn Atsman là tinh thần con người, là tiểu ngã, là cái có thể mô hình hóa, là chủ thể, và chẳng qua chỉ là linh hồn
vũ trụ cư trú trong con người mà thôi Linh hồn con người “Átman” chỉ là sự biểu hiện, là một bộ phận của “Brátman”
Trang 6Rig Vêđa đã suy tư về quan hệ giữa thế giới vĩ mô và vi mô, quan hệ giữa tự nhiên và con người Rig Vêđa không phân chia con người và tự nhiên thành chủ thể và khách thể mà đồng nhất con người và tự nhiên
Tư tưởng triết học cốt lõi của trường phái Yôga là sự thừa nhận nguyên lý hợp nhất của vũ trụ nơi mỗi cá thể, thông qua các phương pháp Yôga mà mỗi cá thể có thể tập luyện để khai thác được sức mạnh vũ trụ tiềm ẩn trong mình để làm chủ mình, tiến tới làm chủ môi trường, và sau cùng là vươn đến sự giải thoát
Từ thế giới quan triết học “thiên nhân hợp nhất” là cơ sở quyết định nhiều đặc điểm khác của triết học Ấn Độ cổ đại như: lấy con người làm đối tượng nghiên cứu chủ yếu – tính chất hướng nội, hay nghiên cứu thế giới cũng để làm rõ con người và vấn đề bản thể luận trong triết học Ấn Độ trong triết học Ấn Độ cổ đại bị mờ nhạt
Về vấn đề con người, triết học Ấn Độ cổ đại đặt trọng tâm nghiên cứu mối quan hệ giữa người với đời sống tâm linh ít quan tâm tới mặt sinh vật của con người, chỉ quan tâm giải quyết các vấn đề thuộc về lĩnh vực nhân sinh quan (bản chất, ý nghĩa, đời sống, nguồn gốc, nổi khổ của con người” gắn liền với quan điểm tôn giáo nhằm tìm kiếm con đường, phương tiện, cách thức giải thoát con người, mà không thấy mối quan hệ giữa con người trong lao động sản xuất
5 Triết học Ấn Độ cổ đại ngã về dung trực giác
Trường phái Mimansa coi cảm giác là nguồn gốc duy nhất của nhận thức Nhận thức trong triết học Ấn Độ bắt đầu từ luân lý đạo đức, nhận thức gắn liền với đạo đức Trong nhận thức, triết học
Ấn Độ đề cao việc tự nhận thức, tự hiểu Điều này quy định tính chất trực nhận, trực giác trong triết học Ấn Độ Từ đó, một lôgíc kéo theo là công cụ, phương tiện nhận thức lại nghiêng về ẩn
dụ, hình ảnh
6 Triết học Ấn Độ cổ đại thường tôn trọng và có khuynh hướng phục cổ, không có những bước nhảy vọt về chất
Triết học Ấn Độ ít thấy có những bước nhảy vọt về chất mà chỉ là sự phát triển cục bộ, kế tiếp xen
kẽ Nội dung có phát triển nhưng chỉ là sự phát triển cục bộ, thêm bớt hay đi sâu vào từng chi tiết, xuất phát từ tinh thần Vêđa chia ra làm hai hệ thống: hệ thống chính thống ủng hộ tinh thần Vêđa
và trường phái không chính thống phản đối lại tinh thần Vêđa
Các nhà triết học ở các thời đại chỉ giới hạn mình trong khuôn khổ ủng hộ, bảo vệ quan điểm hay một hệ thống nào đó để hoàn thiện và phát triển nó hơn là vạch ra những sai lầm và không đặt ra mục đích tạo ra thứ triết học mới Do vậy nó không mâu thuẫn với các học thuyết đã được đặt nền
Trang 7móng từ ban đầu, không phủ định nhau hoàn toàn và dẫn đến cuộc đấu tranh trong các trường phái không gay gắt và cũng không triệt để Có tình trạng đó chính là do chế độ phong kiến kéo dài quá lâu và bảo thủ, kết cấu kinh tế, giai cấp trong xã hội đan xen, cộng sinh bên nhau
Có thể thấy được triết học Ấn Độ cổ đại thiên về giải quyết mặt thứ hai của vấn đề cơ bản triết học “con người có khả năng nhận thức thế giới hay không?” Triết học Ấn Độ đi từ khái quát đến
cụ thể bằng các ẩn dụ triết học với những câu cách ngôn, ngụ ngôn nên có thể hiểu theo nhiều cách, gói được cái ngẫu nhiên mà ngày nay khoa học gọi là khoa học hỗn mang – dự báo.
TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI
1 Triết học gắn bó mật thiết với khoa học tự nhiên:
Triết học Hy Lạp cổ đại gắn bó mật thiết với khoa học tự nhiên để tổng hợp mọi hiểu biết về các lĩnh vực khác nhau nhằm xây dựng bức tranh về thế giới như một hình ảnh chỉnh thể thống nhất mọi sự vật, hiện tượng xảy ra trong nó Do trình độ tư duy lý luận còn thấp, nên khoa học tự nhiên chưa đạt tới trình độ mổ xẻ, phân tích tự nhiên để đi sâu vào bản chất sự vật, mà nó nghiên cứu tự nhiên trong tổng thể để dựng nên bức tranh tổng quát về thế giới Vì vậy, các nhà triết học đồng thời là các nhà khoa học tự nhiên, họ quan sát trực tiếp các hiện tượng tự nhiên để rút ra những kết luận triết học
Hy Lạp cổ đại là một lãnh thổ rộng lớn bao gồm khu vực miền Nam bán đảo Ban-căng (thuộc Châu Âu), nhiều hòn đảo nằm trên biển Êgiê và cả một vùng rộng lớn ở ven biển bán đảo Tiểu á Yếu tố địa lý tự nhiên này đã tạo điều kiện cơ bản để nền nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp Hy Lạp cổ đại phát triển từ rất sớm Quá trình lịch sử lâu dài với không ít những thăng trầm của vùng đất Hy Lạp cổ đại gắn liền với sự phát triển kinh tế - xã hội và tư tưởng triết học của nó trong đó sự phân chia xã hội thành giai cấp , sự phân công lao động xã hội thành lao động trí óc và lao động chân tay đã dẫn tới sự hình thành một đội ngũ các nhà trí thức chuyên nghiệp chuyên nghiên cứu về khoa học, triết học Sự xuất hiện của những trí thức khoa học và triết học trong thời kỳ này đã tạo nên một bước ngoặt lớn về nhận thức của con người, phá vỡ ý thức hệ thần thoại và tôn giáo nguyên thuỷ Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của nền sản xuất, những tri thức về khoa học tự nhiên phát triển mạnh, được trình bày trong hệ thống triết học - tự nhiên của các nhà triết học cổ đại, bên cạnh đó, khoa học thời bấy giờ chưa phân ngành nên các nhà triết học đồng thời cũng là các nhà Toán học, nhà Vật lý học như Talét, Pytago, Ácximét, Ơclít, Từ các
Trang 8yếu tố đó có thể khẳng định rằng, triết học Hy Lạp cổ đại ngay từ khi ra đời đã có sự gắn bó với nhu cầu thực tiễn và gắn với khoa học
Hy Lạp cho rằng triết học là sự ham hiểu biết, yêu thích sự thông thái (philosophia) Triết học được coi như “người mẹ” của các ngành khoa học, “triết học là khoa học của mọi khoa học” Triết học mang lại cho chúng ta năng lực hiểu biết, “người mẹ” đó nuôi “con” bằng tư duy lý luận, vì nếu không có tư duy lý luận nhà khoa học không thể trở thành nhà khoa học đúng nghĩa
2 Triết học có sự phân chia và đối lập rõ ràng giữa các trào lưu, trường phái duy vật – duy tâm, vô thần – hữu thần
Triết học Hy Lạp cổ đại đã giải quyết các vấn đề cơ bản của triết học và chia ra thành các trường phái khác nhau: trường phái nhất nguyên (duy vật, duy tâm) và trường phái nhị nguyên, thậm chí còn chia ra những nhà vô thần và hữu thần, gắn liền với cuộc đấu tranh chính trị tư tưởng, trong
đó điển hình là cuộc đấu tranh giữa trào lưu triết học duy vật của Đêmôcrit và trào lưu triết học duy tâm của Platông Hai học thuyết đó ảnh hưởng sâu đậm đến đời sống phương Tây Học thuyết Đêmôcrit ảnh hưởng sâu đậm đến đời sống tinh thần, còn học thuyết Platông để lại dấu ấn sâu đậm đến đời sống tinh thần Có thể nói triết học Hy Lạp cổ đại rất nhất quán, kiên định một quan điểm, một lập trường
• Chủ nghĩa duy vật nổi bật với các trường phái:
_Trường phái Milê: là trường phái duy vật đơn nguyên do 3 nhà triết học duy vật: Talet,
Anaximăngđrơ, Anaximen xây dựng
_Trường phái Lơxip – Đêmôcrit: cũng là trường phái duy vật đơn nguyên Đêmôcrit đã hoàn thiện chủ nghĩa duy vật, đưa nó lên đỉnh cao đủ sức mạnh chống lại trào lưu duy tâm
• Chủ nghĩa duy tâm: Xuất phát từ Pytago và dừng lại phát triển đỉnh cao với trường phái của thầy trò Xôcrat – Platông, đặc biệt là quan điểm Platông Platông đã hoàn thiện chủ nghĩa duy tâm và hệ thống duy tâm của ông là mẫu mực nhất, nhất quán nhất trong tất cả các học thuyết duy tâm thời cổ đại
• Chủ nghĩa nhị nguyên: nổi bật là triết học của Arixtốt Ông đã tổng kết toàn bộ triết học Hy Lạp nên bắt buộc phải đứng trên cả 2 trường phái duy vật và duy tâm để thấy được cái hay cái dở của các trường phái
Platông đã lấy ở người thầy mình Xôcrat học thuyết về đề cao cái chung và cho rằng chân lý nằm trong tranh luận và chỉ có tranh luận mới dẫn đến chân lý Và ông lấy học thuyết Bacbarit học thuyết về cái tồn tại, cái bất biến, cái được nhận thức bởi lý tính và chỉ có lý tính mới nắm bắt
Trang 9được chân lý Từ đó xây dựng học thuyết ý niệm để đối lập lại học thuyết nguyên tử của
Đêmôcrit Platông chia thế giới thành hai: thế giới ý niệm và thế giới lý tính tồn tại trên trời mang tính phổ biến, bất biến, vĩnh hằng duy nhất, còn thế giới sự vật là thế giới cảm tính dưới trần gian Sau khi chia thế giới thành hai, ông ta mới bắt đầu xác định các mối quan hệ giữa chúng và xác định theo tinh thần duy tâm khách quan, cho rằng ý niệm là cái có trước, cái sản sinh, nguyên nhân, bản chất của mọi sự vật, còn sự vật là cái có sau, mô phỏng, sao chép lại từ ý niệm, có quan
hệ ràng buộc với ý niệm
Còn Đêmôcrit dựa vào thuyết nguyên tử thừa nhận sự ràng buộc lẫn nhau theo quy luật nhân quả tính khách quan trong tính tất yếu của sự vật, hiện tượng tự nhiên Đó là đóng góp quan trọng của Đêmôcrit vào triết học duy vật Song ông lại phủ nhận tính ngẫu nhiên, ông coi ngẫu nhiên là một hiện tượng không có nguyên nhân
Đêmôcrit bác bỏ quan nhiệm về sự sản sinh ra sự sống và con người của thần thánh Theo ông sự sống là kết quả của quá trình biến đổi dần dần từ thấp đến cao của tự nhiên Sinh vật đầu tiên sống
ở dưới nước, sau đó chuyển lên cạn, cuối cùng con người được ra đời Ông coi cái chết là sự phân tích của các nguyên tử tạo nên xác và của những nguyên tử cấu tạo lên linh hồn chứ không phải linh hồn rời khởi thể xác Tuy quan niệm của Đêmôcrit còn mang tính mộc mạc song nó giữ vai trò rất quan trọng trong việc chống các quan điểm duy tâm và tôn giáo về tính bất tử của linh hồn con người Ông cho rằng đối tượng của nhận thức là vật chất, là thế giới xung quanh con người và nhờ sự tác động của đối tượng nhận thức vào con người nên con người mới nhận thức được Đêmôcrit phân chia nhận thức thành nhận thức mờ tối và nhận thức chân lý Nhận thức mờ tối do các giác quan đem lại còn nhận thức chân lý là do sự phân tích sâu sắc về sự vật để nắm bắt bản chất bên trong của nó Triết học duy vật của Đêmôcrit đã đóng vai trò quan trọng trong chủ nghĩa
vô thần Ông cho rằng sự tồn tại của thần chẳng qua là sự nhân cách hoá những hiện tượng của tự nhiên hay những thuộc tính của con người chẳng hạn thần Dớt là sự nhân cách hoá mặt trời, thần ATêna là sự nhân cách hoá thuộc tính của con người
3 Triết học Hy Lạp cổ đại đi từ thế giới quan, vũ trụ quan, bản thể luận…từ đó xây dựng nhân sinh quan con người
Các nhà triết học Hy Lạp đầu tiên có khuynh hướng chung là suy tư về bản chất và khởi thuỷ của thế giới Họ lấy một thực thể bản nguyên tượng trưng làm nguồn gốc của tất cả mọi vật Chẳng hạn đối với Talet đó là nước, đối với Anaximăngđrơ đó là cái vô hạn bất định, đối với Anaxago đó
là tinh thần Pytago tìm cái chìa khoá phổ quát của hiện thực trong các con số, Pacmênic cho rằng
Trang 10bản chất của thực thể nằm trong tồn tại; Lơxip và Đêmôcrit phỏng đoán mọi sự vật đều được tạo thành từ những nguyên tử, là những phần tử nhỏ nhất, không thể phân chia được nữa và số lượng của chúng là vô hạn Hêraclit đưa ra quan niệm mọi sự vật của thế giới luôn thay đổi, sự kết hợp của các yếu tố vật chất là vô hạn, vì vậy cái bất biến trong thế giới chỉ có thể được thừa nhận chính là sự biến đổi, chuyển hoá vĩnh hằng đó
Từ thế giới quan, các nhà triết học Hy Lạp cổ đại mới đi đến vấn đề nhân sinh quan, đạo đức, xã hội Các nhà ngụy biện thì thiên về cá nhân hơn, đã nhiệt thành với việc giáo dục các nhà lãnh đạo, những người sẽ gây ảnh hưởng xã hội và sử dụng xã hội như là phương tiện để đạt các mục đích riêng của mình Mỗi con người là thước đo sự vật cho mình, không phải chỉ sự vật được nhận thức, mà cả sự vật thuộc thiện, ác trong xã hội Platông và Xôcrat chống lại "chủ nghĩa cá nhân" và "chủ nghĩa tương đối" cực đoan này của các nhà ngụy biện Con người, thước đo sự vật, không phải là cá nhân riêng biệt mà là phổ quát Cấu trúc xã hội và cấu trúc linh hồn (hay tự ngã) của con người phản ảnh lẫn nhau và phụ thuộc lẫn nhau Bản chất của con người là lý trí và được tìm thấy trong một xã hội được xếp đặt theo trật tự duy lý Cái tư tưởng hiện đại cho rằng cá nhân không thể tách khỏi xã hội và "nhân tính" là hình thành do xã hội và phát triển trong xã hội, tư tưởng đó không lớn mạnh trong tư tưởng Hy Lạp Xôcrat và Platông thì chỉ rõ xã hội là sự phóng rọi của bản chất con người trên tấm vải thô lớn, hay là sự phản ánh được khuếch đại của bản chất con người Con người chỉ thực sự sống trong xã hội, không thể sống ngoài xã hội Arixtốt, một nhà duy lý, chấp nhận các nguyên lý chính yếu của Platông “Con người không thể là con người nếu không có xã hội "
4 Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại tách chủ thể với khách thể để nhận xét khách quan
Các nhà triết học Hy Lạp đã nhấn mạnh tách con người ra khỏi vũ trụ, coi con người là chủ thể để nghiên cứu, chinh phục vũ trụ - thế giới khách quan
5 Triết học Hy Lạp ngã về tư duy duy lý
6 Triết học Hy Lạp cổ đại có sự đấu tranh giữa các trường phái mang tính chất quyết liệt, triệt để, có sự phát triển về chất khá rõ rệt