1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

VẤN ĐỀ KHAI THÁC NỘI LỰC VÀ NGOẠI LỰC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

161 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 161
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể nói, đó là những nguồn lực nội sinh giữ vị trí trung tâm của phát triển; bởi con người với những sức mạnh về văn hoá, chính là chủ thể của sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nướ

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN DIỆU LINH

VẤN ĐỀ KHAI THÁC NỘI LỰC VÀ NGOẠI LỰC

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Ngành : Chủ nghĩa duy vật biện chứng

và chủ nghĩa duy vật lịch sử

Mã số : 9 22 90 02

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS PHẠM VĂN ĐỨC

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, luận án tiến sĩ triết học với đề tài “Vấn đề khai thác nội lực

và ngoại lực ở Việt Nam hiện nay” là công trình nghiên cứu của cá nhân dưới sự

hướng dẫn nghiên cứu của GS.TS Phạm Văn Đức Các số liệu, tài liệu trích dẫn và tài liệu tham khảo trong luận văn là hoàn toàn trung thực, có nguồn gốc rõ ràng

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Nguyễn Diệu Linh

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 5

1.1 Những công trình nghiên cứu liên quan đến một số vấn đề lý luận về khai thác nội lực và khai thác ngoại lực 5

1.2 Những công trình nghiên cứu về thực trạng khai thác nội lực và ngoại lực ở Việt Nam hiện nay 16

1.3 Những công trình nghiên cứu về các giải pháp khai thác nội lực và ngoại lực ở Việt Nam 21

1.4 Nhận định chung về tình hình nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực đề tài 26

Chương 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NỘI LỰC VÀ NGOẠI LỰC 29

2.1 Khái niệm và mối quan hệ biện chứng giữa nội lực và ngoại lực 29

2.2 Vai trò của nội lực và ngoại lực đối với sự phát triển của một quốc gia 46

2.3 Kinh nghiệm khai thác nội lực, ngoại lực của một số nước trên thế giới 59

Chương 3: THỰC TRẠNG KHAI THÁC NỘI LỰC VÀ NGOẠI LỰC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 72

3.1 Một số yếu tố ảnh hưởng đến quá trình khai thác nội lực và ngoại lực ở Việt Nam hiện nay 72

3.2 Thực trạng khai thác nội lực ở Việt Nam hiện nay 80

3.3 Thực trạng khai thác ngoại lực ở Việt Nam hiện nay 100

Chương 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHAI THÁC NỘI LỰC VÀ NGOẠI LỰC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 124

4.1 Phương hướng cơ bản trong khai thác nội lực và ngoại lực ở Việt Nam hiện nay 124

4.2 Một số giải pháp nhằm khai thác có hiệu quả các nguồn nội lực 126

4.3 Một số giải pháp nhằm khai thác có hiệu quả các nguồn ngoại lực 138

KẾT LUẬN 148

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 151

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tự lực, tự cường là một trong những đức tính quý báu của con người Việt Nam Trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, dựa vào sức mình là chính,

khai thác sức mạnh nội lực luôn luôn là yếu tố quyết định mọi thắng lợi của dân

tộc Tuy nhiên bên cạnh đó, chúng ta cũng không thể phủ nhận được vai trò

quan trọng của yếu tố ngoại lực - những tinh hoa về văn hóa, khoa học công

nghệ hiện đại, trình độ quản lý của thế giới, nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài - những yếu tố vô cùng cần thiết cho quá trình phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong giai đoạn hiện nay Bởi vậy, phát huy dân chủ, khơi dậy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại, huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển đất nước

là bài học mà chúng ta luôn coi trọng

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trải qua hơn 30 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực Chính sách đổi mới toàn diện là một bước đột phá tạo đà phát huy các nguồn nội lực, khơi thông ngoại lực, làm cho sức mạnh tổng hợp của đất nước tăng lên rất nhiều Đất nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng lên, tạo tiền đề quan trọng để đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội

Tuy nhiên, những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng Kinh

tế phát triển chưa bền vững Bởi vì, chất lượng tăng trưởng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, các cân đối kinh tế vĩ mô chưa vững chắc Công tác quy hoạch, kế hoạch và việc huy động, sử dụng, khai thác các nguồn lực (nội lực và ngoại lực) còn hạn chế, kém hiệu quả, đầu tư còn dàn trải Tăng trưởng kinh tế vẫn dựa nhiều vào các yếu tố phát triển theo chiều rộng, chậm chuyển sang phát triển theo chiều sâu Các lĩnh vực văn hóa, xã hội, giáo dục, đào tạo và y tế; đạo đức, lối sống trong một bộ phận xã hội xuống cấp gây bức xúc trong xã hội Văn hóa phát triển chưa tương xứng với tăng trưởng kinh

tế Môi trường ở nhiều nơi đang bị ô nhiễm nặng; tài nguyên, đất đai chưa được quản lý tốt, khai thác và sử dụng kém hiệu quả, chính sách đất đai có mặt chưa phù hợp Thể chế kinh tế thị trường, chất lượng nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng

Trang 5

vẫn là những điểm nghẽn cản trở sự phát triển Việc khai thác, tiếp nhận những nguồn lực từ bên ngoài vào để "đi tắt đón đầu" như vốn, khoa học công nghệ chưa thực sự hiệu quả Nền tảng để Việt Nam trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại chưa được hình thành đầy đủ Vẫn đang tiềm ẩn những yếu tố gây mất ổn định chính trị - xã hội và đe dọa chủ quyền quốc gia

Con đường đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta cũng đang đặt ra nhiều vấn đề cấp bách cần giải quyết trên tất cả các lĩnh vực Đổi mới là cần thiết, hội nhập là tất yếu, nhưng đổi mới làm sao để khai thác tối đa các nguồn nội lực của quốc gia và hội nhập phải trên cơ sở khai thác hiệu quả các nguồn ngoại lực Bởi vậy vấn đề khai thác nội lực và ngoại lực như thế nào, mối quan

hệ giữa khai thác nội lực và khai thác ngoại lực ra sao đang là mảng lý luận mở cho các nhà khoa học tập trung nghiên cứu để bổ sung vào lý luận phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

và nhiều biến động của thế giới hiện nay

Trong bối cảnh toàn cầu hoá mà trước hết là toàn cầu hoá về kinh tế đang tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống xã hội, đến mọi quốc gia, dân tộc, thì không một quốc gia, dân tộc nào có thể phát triển được mà lại tách biệt, cô lập với thế giới Mở cửa, hội nhập, chủ động gia nhập vào quá trình toàn cầu hoá

là đòi hỏi tất yếu, nhưng cũng chính là điều kiện thuận lợi để kết hợp và phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong phát triển Nhận thức sâu sắc tính tất yếu và cơ hội đó, Đảng ta luôn coi việc kết hợp sức mạnh dân tộc với

sức mạnh thời đại để tạo nên sức mạnh tổng hợp là một trong những bài học

kinh nghiệm lớn trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Đảng ta đã đưa ra một trong các quan

điểm phát triển quan trọng là: “Phát huy cao nhất các nguồn lực trong nước, đồng thời chủ động hội nhập quốc tế, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực bên ngoài để phát triển nhanh, bền vững Tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát triển mạnh doanh nghiệp Việt Nam, nhất là doanh nghiệp tư nhân, làm động lực nâng cao sức cạnh tranh và tính tự chủ của nền kinh tế” [34, tr.270, 271]

Với tất cả những lý do trên, tác giả luận án đã chọn “Vấn đề khai thác nội

lực và ngoại lực ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận án tiến sĩ

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

Trang 6

- Mục đích nghiên cứu:

Trên cơ sở làm rõ các khái niệm về nội lực và ngoại lực cũng như những đặc điểm của đất nước trong giai đoạn hiện nay, luận án tập trung phân tích, đánh giá những mặt thành tựu cũng như hạn chế của quá trình khai thác các nguồn nội lực và ngoại lực, từ đó đề xuất những giải pháp khai thác, sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn lực ấy

- Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để đạt được mục đích trên, luận án phải giải quyết một số nhiệm vụ sau:

Một là, khái quát tổng quan chung về các công trình nghiên cứu liên quan

đến nội lực và ngoại lực, vấn đề khai thác nội lực và ngoại lực hiện nay

Hai là, phân tích làm rõ một số vấn đề lý luận về nội lực và ngoại lực

Ba là, phân tích làm rõ thực trạng khai thác nội lực và ngoại lực ở Việt

Nam hiện nay

Bốn là, đề xuất những giải pháp nhằm thúc đẩy việc khai thác có hiệu quả

hơn các nguồn nội lực và ngoại lực của đất nước

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

- Về đối tượng nghiên cứu: đề tài xác định đối tượng nghiên cứu là vấn đề

khai thác nội lực và ngoại lực ở Việt Nam hiện nay

- Về phạm vi nghiên cứu: đề tài xác định khảo sát ở góc độ triết học dựa

trên các mối liên hệ bên trong và mối liên hệ bên ngoài, về vai trò của con người đối với xã hội, với lịch sử, về vị trí, vai trò của việc khai thác các nguồn nội lực

và ngoại lực tạo động lực phát triển đất nước

Để định hướng cho quá trình nghiên cứu, đề tài xác định nghiên cứu trong lãnh thổ Việt Nam, với các nguồn nội lực sẵn có và các nguồn ngoại lực đã và đang tác động đến Việt Nam trong giai đoạn đổi mới, từ năm 1986 đến nay Cụ thể là các nguồn nội lực và ngoại lực như: nguồn lực con người, văn hóa, tài nguyên thiên nhiên, vị thế địa chính trị, khoa học - công nghệ, vốn đầu tư vào Việt Nam

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

Ngoài phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đề tài còn

sử dụng một số phương pháp sau: phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp lôgíc, phương pháp so sánh, đối chiếu, phương pháp quy nạp và diễn dịch

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

Trang 7

- Trên cơ sở kế thừa những thành quả nghiên cứu của những người đi trước, luận án sẽ đi sâu phân tích làm rõ về mặt lý luận khái niệm nội lực và ngoại lực cũng như mối quan hệ giữa khai thác nội lực và ngoại lực

- Từ việc phân tích, đánh giá thực trạng khai thác nội lực và ngoại lực của đất nước hiện nay, tác giả sẽ tập trung chỉ ra những tiềm năng chưa khai thác được ở các nguồn lực, đồng thời đưa ra một số giải pháp tăng cường việc khai thác có hiệu quả hơn các nguồn lực này

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

- Thực hiện chức năng nghiên cứu cơ bản về khoa học xã hội, cung cấp các luận cứ khoa học cho Đảng và Nhà nước trong việc hoạch định đường lối, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển nhanh và bền vững của đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, với những kết quả nghiên cứu như trên, luận án sẽ góp phần làm phong phú hơn những lý luận về quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước trong việc hoạch định các chủ chương, chính sách liên quan tới việc khai thác các nguồn nội lực và ngoại lực để phát triển đất nước trong tình hình mới

- Luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho những người làm công tác nghiên cứu về vấn đề khai thác các nguồn lực trong nước, là tài liệu tham khảo

bổ ích cho các giờ giảng của giáo viên khi dạy về phần chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, và là tài liệu bổ ích cho những bạn đọc quan tâm về vấn đề này

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm 4 chương 13 tiết

Trang 8

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

Ở bất cứ một quốc gia nào, vấn đề sử dụng, khai thác và phát huy sức mạnh nội lực và ngoại lực để phát triển kinh tế - xã hội luôn thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu

1.1 Những công trình nghiên cứu liên quan đến một số vấn đề lý luận

về khai thác nội lực và khai thác ngoại lực

1.1.1 Về khái niệm nội lực và ngoại lực

- Khái niệm nội lực:

Định nghĩa về nguồn lực trong nước, nhà nghiên cứu Trần Văn Chử nhấn mạnh giới hạn xác định các nguồn lực, cho rằng:

“Nguồn lực trong nước là các nguồn lực chỉ có khả năng khai thác, sử dụng nhằm thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế trong phạm vi lãnh thổ của một quốc gia Các nguồn lực đó bao gồm: lao động, khoa học và công nghệ, vốn và tài nguyên thiên nhiên, cùng với các yếu tố nguồn lực mang tính chính trị xã hội - thể chế chính trị, cơ chế chính sách, truyền thống và tính cộng đồng, kinh nghiệm quản lý” [14, tr.32]

Trong bài “Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong xây dựng

và phát triển đất nước hiện nay” của tác giả Nguyễn Văn Phúc - Viện Triết học,

Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đăng trên Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt

Nam ngày 7-5-2012, tác giả đã phân tích khá sâu sắc khái niệm sức mạnh dân

tộc Tác giả cho rằng khái niệm sức mạnh dân tộc đồng nhất với khái niệm nội lực:

“Sức mạnh dân tộc hay nội lực của một dân tộc, một quốc gia

chính là tổng hợp những lợi thế, những nguồn lực nội sinh của dân tộc, quốc gia đó Những lợi thế, những nguồn lực này bao hàm trong toàn bộ các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội; chúng là tài nguyên thiên nhiên, nguồn lực con người, là tổng thể những giá trị vật chất, tinh thần, truyền thống văn hoá, Sức mạnh dân tộc, vì thế là nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của một dân tộc Như vậy, sức mạnh dân tộc, nội lực

Trang 9

của chúng ta bao gồm cả những nguồn lực, những tiềm lực tự nhiên và xã hội” [83]

Từ đó, tác giả Nguyễn Văn Phúc xác định nguồn nội lực có thể xác định

trên hai bình diện là nguồn lực tự nhiên và nguồn lực xã hội Trên bình diện

nguồn lực tự nhiên, Việt Nam có lợi thế về vị trí địa lí, giao thông, có bờ biển

dài rất thuận lợi cho phát triển kinh tế biển; lâm sản, hải sản, khoáng sản tuy không thật nhiều nhưng khá đa dạng và phong phú Tuy nhiên, những nguồn lực

tự nhiên, tự nó, chỉ tồn tại như là tiềm năng Vấn đề là làm sao khơi dậy, huy

động được những nguồn lực, những lợi thế đó trong phát triển Trên bình diện

nguồn lực xã hội, Việt Nam cũng có những ưu thế về mặt văn hoá và con người

Có thể nói, đó là những nguồn lực nội sinh giữ vị trí trung tâm của phát triển; bởi con người với những sức mạnh về văn hoá, chính là chủ thể của sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, là chủ thể của sự khai thác, huy động và hợp nhất các lợi thế, các nguồn nội lực khác

Nguyễn Văn Hoà trong bài viết “Tư tưởng của Phan Bội Châu về nội lực” đăng trên Tạp chí Triết học, số 3, 2008 đã phân tích quan điểm của Phan Bội

Châu về những yếu tố cấu thành nội lực của đất nước: Thiên thời, địa lợi, nhân hoà là các yếu tố cấu thành nội lực Các yếu tố đó có quan hệ mật thiết với nhau, trong đó nhân hòa là yếu tố đóng vai trò quyết định Bên cạnh đó, tri thức cũng

là thành tố quan trọng của nội lực [49]

Bài viết "Kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại trong phòng,

chống "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch đối với nước ta hiện nay"

của nhà nghiên cứu Phạm Thanh Sơn in trên Tạp chí Khoa học quân sự (tháng

8-2010) đã nêu lên các yếu tố cấu thành sức mạnh dân tộc “là kết quả tổng hợp của các tiềm lực kinh tế, chính trị, tinh thần, văn hoá… của một dân tộc, của một quốc gia, được biểu hiện ở năng lực huy động, kết quả khai thác và sử dụng hiệu quả các tiềm lực ấy vào nhiệm vụ xây dựng và phát triển đất nước” Tuy nhiên, tác giả phân tích tiếp, "các tiềm lực kinh tế, chính trị, tinh thần, văn hoá…, tự bản thân nó chưa bao hàm hết sức mạnh dân tộc; bởi dân tộc vừa được hiểu theo nghĩa "chỉ cộng đồng người có mối liên hệ chặt chẽ và bền vững, có chung sinh hoạt kinh tế, có ngôn ngữ riêng, văn hoá có những đặc thù”, vừa được hiểu theo nghĩa "chỉ một cộng đồng người ổn định làm thành nhân dân một nước, có lãnh thổ quốc gia, nền kinh tế thống nhất, quốc ngữ chung và có ý thức về sự thống nhất của mình, gắn bó với nhau bởi quyền lợi chính trị, kinh tế, truyền thống văn hoá và truyền thống đấu tranh chung trong quá trình lịch sử lâu dài dựng nước

Trang 10

và giữ nước” Dù được hiểu theo nghĩa nào thì dân tộc và quốc gia cũng không tách rời nhau, sức mạnh quốc gia có cội nguồn từ sức mạnh dân tộc, đồng thời hun đúc, liên kết sức mạnh dân tộc, tạo nên sự bền vững của sức mạnh quốc gia

Vì vậy, phát huy sức mạnh dân tộc ở nước ta hiện nay là phát huy nguồn nội lực của quốc gia, từ sức mạnh vật chất đến sức mạnh tinh thần, văn hoá, khoa học - công nghệ…, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh, xây dựng và kết hợp chặt chẽ giữa lực lượng và thế trận quốc phòng với thế trận và lực lượng an ninh, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa" [91]

Trong bài “Nội lực và ngoại lực trong quá trình phát triển kinh tế ở Việt

Nam”, tác giả Trần Văn Thọ (Đại học Waseda, Tokyo) đưa ra một yếu tố cấu

thành nội lực của đất nước: “Nội lực, nếu hiểu theo nghĩa rộng, có thể bao gồm khả năng của chính phủ trong việc hoạch định kế hoạch, chính sách phát triển và khả năng quản lý, sử dụng vốn nước ngoài” [104]

Trong cuốn Những nguồn lực (Sách tham khảo) của tác giả E.F

Schumacher, Anh Quế dịch, Nhà xuất bản Lao động ấn hành năm 1994, tác giả

đã phân tích các nguồn lực trong một đất nước và nhấn mạnh cần sử dụng tốt các nguồn lực trong xã hội để đẩy mạnh phát triển kinh tế Nguồn lực đầu tiên là nền giáo dục, sử dụng đất đai hợp lý, nguồn lực cho nền công nghiệp, năng lượng hạt nhân, sử dụng công nghệ mới [40]

Bên cạnh đó, có một số bài nghiên cứu cũng đề cập đến khái niệm nội lực

như: Suy nghĩ thêm một số yếu tố trong các nguồn nội lực của tác giả Nguyễn

Quang Luyện thuộc Viện Kinh tế học, Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn

quốc gia, đăng trên Tạp chí Hoạt động khoa học, số 4, năm 1999; Nguồn nội lực

của dân tộc, Văn Hùng, Tạp chí Thương mại, số 17, 2006

- Khái niệm ngoại lực:

Bài viết "Kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại trong phòng,

chống "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch đối với nước ta hiện nay"

của tác giả Phạm Thanh Sơn in trên Tạp chí Khoa học quân sự (tháng 8-2010)

cho rằng: “Sức mạnh thời đại là khái niệm chỉ các thành tựu do con người sáng tạo ra theo các quy luật vận động và phát triển của xã hội loài người, theo đó thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội” [91]

Trong bài viết Nội lực và ngoại lực trong quá trình phát triển kinh tế ở Việt

Nam của tác giả Trần Văn Thọ (Giáo sư kinh tế, Đại học Waseda, Tokyo) trên

Trang 11

cơ sở tập trung vào các nguồn lực như vốn, công nghệ và tri thức quản lý, kinh doanh, tác giả đưa ra cái nhìn biện chứng giữa nội lực và ngoại lực trong các nguồn lực: Tri thức quản lý và năng lực kinh doanh có thể gọi chung là nguồn lực kinh doanh (managerial resources) Nguồn vốn (capital resources), công nghệ và nguồn lực kinh doanh là những biểu hiện cụ thể của từ lực trong nội lực

và ngoại lực Các nguồn lực này được vận dụng qua hoạt động của các doanh nghiệp Do đó, nội lực và ngoại lực vừa có thể được đánh giá trên bình diện vĩ

mô (vị trí của hai nguồn lực trong nền kinh tế quốc dân) vừa có thể được đánh giá qua kết quả hoạt động của doanh nghiệp có vốn trong nước và doanh nghiệp

có vốn đầu tư của nước ngoài

Đặc biệt, bàn sâu về nội lực và ngoại lực, trong bài "Kết hợp sức mạnh dân

tộc với sức mạnh thời đại trong Chiến lược bảo vệ Tổ quốc" của Nguyễn Ngọc

Hồi trên Tạp chí Quốc phòng toàn dân (tháng 5 - 2014), tác giả đã phân biệt cho

chúng ta thấy sự giống và khác nhau giữa các khái niệm: nội lực, sức mạnh bên trong, sức mạnh dân tộc và ngoại lực, sức mạnh bên ngoài, sức mạnh thời đại Trong Nghị quyết Trung ương 8 (khóa IX), vấn đề kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để bảo vệ Tổ quốc chưa đứng riêng thành một quan điểm độc lập, mà được xem xét trong mối quan hệ giữa nội lực với ngoại lực, giữa sức mạnh trong nước với sức mạnh bên ngoài (điều kiện quốc tế) Tại quan điểm thứ năm, Nghị quyết Trung ương 8 (khóa IX) xác định: “ra sức phát huy nội lực, đồng thời tranh thủ tối đa và khai thác mọi thuận lợi ở bên ngoài”; đồng thời nhấn mạnh ở quan điểm thứ ba: “Sức mạnh bên trong là nhân tố quyết định” Ở đây, dường như “nội lực” - yếu tố bên trong của đất nước, được xem là “sức mạnh dân tộc”; và “thuận lợi ở bên ngoài”, hay là yếu tố bên ngoài - ngoại lực, được xem là “sức mạnh thời đại” Điều đó đúng, nhưng chưa đủ, chưa toàn diện Với nhận thức biện chứng hơn, sâu sắc hơn nội hàm “sức mạnh của dân tộc” và “sức mạnh của thời đại” trong so sánh với yếu tố nội lực - bên trong và yếu tố ngoại lực - bên ngoài, Nghị quyết số 28-NQ/TW (khóa XI) không chỉ đặt vấn đề “phát huy nội lực” và “kết hợp phát huy nội lực với tranh thủ tối đa mọi thuận lợi từ bên ngoài”, mà còn bổ sung thêm mệnh đề “Phát huy sức mạnh của dân tộc kết hợp với sức mạnh của thời đại” Rõ ràng ở đây, sức mạnh của dân tộc không chỉ là sức mạnh nội lực và không chỉ bó hẹp ở sức mạnh bên trong, bởi nó còn bao gồm cả một phần ngoại lực cần được huy động cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Đó chính là nguồn lực to lớn về vật chất và tinh thần, chất xám cùng nguồn lực tài chính và tấm lòng hướng về cội nguồn của hơn 4,5 triệu

Trang 12

người Việt Nam ở nước ngoài, vốn đã được coi “là một bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam” Do vậy, “sức mạnh của dân tộc” có nội hàm rộng hơn “nội lực” và “sức mạnh bên trong”; nó “thể hiện ở sức mạnh tổng hợp

cả về vật chất và tinh thần Đó là sự phát triển kinh tế nhanh, hiệu quả và bền vững; sức mạnh quốc phòng toàn dân ngày càng hiện đại; sự ổn định chính trị -

xã hội vững chắc; bản sắc văn hóa dân tộc không ngừng được phát huy; sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; sự gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân” Còn sức mạnh của thời đại cần phát huy cũng không hoàn toàn chỉ là các yếu tố bên ngoài - ngoại lực, mà còn bao gồm cả một phần yếu tố bên trong - nội lực Sự kiên định của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân với mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội - mục tiêu được hình thành do có yếu tố thời đại - trong đường lối chung xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đâu phải là ngoại lực,

mà đó chính là nội lực, là sức mạnh bên trong, nhưng lại được gắn kết nhuần nhuyễn với yếu tố thời đại, yếu tố bên ngoài Tương tự khi chúng ta kiên định thực hiện đường lối phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế có vốn đầu

tư nước ngoài - thành phần kinh tế do yếu tố thời đại đem lại - được coi là một

bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân, được khuyến khích phát triển Đó chính là sức mạnh bên trong, sức mạnh nội lực, nhưng lại chứa đựng ở

đó những yếu tố ngoại lực, của thời đại Trên tầm tư duy biện chứng như vậy, Nghị quyết 28-NQ/TW (khóa XI) không đồng nhất “sức mạnh dân tộc” với “sức mạnh nội lực, sức mạnh bên trong”; không đồng nhất “sức mạnh thời đại” với các yếu tố “từ bên ngoài”, mà tiếp cận vấn đề một cách toàn diện hơn và khoa học hơn, khi vừa khẳng định “Phát huy cao nhất sức mạnh của dân tộc kết hợp với sức mạnh của thời đại”, vừa nhấn mạnh bộ phận căn bản nhất, nòng cốt nhất của sức mạnh dân tộc là nhân tố nội lực giữ vai trò quyết định

Như vậy, về khái niệm nội lực và ngoại lực, còn có cách hiểu khác nhau,

chủ yếu đồng nhất nội lực với sức mạnh dân tộc, ngoại lực với sức mạnh thời

đại Tác giả đồng tình với quan điểm của Nguyễn Ngọc Hồi trong bài "Kết hợp

sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong Chiến lược bảo vệ Tổ quốc" khi

có sự phân biệt giữa các khái niệm: nội lực với sức mạnh dân tộc, sức mạnh bên trong; ngoại lực với sức mạnh thời đại, sức mạnh bên ngoài Tuy nhiên nội dung bài viết trên chỉ xoay quanh vấn đề kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong Chiến lược bảo vệ Tổ quốc

Trang 13

1.1.2 Về vai trò của khai thác nội lực và ngoại lực đối với sự phát triển của đất nước

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng khẳng định:

"Phát huy nội lực và sức mạnh dân tộc là yếu tố quyết định, đồng thời tranh thủ ngoại lực và sức mạnh thời đại là yếu tố quan trọng

để phát triển nhanh, bền vững và xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ Phải không ngừng tăng cường tiềm lực kinh tế và sức mạnh tổng hợp của đất nước để chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng và có hiệu quả" [33, tr.102]

Trong cuốn sách “Phát huy các nguồn lực của dân làm lợi cho dân theo tư

tưởng Hồ Chí Minh” Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản năm 2012, các

tác giả Phạm Ngọc Anh (chủ biên), Ngô Xuân Dương, Lê Thị Hằng đã trình bày

tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phát huy các nguồn lực của dân làm lợi cho dân Phân tích thực trạng và đưa ra các giải pháp chủ yếu vận dụng, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về phát huy các nguồn lực của dân làm lợi cho dân trong công cuộc đổi mới

Với quan điểm cho rằng sự đồng lòng, chung sức của nhân dân là một yếu

tố quan trọng tạo nên sức mạnh nội lực của dân tộc, Phan Bội Châu cho rằng, lòng người có quyền nắm tất cả thiên thời địa lợi Vận thời sẽ trở về và thành công sẽ đến, khi mọi người đồng lòng chung sức Nội dung này được tác giả

Nguyễn Văn Hoà phân tích trong bài “Tư tưởng của Phan Bội Châu về nội lực” đăng trên Tạp chí Triết học, số 3, 2008

Trong bài "Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong Chiến

lược bảo vệ Tổ quốc” trên Tạp chí Quốc phòng toàn dân (tháng 5-2014), tác giả

Nguyễn Ngọc Hồi đã chỉ ra: sự kết hợp giữa nội lực và ngoại lực phải theo tinh

thần “phát huy cao nhất sức mạnh của dân tộc”, lấy việc “phát huy nội lực là nhân tố quyết định” trong khi tận dụng tối đa những thuận lợi từ bên ngoài Đây

chính là sự quán triệt và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về giải quyết mối quan hệ giữa nội lực và ngoại lực, giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, mà theo đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn yêu cầu phải nêu cao tinh thần “tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính” Dựa vào sức mình là chính đòi hỏi phải chăm lo xây dựng nội lực, phát huy sức mạnh dân tộc Điểm mới mà Nghị quyết 28-NQ/TW (khóa XI) nhấn mạnh không chỉ là phát huy sức mạnh dân tộc

nói chung, mà là “phát huy cao nhất” sức mạnh đó Điều này là cần thiết và khả

thi, khi mà thế và lực của đất nước được nâng lên rất nhiều so với trước đây;

Trang 14

đồng thời, tiềm năng sức mạnh dân tộc còn lớn, chưa được phát huy có hiệu quả cao Thêm nữa, trong bối cảnh quốc tế đầy biến động, tiềm ẩn nhiều yếu tố bất trắc, khó lường, yêu cầu “phát huy cao nhất sức mạnh của dân tộc”, “phát huy nội lực là nhân tố quyết định” không chỉ thể hiện tinh thần tích cực, chủ động, không trông chờ, ỷ lại vào bên ngoài của chúng ta, mà còn là điều kiện để chúng

ta tiếp nhận có hiệu quả các yếu tố ngoại lực do xu thế thời đại đem lại Hơn thế,

có phát huy cao nhất sức mạnh dân tộc, sức mạnh nội lực, chúng ta mới giữ vững được độc lập, tự chủ trên mọi lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại,… để trên cơ sở đó chủ động chuyển hóa sức mạnh ngoại lực thành sức mạnh nội lực Phát huy cao nhất sức mạnh của dân tộc, coi phát huy nội lực là nhân tố quyết định, đòi hỏi phải chăm lo xây dựng và phát huy cao độ các yếu tố tạo thành sức mạnh dân tộc, sức mạnh nội lực

Cuốn sách Dân chủ hóa và phát huy nội lực của tác giả Hồ Bá Thâm do

Nhà xuất bản Phương Đông ấn hành Nội dung cuốn sách phân tích dân chủ ở Việt Nam; tiến trình, tính chất và trình độ phát triển; vấn đề phát huy vai trò động lực dân chủ; vấn đề dân chủ hóa và phát huy nội lực Đó là cái nhìn triết học chính trị trong dòng chảy triết học nhân văn và triết học phát triển mà tác giả đã bàn tới

Biến động kinh tế Đông Á và con đường công nghiệp hoá Việt Nam của

tác giả Trần Văn Thọ, do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản năm 2006 nêu ra quan điểm Đông Á là khu vực năng động nhất trên địa cầu hiện nay Cuốn sách này trả lời các câu hỏi trên và tập trung phân tích hầu hết các vấn đề liên quan đến công nghiệp hoá, đề khởi các chiến lược, chính sách, biện pháp nhằm tăng sức cạnh tranh của kinh tế Việt Nam để đối phó hữu hiệu với các thách thức và tận dụng các cơ hội phát triển ở vùng Đông Á Công nghiệp hoá

và công bằng xã hội trong bối cảnh toàn cầu hoá và thời đại công nghệ thông tin, lợi thế so sánh động, công nghiệp phụ trợ, nội lực và ngoại lực, liên kết hàng dọc và hàng ngang giữa doanh nghiệp trong nước với các công ty đa quốc gia, chiến lược khám phá và tiếp cận thị trường, tinh thần doanh nghiệp, đạo đức kinh doanh, là những chủ đề được bàn đến trong tầm nhìn về con đường công nghiệp hoá Việt Nam

Giáo sư Phan Huy Lê đã nhấn mạnh vai trò của yếu tố ngoại lực: “Đóng góp thêm vào nội lực tiềm tàng đó, trong cuộc đấu tranh chính nghĩa của mình, Việt Nam còn tranh thủ được sức mạnh của thời đại, sự ủng hộ của dư luận quốc

tế, của nhân dân các nước kể cả nhân dân nước đi xâm lược”, bài viết "Sức

Trang 15

mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại sẽ làm nên thắng lợi", Báo Công lý online -

cơ quan ngôn luận của Tòa án nhân dân tối cao, ngày 19-5-2014

Bài viết "Kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại trong phòng,

chống "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch đối với nước ta hiện nay"

của tác giả Phạm Thanh Sơn in trên Tạp chí Khoa học quân sự (tháng 8-2010)

đã phân tích sức mạnh của thời đại mà chúng ta đang sống hiện nay gắn liền với cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại, tạo ra những tiền đề vật chất, tinh thần trong đấu tranh vì hoà bình dân tộc, tiến bộ xã hội trên phạm vi toàn thế giới Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong đấu tranh phòng, chống "diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch đối với nước ta hiện nay là quá trình tận dụng thời cơ, vượt qua thử thách, huy động và sử dụng tốt nhất các nguồn nội lực và ngoại lực, tạo nên sức mạnh tổng hợp, chủ động đối phó và làm phá sản âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hoà bình” trên các lĩnh vực chính trị

tư tưởng, kinh tế, văn hoá, xã hội, đối ngoại, quốc phòng an ninh của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Phân tích về vai trò của sức mạnh thời đại, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Phúc viết: Mặc dù có vai trò quyết định, nhưng sức mạnh dân tộc hay nội lực không phải là tất cả Sẽ là hạn chế và khiếm khuyết nếu không biết đến những

nguồn lực bên ngoài, những sức mạnh thời đại trong xây dựng và phát triển, bài viết "Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong xây dựng và phát

triển đất nước hiện nay", Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 7-5-2012

Tác giả Nguyễn Nam Thắng đã phân tích trong bài "Tư tưởng Hồ Chí Minh

về thi đua yêu nước và việc phát huy nội lực bảo vệ Tổ quốc hiện nay": Thực

tiễn phát triển của dân tộc ta qua mấy nghìn năm lịch sử đã chứng tỏ sức mạnh

to lớn về tinh thần yêu nước nồng nàn của dân tộc ta, giúp dân tộc ta vượt lên mọi khó khăn, thách thức giành những thành tựu vẻ vang trong công cuộc dựng nước và giữ nước Chủ nghĩa yêu nước là giá trị tốt đẹp đã khẳng định tầm cao nhân cách, chiều sâu văn hóa của mỗi công dân đối với Tổ quốc; đồng thời là sức mạnh tiềm tàng, nội sinh thường trực trong lòng dân tộc; là nguồn lực không bao giờ cạn trong suốt chiều dài lịch sử của đất nước Đây còn là đặc trưng tiêu biểu về nhân cách của con người Việt Nam, là một trong những động lực quan trọng nhất góp phần gắn kết cộng đồng, giữ vững độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững ổn định chính trị - xã hội và thúc đẩy đất nước phát triển

"Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong kháng chiến chống

Mỹ, cứu nước và sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay" của tác giả Trần Quang

Trang 16

Cơ, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, tháng 4 - 2005 nêu: Từ tính chất thời đại sâu

sắc và ý nghĩa quốc tế to lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng

ta xác định rõ tầm quan trọng to lớn của những nhân tố bên ngoài đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta và ta có khả năng tranh thủ được các nhân tố đó để gia tăng sức mạnh của dân tộc lớn gấp bội Không tận dụng được các nhân tố bên ngoài, không vận dụng được sức mạnh của các lực lượng cách mạng và tiến bộ trên thế giới ủng hộ ta thì có thể nói, kháng chiến khó giành được thắng lợi, hoặc phải đấu tranh rất trầy trật và không thể thắng lợi hoàn toàn Tất nhiên, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của ta giành được thắng lợi hay không chủ yếu là do quyết tâm của nhân dân ta, do sức mạnh của quân đội ta, của dân tộc ta, nhưng yếu tố quốc tế cũng quyết định một phần lớn Đảng ta đã đề ra đường lối đối ngoại đúng đắn và hết sức sáng tạo, nên đã vận dụng được tối đa các nhân tố quốc tế, phát huy được sức mạnh thời đại ủng hộ nhân dân ta chống Mỹ thắng lợi

Ngoài ra, có nhiều bài viết, sách báo nêu lên vai trò của nội lực đối với sự

phát triển của đất nước như: "Malayxia trông cậy vào sức mạnh và nguồn lực

của chính mình" của Phương Ly đăng trên Tạp chí Đông Nam Á, số 3, 2005;

"Nội lực Việt Nam" của Trần Thanh Đạm, Tạp chí Xưa và nay, số 236, 2005;

"Vốn hóa các tài sản trong dân - Vấn đề quan trọng để huy động các nguồn lực cho đầu tư" của Đan Đức Hiệp, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 149, 2009;

"Quản lý ODA trong giáo dục ở Việt Nam: Nâng tầm ngoại lực" của Nguyễn Hữu Hiếu, Tạp chí Tài chính, số 4, 2007; "Nội lực vẫn là yếu tố quyết định" của

Lê Hải, Tạp chí Đầu tư chứng khoán, số 286, 2005

1.1.3 Về mối quan hệ giữa khai thác nội lực và khai thác ngoại lực

Bài viết "Kết hợp sức mạnh với sức mạnh thời đại trong xây dựng và phát

triển đất nước hiện nay", nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Phúc - Viện Triết học,

Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam

ngày 7-5-2012, phân tích mối quan hệ giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời

đại: Với tư cách là nguồn lực của phát triển, sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời

đại là thống nhất Tuy nhiên, việc huy động và kết hợp hai nguồn lực này trong

thực tế là có một vấn đề mà nếu không giải quyết hợp lý thì hiệu quả sẽ không cao Đó là cách tuyệt đối hoá sức mạnh dân tộc, xem nhẹ sức mạnh thời đại hay ngược lại, tuyệt đối hoá sức mạnh thời đại, xem nhẹ sức mạnh dân tộc đều là cách nhìn nhận phiến diện và bất lợi cho phát triển

Trang 17

Khi tuyệt đối hoá sức mạnh dân tộc, người ta cho rằng, chỉ những nhân tố bên trong là trực tiếp quyết định sự phát triển của sự vật Bởi vậy, nếu quá chú ý đến sức mạnh thời đại có nghĩa là hạn chế việc phát huy các yếu tố nội lực; là lệ thuộc vào nước ngoài, dễ dẫn tới mất độc lập và mất bản sắc trong phát triển Ngược lại, quan điểm tuyệt đối hoá sức mạnh bên ngoài lại được biện minh bằng tính quy định của thời đại đối với phát triển Một dân tộc khó có thể phát triển mạnh nếu đứng ngoài những tác động của yếu tố thời đại Những giá trị thời đại

là những giá trị hình thành trong quá trình hiện đại hoá đã dẫn đến những thành công, đặc biệt là những thành công về kinh tế, công nghệ ở các nước phát triển Chúng mang ý nghĩa phổ quát và đặc trưng cho thời đại Hiện đại hoá xã hội, do vậy, không thể xem nhẹ tính quy luật này; không thể không coi trọng và tiếp nhận những nguồn lực, những giá trị mang tính quốc tế, tính thời đại Nếu chỉ chú

ý đến nội lực, tuyệt đối hóa nội lực, thì sẽ rơi vào bảo thủ, biệt lập, trì trệ, tụt hậu

Từ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về quan

hệ giữa cái chung và cái riêng, giữa cái giai cấp, cái dân tộc và cái nhân loại phổ biến, có thể khẳng định rằng, giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại có

mối quan hệ biện chứng Trong quan hệ này, việc phát huy sức mạnh dân tộc là

có ý nghĩa quyết định, là cơ sở để mở rộng và tăng cường việc tranh thủ một

cách có hiệu quả sức mạnh thời đại, và ngược lại, việc tận dụng sức mạnh thời đại

là nhân tố không thể thiếu để phát triển và khơi dậy tiềm năng, sức mạnh dân tộc Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh không khi nào xem nhẹ ngoại lực, sức mạnh thời đại, nhưng Người luôn nêu cao tinh thần "tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính” Dựa vào sức mình là chính đòi hỏi phải đẩy mạnh việc tạo dựng nội lực, phát huy sức mạnh dân tộc Sức mạnh dân tộc bao gồm cả những nguồn lực tự nhiên, kinh tế, văn hoá, con

người, Do vậy, việc phát huy sức mạnh dân tộc đòi hỏi không chỉ đẩy mạnh

tạo dựng, phát triển từng nguồn lực với tư cách là yếu tố cấu thành sức mạnh dân tộc, mà còn đòi hỏi kết hợp các yếu tố đó thành một hợp lực Nói cách khác, yêu cầu phát huy sức mạnh dân tộc đòi hỏi phát triển đồng bộ các thành phần, các yếu tố của nội lực, sức mạnh dân tộc Chủ động và tích cực xây dựng nội lực

không chỉ có nghĩa là làm gia tăng bản thân nội lực, mà còn có nghĩa là tạo ra

điều kiện để tiếp nhận ngoại lực Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định rằng,

muốn người ta giúp mình thì trước hết mình phải tự giúp mình đã Phải đẩy mạnh xây dựng lực lượng bản thân mới tạo ra được "thế" và "lực" để tiếp nhận

sự giúp đỡ từ bên ngoài Hơn thế, từ bình diện chính trị có thể thấy, có xây dựng

Trang 18

và phát huy được sức mạnh dân tộc hay nội lực mới bảo đảm giữ vững được độc

lập, tự chủ trên mọi lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hoá, an ninh, Đại hội Đảng

lần thứ XI khẳng định: "Trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng cần kiên định ý chí độc lập, tự chủ và nêu cao tinh thần hợp tác quốc tế” Độc lập, tự chủ chính là yêu cầu sống còn, là bản sắc, lẽ sống của dân tộc ta

Trong điều kiện hiện nay, những thành quả mà nhân loại đạt được trong thế giới hiện đại là những yếu tố vô cùng quan trọng đối với sự phát triển đất nước

ta Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ (2011) và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011- 2020 đã khẳng định rằng, mục tiêu của chúng ta

là làm sao đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, đến giữa thế kỷ XXI trở thành nước công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa Mục tiêu đó, một mặt, đòi hỏi phải hiện đại hoá các yếu

tố thuộc sức mạnh dân tộc hay nội lực, mặt khác, đòi hỏi phải chủ động tích cực tiếp như các yếu tố sức mạnh thời đại hay ngoại lực, hiện đại tiêu biểu cho thời đại Vốn nước ngoài, công nghệ hiện đại cùng những giá trị văn hoá tinh thần gắn liền với công nghệ hiện đại là nguồn ngoại lực, sức mạnh thời đại cần thiết cho sự phát triển đất nước hiện nay Các yếu tố ngoại lực đó chính là tác nhân quan trọng không thể thiếu để hiện đại hoá đất nước Nhưng, như đã phân tích, những vấn đề ngoại lực chỉ có thể phát huy tác dụng khi được tiếp nhận và chuyển hóa thành sức mạnh bên trong, thành nội lực Về vấn đề này, Chủ tịch

Hồ Chí Minh từng viết: "Các nước bạn giúp ta cũng như thêm vốn cho ta, ta khéo dùng cái vốn ấy để bồi bổ lực lượng của ta, phát triển khả năng của ta” Đó chính là biện chứng của quan hệ giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại Như vậy, biện chứng của quan hệ giữa nội lực và ngoại lực, giữa sức mạnh

dân tộc và sức mạnh thời đại dẫn đến yêu cầu là: tăng cường và phát huy những

sức mạnh dân tộc cho phát triển, tạo cơ sở và điều kiện để tiếp nhận những sức mạnh của thời đại Đồng thời chủ động và tích cực tiếp sức thời đại, dân tộc hoá chúng, biến chúng thành sức mạnh bên trong cho phát triển Thực hiện đồng bộ

và hiệu quả hai yêu cầu đó sẽ tạo ra hợp lực, sức mạnh tổng hợp cho sự phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Bài “Tư tưởng của Phan Bội Châu về nội lực” của Nguyễn Văn Hoà đăng trên Tạp chí Triết học số 3, 2008, đã phân tích quan điểm rất tiến bộ của cụ Phan

Bội Châu: Tăng cường sức mạnh nội lực không có nghĩa là đóng kín, khước từ

sự giúp đỡ ở bên ngoài; trái lại, phải biết mở rộng và tăng cường tận dụng các yếu tố của nguồn lực bên ngoài để nhân lên sức mạnh của mình - sức mạnh nội

Trang 19

lực Nguồn lực trong nước không tách rời với nguồn lực nước ngoài và trong mối quan hệ giữa hai nguồn lực này, Phan Bội Châu khẳng định, nguồn lực trong nước - nội lực là cái giữ vai trò quyết định; còn ngoại viện, một trong những yếu tố của nguồn lực nước ngoài - ngoại lực chỉ làm thanh thế cho nội lực

mà thôi; lực lượng bên ngoài phải thông qua lực lượng bên trong mới phát huy được tác dụng của nó Như vậy, ở đây, Phan Bội Châu đã nhận thức được vị trí, vai trò và sức mạnh của nội lực, cũng như nhận thức được mối quan hệ giữa tự lực, tự cường và viện trợ của nước ngoài

Phát huy nội lực từ nguồn sức mạnh của tinh thần dân chủ và quyền lực nhân dân, của ý chí tự lực, tự cường và kết hợp với tranh thủ khai thác mọi nguồn lực bên ngoài là một trong những chủ trương lớn của Phan Bội Châu nhằm tăng cường thực lực để vũ trang bạo động, diệt trừ dị tộc, giành lấy chính quyền về tay nhân dân, xoá bỏ tận gốc chính thể quân chủ xấu xa, lập nên chính thể dân chủ cộng hoà tốt đẹp Tư tưởng hướng đến một xã hội mới cao hơn xã hội phong kiến đương thời đã có tác dụng kích thích, khuyến khích mọi người phát huy sức mạnh vì sự sống còn và tương lai của đất nước

Ngoài ra còn có một số bài viết đề cập đến vấn đề này như: "Kết hợp sức

mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại trong tình hình mới" của Nguyễn Hùng Sơn

in trên Tạp chí Nghiên cứu quốc tế, số 83 (tháng 12 - 2010); Phát huy nội lực,

tranh thủ các nguồn lực quốc tế để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước của Hồ Văn Vĩnh, Tạp chí Lý luận chính trị, số 12, 2005; Tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại của Lưu Ngọc Khải,

Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 6, 2013

1.2 Những công trình nghiên cứu về thực trạng khai thác nội lực và ngoại lực ở Việt Nam hiện nay

1.2.1 Thực trạng khai thác nội lực

Cuốn sách People resoursing (Nguồn lực con người) của tác giả Stephen

Taylor, do Học viện Cán bộ và phát triển (Chartered Institute of Personnel and

Development) ở Anh ấn hành năm 2006 Nguồn lực con người là sách giáo khoa

hàng đầu cho các mô đun nguồn lực con người CIPD và được liên kết chặt chẽ với các tiêu chuẩn CIPD Nó cung cấp một cái nhìn tổng quan toàn diện về vấn

đề quản lý nguồn nhân lực như thu hút các ứng cử viên tốt nhất, giảm số lượng, tăng năng suất lao động của nhân viên thông qua hướng dẫn thực tế và nền tảng

lý thuyết Tác giả Stephen Taylor cũng có một cuốn sách hay là Resoursing and

talent management (Nguồn lực và quản lý tài năng) xuất bản năm 2010

Trang 20

Trong bài "Đổi mới tư duy về nguồn lực và động lực phát triển kinh tế" của

nhà nghiên cứu Ngô Doãn Vịnh - Viện trưởng Viện Chiến lược phát triển đăng

trên Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 11, 2008, tác giả đã phân tích những vấn đề

đặt ra từ nhận thức đến phương cách tiếp cận mới trong quá trình khai thác và

sử dụng nguồn lực và tạo dựng động lực ở Việt Nam:

+ Các nguồn lực chưa được khai thác và sử dụng có hiệu quả Chính sách đối với bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên chưa thoả đáng

+ Trong khi Việt Nam thiếu điện, phải nhập từ Trung Quốc thì chúng ta xuất khẩu than sang Trung Quốc mà không dành để phát triển nhiệt điện

+ Việt Nam có tiềm năng lớn về năng lượng mặt trời và năng lượng sinh học nhưng những nguồn tài nguyên này chưa được nghiên cứu khai thác thoả đáng + Việt Nam là quốc gia không nhiều đất nông nghiệp, nhưng tình trạng làm nhà xưởng chỉ có một tầng tràn lan khắp nơi, gây ra tình trạng tốn nhiều đất cho phát triển công nghiệp và dịch vụ Trong khi quỹ đất để phát triển đô thị không nhiều, khó đến nỗi mà người ta đòi mở rộng Thủ đô Hà Nội, nhưng không có chủ trương xây dựng các nhà chung cư cao tầng một cách có kế hoạch hữu ích

mà cứ để nhân dân tự xây dựng nhà ở cá nhân tràn lan, hoặc không có chủ trương bắt các doanh nghiệp phải xây dựng nhà cao tầng đối với những trường hợp có thể như các lĩnh vực sản xuất hàng điện tử, hàng may mặc

Việt Nam đang rất thiếu nhân tài, nhưng có rất nhiều người đi học ở nước ngoài xong không về nước phục vụ và cống hiến Nhiều người chạy ra khỏi cơ quan nhà nước, đi làm cho các công ty nước ngoài hoặc công ty trong nước có chế độ đãi ngộ tốt hơn Việc Việt Nam thu hút nhân tài từ nước ngoài không kèm theo cơ chế chính sách nên vẫn chỉ là ý tưởng

Trong cuốn Phát huy nhân tố con người trong phát triển lực lượng sản xuất

ở Việt Nam hiện nay, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành năm 2007, nhà

nghiên cứu Phạm Công Nhất đã phân tích thực trạng phát huy nhân tố con người

ở nước ta hiện nay Tác giả chỉ ra rằng Việt Nam là một trong những quốc gia có dân số đông, đó là một thuận lợi cho việc huy động nguồn nhân lực, song, thị trường lao động Việt Nam cũng đang đứng trước nghịch lý "dồi dào những vẫn khan hiếm", thiếu đội ngũ lao động có chuyên môn kỹ thuật cao, thiếu thợ giỏi đáp ứng sự phát triển của nền kinh tế

Trong cuốn Vấn đề tạo nguồn lực tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa

của tác giả Vũ Hy Chương, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2002, với cách nhìn hệ thống, tác giả đã phân tích, đánh giá từng nguồn lực theo nguồn

Trang 21

gốc xuất xứ, theo số lượng và chất lượng, theo cách thức, giải pháp được huy động, xem xét đến các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả khai thác; dự báo khả năng, xu hướng diễn biến, đưa ra các giải pháp thiết thực nhằm thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

“Huy động và sử dụng các nguồn lực chủ yếu nhằm bảo đảm tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Võ Văn Đức, Nhà xuất bản Chính trị

quốc gia, Hà Nội, năm 2009, đã phân tích về vị trí, vai trò, tiềm năng của các nguồn lực, thực trạng khai thác và sử dụng các nguồn lực đó vào quá trình phát triển kinh tế của đất nước

"Phát huy vai trò của đội ngũ trí thức trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện

đại hóa và hội nhập quốc tế" của tác giả Võ Văn Thắng (Tạp chí Triết học, số 2,

2013), trên cơ sở luận giải thêm về nội hàm khái niệm trí thức, phân tích thực trạng đội ngũ trí thức Việt Nam trong thời gian qua, tác giả bài viết đề xuất những giải pháp nhằm phát huy vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong thời

kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế Bài viết dẫn lời của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định vai trò của đội ngũ trí thức: "Để đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm

2020, cần phát huy tối đa mọi nguồn lực, tiềm năng trí tuệ của dân tộc, đặc biệt

là năng lực sáng tạo của đội ngũ trí thức" Tác giả phân tích thực trạng số lượng, chất lượng, cơ cấu của đội ngũ trí thức nước ta trong những năm vừa qua, các công trình khoa học đóng góp của đội ngũ trí thức nước nhà và những hạn chế của trí thức Việt Nam về ngoại ngữ, văn hóa ứng xử, giao lưu quốc tế

Bài “Huy động nguồn lực về vốn, chất xám của người Việt Nam ở nước

ngoài”, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, Chủ nhiệm Ủy ban về người Việt Nam ở

nước ngoài Nguyễn Phú Bình đăng trên Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 2, 2007

nêu lên tiềm năng to lớn của nguồn lực về vốn, chất xám của người Việt Nam ở nước ngoài Trong số gần 3 triệu người Việt Nam sinh sống định cư ở nước ngoài, ước tính có khoảng 300.000 người được đào tạo ở trình độ đại học và công nhân kỹ thuật bậc cao, có kiến thức cập nhật về văn hóa, khoa học và công nghệ, về quản lý kinh tế Trong đó có nhiều người đạt được vị trí quan trọng trong các viện nghiên cứu, trường đại học, bệnh viện, công ty kinh doanh của các nước và các tổ chức quốc tế

Tiềm lực khoa học và công nghệ của các thế hệ người Việt Nam ở nước ngoài không ngừng phát triển, trong đó một thế hệ tri thức mới người nước

Trang 22

ngoài gốc Việt đang hình thành và phát triển, nhất là ở các nước Bắc Mỹ, Tây

Âu và châu Đại Dương Đội ngũ này tập trung ở nhiều lĩnh vực khoa học chuyên ngành và kinh tế mũi nhọn như tin học, viễn thông, điện tử, vật liệu mới, chế tạo máy, điều khiển học, sinh học, quản lý kinh tế, ngân hàng, chứng khoán

Thế mạnh của đội ngũ trí thức người Việt Nam ở nước ngoài là được đào luyện, tiếp cận môi trường khoa học công nghệ tiên tiến và hiện đại, tiếp cận và nắm bắt được phương pháp quản lý kinh tế vĩ mô và chuyên ngành Họ có khả năng phát kiến sáng tạo, có năng lực tổng hợp thông tin, tư vấn đề xuất và tạo dựng mối quan hệ với các cơ sở khoa học, cơ sở kinh tế ở nước sở tại Từ trước đến nay, đội ngũ trí thức kiều bào vẫn được các cơ quan chức năng trong nước đánh giá là thế mạnh của cộng đồng, là một nguồn lực có thể góp phần tích cực cho sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Tuy nhiên, vài năm gần đây, lực lượng này cũng biến động mạnh, một số vừa tham gia hoạt động kinh tế vừa nghiên cứu khoa học, một số khác thì chuyển hẳn sang kinh doanh, không còn làm chuyên môn như đã được đào tạo

Luận án Tiến sĩ Triết học Phát huy nguyồn lực thanh niên trong sự nghiệp

công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay, LATS Triết học: 5.01.03,

của Nguyễn Thị Tú Oanh: Đánh giá vai trò của nguồn lực thanh niên với sự phát triển xã hội Thực trạng của nguồn lực thanh niên hiện nay Các nguyên nhân yếu kém và bài học kinh nghiệm cùng phương hướng giải pháp chủ yếu để phát huy quyền lực thanh niên trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam

Luận văn Thạc sĩ Triết học của Nguyễn Thị Tùng Lâm Vấn đề khai thác và

sử dụng một cách hợp lý nguồn lực tự nhiên và nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, năm 2005 Trên cơ sở phân tích

mối quan hệ giữa nguồn lực tự nhiên và nguồn lực con người, thực trạng khai thác và sử dụng hai nguồn lực này, tác giả đưa ra một số giải pháp nhằm khai thác và sử dụng hợp lý nguồn lực tự nhiên và nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay

1.2.2 Thực trạng khai thác ngoại lực

Cuốn sách Thu hút và sử dụng ODA vào phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế ở

Việt Nam của tác giả Phạm Thị Túy, Nxb Chính trị quốc gia, 2010, đã cung cấp

một cái nhìn tổng quát về tình hình thu hút và sử dụng ODA cho phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế ở nước ta thời gian qua Với rất nhiều số liệu được cập nhật,

Trang 23

phân tích một cách rõ ràng, tác giả đã chỉ ra được những đóng góp của ODA đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của nước ta thời gian qua, đặc biệt thông qua việc nâng cao chất lượng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế Đặc biệt, tác giả cũng chỉ ra và phân tích nguyên nhân của một số tồn tại gây nhiều bức xúc trong

dư luận về sử dụng vốn ODA hiện nay

Để tìm hiểu về thị trường khoa học - công nghệ ở Việt Nam, trong đó có sự

tác động của khoa học - công nghệ tiên tiến của thế giới, có cuốn sách Phát triển

thị trường khoa học - công nghệ Việt Nam của PGS TS Phạm Văn Dũng, Nxb

Chính trị quốc gia, 2010

Cuốn sách Những điều cần biết về Nhật Bản và kinh nghiệm giao tiếp

thương mại với người Nhật của tác giả Trần Anh Phương, Nxb Chính trị quốc

gia, 2009, đã phân tích những kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình giao lưu, ứng xử, giao tiếp thương mại với người Nhật - đất nước dẫn đầu trong viện trợ ODA cho Việt Nam trong những năm qua Để thu hút và sử dụng tốt hơn các nguồn ngoại lực, ngoài việc tuân thủ những quy tắc, quy định thương mại thì một yêu cầu không kém phần quan trọng là chúng ta phải nắm được những thói quen, kỹ năng cơ bản trong giao tiếp thương mại của đất nước đầu tư vốn Nghiên cứu kỹ vấn đề này sẽ giúp nâng cao khả năng tiếp cận và khai thác tốt hơn những nguồn vốn đầu tư vào Việt Nam, không chỉ của Nhật Bản mà còn của rất nhiều tổ chức, các nước khác trong khu vực và trên thế giới

Tác giả Phạm Đình Hạnh với bài viết Thu hút vốn đầu tư nước ngoài phát

triển hạ tầng giao thông vận tải theo hình thức PPP, Tạp chí điện tử Giao thông vận tải, ngày 6-5-2016 đã phân tích nhu cầu đầu tư trong lĩnh vực giao thông

vận tải, cơ hội, thách thức trong thu hút FDI vào lĩnh vực giao thông vận tải và gợi mở xu hướng đầu tư theo hình thức PPP

Ngoài ra có thể kể đến các công trình khoa học như: cuốn Nguồn lực và

động lực phát triển trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam của nhà nghiên cứu Lê Du Phong, Nhà xuất bản Lý luận chính trị, Hà

Nội, xuất bản năm 2006; Dương Thế Phương với bài Đầu tư trực tiếp nước

ngoài nguồn ngoại lực quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương, đăng trên Tạp chí Quản lý nhà nước, số 9, 2004; Chuyển hoá ngoại lực thành nội lực để kinh tế Đồng Nai phát triển bền vững, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 422, 2008; Huy động và sử dụng nguồn lực cho đầu tư phát triển Những chuyện vui, buồn của Hoàng Minh đăng trên Tạp chí Tài chính, số 1, 2005

Trang 24

1.3 Những công trình nghiên cứu về các giải pháp khai thác nội lực và ngoại lực ở Việt Nam

Cuốn Kinh nghiệm khai thác các nguồn lực trong công nghiệp hóa, hiện

đại hóa của Nhật Bản của nhà nghiên cứu Hồ Văn Thông chủ biên, Nhà xuất

bản Chính trị quốc gia xuất bản năm 2000, thông qua việc phân tích những thành tựu cơ bản về công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Nhật Bản, tác giả đã nêu

ra những kinh nghiệm trong việc khai thác các nguồn lực của Nhật Bản, từ vai trò của chính phủ với các chính sách, thiết chế sử dụng, phát huy các nguồn lực, vai trò của các nhân tố văn hóa và xã hội, kinh nghiệm nhập khẩu công nghệ, khai thác nguồn lực khoa học, thông tin, thị trường, việc sử dụng các nguồn lực trong các doanh nghiệp Nhật Bản

Luận án Tiến sĩ kinh tế "Chính sách khai thác nội lực phát triển kinh tế

trong phong trào Saemaul Hàn Quốc và những bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam" của Lee Jung Sook nghiên cứu phong trào Saemaul ở Hàn Quốc, đặc biệt

vai trò của chính phủ và sự hưởng ứng của nhân dân đối với thành công của phong trào từ đó tìm ra bài học kinh nghiệm có thể áp dụng vào điều kiện Việt Nam nhằm thực hiện thành công công cuộc phát triển kinh tế - xã hội nông thôn Việt Nam

Cuốn sách Về động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội do nhà nghiên cứu

Lê Hữu Tầng chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội xuất bản năm

1997 Tác giả đã đưa ra hệ thống các động lực của sự phát triển xã hội, đặc biệt tập trung nghiên cứu tính tích cực của con người và những phương hướng tác động để chúng ta có thể khơi dậy, nuôi dưỡng, phát huy tính tích cực đó (như việc quan tâm đến các nhu cầu và lợi ích: kinh tế, chính trị - tư tưởng, văn hóa, môi trường tâm lý - xã hội, niềm tin, khoa học) nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh

tế - xã hội

Trong bài "Phát huy vai trò của đội ngũ trí thức trong thời kỳ công nghiệp

hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế", tác giả Võ Văn Thắng (Tạp chí Triết học, số 2, 2013), cũng nêu lên một số giải pháp phát huy vai trò của đội ngũ trí

thức Việt Nam như: đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, có chính sách phù hợp thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, tạo môi trường thuận lợi cho đội ngũ trí thức nghiên cứu, làm việc, đặc biệt là một môi trường dân chủ, tự do thực sự, tránh đố kỵ, hẹp hòi, ích kỷ để họ sáng tạo khoa học, tham gia giải quyết những vấn đề lớn của xã hội từ góc độ khoa học Từ đó chúng ta mới phát huy được mọi tiềm năng cá nhân, nhóm, tổ chức để họ gắn bó lâu dài

Trang 25

với công việc, khắc phục tình trạng “dịch chuyển chất xám” hay “chảy máu chất xám” Và giải pháp quan trọng là phải có chính sách trọng dụng, đãi ngộ và tôn vinh trí thức một cách thiết thực

Cuốn sách Động lực và tạo động lực phát triển xã hội của nhà nghiên cứu

Hồ Bá Thâm, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2004 đã xem xét động lực dưới nhiều góc độ Tác giả cho rằng động lực nằm trong quan hệ mâu thuẫn và phát triển biện chứng và là sản phẩm của chính sự vận động

Đổi mới tư duy về nguồn lực và động lực phát triển kinh tế của nhà nghiên

cứu Ngô Doãn Vịnh - Viện trưởng Viện Chiến lược phát triển đăng trên Tạp chí

Kinh tế và Dự báo, số 11, 2008, đưa ra những kiến nghị đổi mới tư duy về

nguồn lực và động lực trong thời kỳ phát triển tới Cần có nhận thức mới theo chiều hướng thực tế, thiết thực hơn, kết hợp định tính với định lượng trong đánh giá nguồn lực và động lực phát triển; làm cho nguồn lực và động lực mang giá trị đúng của nó để phát triển đất nước nhanh, có chất lượng và bền vững Cụ thể như sau:

Đối với nguồn lực: Những thứ được coi là nguồn lực phải là những thứ

được sử dụng hoặc có khả năng sử dụng trong thời kỳ dự kiến phát triển Tiềm năng chưa đưa được vào sử dụng hoặc chưa có khả năng đưa vào sử dụng thì chưa được xem là nguồn lực Các nguồn lực được xem xét dưới nhiều góc độ

Có nghĩa là dưới nhiều góc độ, người ta chia các nguồn lực thành các loại khác nhau để có thái độ đúng đắn và có cách ứng xử với chúng thích hợp

Đối với động lực: Đứng trên quan điểm phát triển, những thứ mang tính

động cơ tạo ra lực lôi kéo và lực thúc đẩy sự phát triển của toàn bộ hệ thống được xem là động lực phát triển Động lực mang tính lịch sử Chẳng hạn, ở thời

kỳ này thì cái đó là động lực phát triển, nhưng ở thời kỳ khác thì nó không còn

là động lực nữa Qua phân tích thực tiễn và bằng những kiến thức lý luận có được, chúng tôi cho rằng, động lực tồn tại dưới hai hình thức: động lực vật chất

và động lực tinh thần

Với tinh thần đổi mới và với quan điểm duy vật biện chứng, chúng ta nhận thấy rằng, con người vừa là nguồn lực quan trọng nhất lại vừa là động lực có sức mạnh nhất Có con người chất lượng cao sẽ có thể có tất cả Con người nghĩ ra

cơ chế, chính sách, sáng tạo ra công nghệ hiện đại cũng như sáng tạo ra mọi giá trị cần thiết cho xã hội Vì thế, nó là nguồn lực quan trọng nhất Khi nói con người là động lực có sức mạnh nhất là vì, con người có nhu cầu rất đa dạng và rất lớn, lại tăng lên không ngừng, vì thế nó kích thích phát triển và chính điều đó

Trang 26

thể hiện tính động lực to lớn của con người Đây là vấn đề có tính nguyên tắc mà các nhà hoạch định chính sách phát triển không thể xem thường

Trong quá trình hoạch định chính sách phát triển, việc tìm ra các nguồn lực,

sử dụng có hiệu quả các nguồn lực cũng như tạo ra các động lực đã khó, nhưng việc nuôi dưỡng, bồi bổ các nguồn lực cũng như tạo ra hiệu ứng cho các động lực còn khó hơn Vì thế, để có được những cơ chế, chính sách tốt tạo ra các nguồn lực và động lực cho sự phát triển của đất nước thì những cơ quan, tổ chức

có trách nhiệm cần có kế hoạch xây dựng đội ngũ cán bộ có kỹ năng nghề nghiệp cao, chuyên trách công việc nghiên cứu về vấn đề này

Vũ Văn Nhiên trong luận án tiến sĩ "Cơ sở triết học của quan điểm lấy nhỏ

thắng lớn, lấy ích địch nhiều trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh - lý luận và thực tiễn" (mã LA 02.00382.3 năm 2002) đã phân tích: "Đổi mới không ngừng

phương thức huy động, sử dụng sức người, sức của của quần chúng nhân dân: là

sự nhạy bén trong việc tranh thủ nắm, chớp thời cơ kết hợp chặt chẽ giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại tạo ra sức mạnh tổng hợp mới cho cách mạng; là sự kết hợp hài hòa giữa giáo dục, huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu để không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cho các lực lượng vũ trang; là sự tìm tòi, sáng tạo ra những cách đánh mới thông minh, độc đáo phù hợp với thực tiễn của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc" Quan điểm này tập trung vào lĩnh vực quân sự, quốc phòng

Trong cuốn Phát huy các nguồn lực của dân làm lợi cho dân theo tư tưởng

Hồ Chí Minh, các tác giả Phạm Ngọc Anh (chủ biên), Ngô Xuân Dương, Lê Thị

Hằng trên cơ sở trình bày tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phát huy các nguồn lực của dân làm lợi cho dân đã phân tích thực trạng và đưa ra các giải pháp chủ yếu vận dụng, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về phát huy các nguồn lực của dân làm lợi cho dân trong công cuộc đổi mới

Cuốn Đại đoàn kết dân tộc phát huy nội lực nâng cao hiệu quả hợp tác

quốc tế thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước của Vũ Oanh, Nhà

xuất bản Chính trị quốc gia, 1998, gồm những bài nói và viết của tác giả từ năm

1991 đến nay về chủ đề: Khơi dậy và phát huy truyền thống đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết các tầng lớp nhân dân trên cơ sở khối liên minh công nông và trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng, xây dựng cuộc sống xã hội có văn hoá, đạo đức, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc

tế, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Trang 27

Luận án của Nguyễn Linh Khiếu Lợi ích với tính cách là động lực của sự

phát triển xã hội năm 1996, đã phân tích và làm rõ khái niệm, vị trí, vai trò của

yếu tố lợi ích, các nhóm lợi ích trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay Trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp định hướng và điều chỉnh sự hoạt động của các cá nhân riêng lẻ, các nhóm xã hội… đang theo đuổi các mục đích của mình nhưng đồng thời lại góp phần tạo nên sự vận động và phát triển chung của toàn xã hội

Cuốn sách Nợ nước ngoài của các nước đang phát triển: Cuộc khủng

hoảng và triển vọng của vấn đề, Huỳnh Ngọc Nhân chủ biên, Nhà xuất bản Hà

Nội, 1988, đã phân tích các nội dung chính của vấn đề nợ nước ngoài của các nước đang phát triển như: diễn biến tình hình vay nợ và cuộc khủng hoảng nợ, những nguyên nhân dẫn tới cuộc khủng hoảng nợ, các giải pháp để thoát ra và triển vọng của vấn đề nợ

Bài viết "Kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại trong phòng,

chống "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch đối với nước ta hiện nay"

của tác giả Phạm Thanh Sơn in trên Tạp chí Khoa học quân sự (tháng 8 - 2010)

đã đưa ra một số giải pháp chủ yếu như: Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn nội lực và ngoại lực, phát triển nền kinh

tế nhanh và bền vững làm thất bại âm mưu "diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực kinh tế Chủ động xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chiến lược đầu tư, sản xuất kinh doanh trên cơ sở lộ trình, hình thức và bước đi

đã lựa chọn, nhằm phát huy có hiệu quả những lợi thế của đất nước, đồng thời tránh được những tác động tiêu cực trong quá trình hội nhập nền kinh tế của các quốc gia trong khu vực và thế giới Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ là nền tảng vật chất cơ bản để củng cố và duy trì sự độc lập, tự chủ về chính trị

"Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong Chiến lược bảo vệ

Tổ quốc" của Nguyễn Ngọc Hồi trên Tạp chí Quốc phòng toàn dân (tháng 5 -

2014), sự kết hợp phải trên cơ sở “thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ;

là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với tất cả các nước trên cơ sở những nguyên tắc

cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế” Đây cũng chính là

tư tưởng chỉ đạo hoạt động đối ngoại của Đảng ta, là cơ sở để hiện thực hóa quan điểm “kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại” ở tầm quốc gia, cũng như ở mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi lĩnh vực cụ thể

Trang 28

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, các cấp, các ngành, các lĩnh vực khai thác yếu tố bên ngoài để kết hợp với yếu tố nội lực đều gắn liền với thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng Sự kết hợp đó, chỉ có thể đạt hiệu quả cao, góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp bảo vệ Tổ quốc, một khi các hoạt động đối ngoại đều quán triệt sâu sắc và thực hiện đúng tư tưởng chỉ đạo đã đề ra Xa rời tư tưởng này, nước ta sẽ không tránh khỏi bị cô lập, bị động,

lệ thuộc vào bên ngoài; không còn giữ được tính độc lập, tự chủ của quốc gia, dân tộc; không những không huy động được sức mạnh ngoại lực, mà còn làm suy yếu nội lực Do đó, hoạt động đối ngoại của các cấp, các ngành, các lĩnh vực

ở những cấp độ khác nhau (đối ngoại Nhà nước, đối ngoại Đảng, đối ngoại nhân dân,…) đều phải quán triệt và vận dụng sáng tạo tư tưởng chỉ đạo đó thông qua các biện pháp, hình thức phù hợp; chú trọng đặt lên hàng đầu lợi ích quốc gia, dân tộc trong sự kết hợp chặt chẽ với tạo dựng môi trường quốc tế thuận lợi nhất cho công cuộc phát triển kinh tế - xã hội nhằm thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Đồng thời, phải nắm vững phương châm “vừa hợp tác, vừa đấu tranh”, “thêm bạn, bớt thù”, có cách nhìn biện chứng về “đối tượng” và “đối tác” để có thể tranh thủ hợp tác khía cạnh “đồng thuận” ở mỗi “đối tượng”; kiên quyết đấu tranh với mỗi “đối tác” những vấn đề còn mâu thuẫn, trên nguyên tắc bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế - xã hội là lợi ích cao nhất Phát huy cao nhất tiềm năng, thế mạnh nội lực của mình, kết hợp với tranh thủ sự hợp tác quốc tế trên cơ sở quán triệt và thực hiện đúng đường lối đối ngoại của Đảng, từng cấp, từng ngành và từng lĩnh vực cụ thể không chỉ đem lại lợi ích trực tiếp cho chính mình, mà còn góp phần quan trọng vào bảo vệ từ xa nền độc lập dân tộc, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa

Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là tư tưởng chỉ đạo chiến lược xuyên suốt của cách mạng Việt Nam Điều đó đã được thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam thẩm định và trở thành một bài học kinh nghiệm lớn Ngày nay, kế thừa và vận dụng sáng tạo bài học kinh nghiệm đó tiếp tục là một phương thức tạo nên “sức mạnh tổng hợp về chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại để bảo vệ Tổ quốc” Đó là trách nhiệm của toàn dân, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng

Ngoài ra có các bài báo, tạp chí cũng bàn về vấn đề giải pháp khai thác nội

lực và ngoại lực như: Lê Đức Ngọc, Xây dựng văn hoá chất lượng: Tạo nội lực

Trang 29

cho cơ sở đào tạo đáp ứng yêu cầu của thời đại chất lượng, Tạp chí Khoa học giáo dục, số 36, 2008; Tào Hữu Phùng, Đánh thức tiềm năng, gia tăng nguồn lực Giải pháp thực hiện tốt nghị quyết Đại hội Đảng X về tài chính - ngân sách nhà nước giai đoạn 2007-2010, Tạp chí Tài chính, số 9, 2006; Lê Hoàng Minh,

"Vóc dáng" nguồn lực; Dự báo về khả năng khai thác các nguồn lực phát triển cho nền kinh tế năm 2004, Tạp chí Tài chính, số 1, 2004; Giải pháp huy động vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ Vốn nước ngoài đối với phát triển kinh tế tư nhân Việt Nam, Vũ Thị Bạch Tuyết (chủ biên), Nguyễn Tiến Thuận, Vũ Duy

- Các công trình kể trên, từ nhiều góc độ nghiên cứu đã làm rõ những lý luận căn bản về quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về việc khai thác các nguồn nội lực và ngoại lực trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; đồng thời cho thấy đây là một quá trình phức tạp cần tiếp tục nghiên cứu và bổ sung lý luận cho phù hợp với những diễn biến nhanh chóng của tình hình trong và ngoài nước hiện nay

- Các tác giả đã phân tích và luận giải khá sâu sắc về khái niệm nội lực, ngoại lực, vai trò và mối quan hệ của chúng đối với sự phát triển của Việt Nam trong quá trình đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay

- Trên các góc độ nghiên cứu khác nhau, các công trình đã phân tích, đánh giá thực trạng khai thác một số nguồn nội lực và ngoại lực ở Việt Nam

- Các công trình đã đề xuất những phương hướng và giải pháp để khai thác

có hiệu quả hơn các nguồn nội lực và ngoại lực trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay

Với những bổ sung, đóng góp đó, các công trình khoa học trên đã trang bị nền tảng cơ sở lý luận cơ bản và những luận giải, bằng chứng khoa học từ thực tiễn về vấn đề nội lực và ngoại lực Những giá trị lý luận đó là cơ sở cần thiết cho các nhà hoạch định chính sách, nhà quản lý và những người nghiên cứu về vấn đề này

Trang 30

Tuy nhiên, từ tổng quan tình hình nghiên cứu có thể nhận thấy, những công trình, đề tài này chỉ gắn với những mục tiêu riêng lẻ của các ngành, lĩnh vực khác nhau, như: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, giải pháp tài chính, nguồn nhân lực, bảo vệ môi trường mà chưa có nghiên cứu một cách tổng thể về vấn đề khai thác nội lực và ngoại lực ở Việt Nam hiện nay

Tiếp cận vấn đề này dưới góc nhìn triết học, tác giả sẽ tập trung đi sâu làm

rõ các khái niệm về nội lực và ngoại lực, vai trò và mối quan hệ giữa khai thác nội lực và khai thác ngoại lực; phân tích, đánh giá những mặt thành tựu - đã làm được, cũng như những hạn chế - những cái chưa làm được của quá trình khai thác các nguồn nội lực và ngoại lực; từ đó đề xuất những giải pháp khai thác, sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn lực ấy

Bước đầu, Luận án xác định các nguồn lực cấu thành nội lực và ngoại lực là: Nội lực gồm: nguồn lực con người, nguồn lực văn hóa, nguồn lực tài nguyên thiên nhiên, vị thế địa chính trị ; ngoại lực gồm: nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài vào Việt Nam, khoa học - công nghệ hiện đại,… Từ đó, tác giả sẽ có cách tiếp cận và triển khai vấn đề một cách cụ thể, phù hợp theo đặc điểm chung của từng nguồn lực Tuy nhiên, riêng nguồn lực tài nguyên thiên nhiên, với đặc điểm được bao gồm từ nhiều yếu tố như đất đai, rừng, biển, khoáng sản, nên trong quá trình đề cập đến thực trạng và giải pháp, tác giả đề tài sẽ tập trung triển khai phân tích theo cấu trúc từng yếu tố để làm rõ hơn quá trình khai thác, sử dụng nguồn lực tài nguyên thiên nhiên ở nước ta hiện nay

Tiểu kết chương I

Nội lực và ngoại lực là hai yếu tố quan trọng để phát triển đất nước Nó bao gồm trong đó tổng hòa của hầu hết các nguồn lực, từ nguồn lực trong nước như con người, văn hóa, các yếu tố thuộc về lợi thế như tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, đến các nguồn lực có thể tiếp thu được từ các nước phát triển trong khu vực cũng như trên thế giới như vốn, khoa học công nghệ

Bất cứ quốc gia nào muốn phát triển thì đều phải có sự hoạch định rõ ràng

về quá trình khai thác các nguồn nội lực và ngoại lực, từ đó có sự phối kết hợp chặt chẽ trong quá trình khai thác, sử dụng để các nguồn lực phát triển tương hỗ, đạt hiệu quả cao nhất Yêu cầu này xuất phát từ chính những nguyên lý cơ bản

Trang 31

của chủ nghĩa Mác - Lênin trong việc giải quyết mối quan hệ bên trong và mối quan hệ bên ngoài của sự vật, hiện tượng

Những vấn đề về khai thác nội lực và khai thác ngoại lực hay mối quan hệ của chúng đã được các nhà tư tưởng, các nhà nghiên cứu tiếp cận và giải quyết ở nhiều phương diện Do phạm vi của vấn đề khá rộng nên cũng có nhiều quan điểm, nhận định khác nhau Tuy nhiên, tựu chung lại các công trình đều thống nhất cho rằng vị trí, vai trò của nội lực là quyết định, ngoại lực là quan trọng đối với sự phát triển Thông qua phân tích thực trạng các nguồn lực hiện nay, các tác giả đã cho chúng ta thấy được những thành tựu cũng như hạn chế của quá trình khai thác nội lực và ngoại lực ở Việt Nam hiện nay

Các công trình nói trên có liên quan chặt chẽ tới nội dung đề tài của luận

án, là nguồn thông tin tư liệu quý giá để luận án tiếp thu, bổ sung và phát triển Tuy nhiên, dưới góc độ triết học, vấn đề khai thác nội lực và ngoại lực ở Việt Nam hiện nay là một vấn đề rộng, khá phức tạp, chưa có tác giả nào đi sâu nghiên cứu tổng thể, toàn diện vấn đề này Bởi vậy, luận án sẽ hướng tới các

điểm chính như: Một là, làm rõ về mặt lý luận khái niệm nội lực và ngoại lực cũng như mối quan hệ giữa khai thác nội lực và ngoại lực; Hai là, phân tích,

đánh giá thực trạng khai thác nội lực và ngoại lực của đất nước hiện nay, chỉ ra

những tiềm năng chưa khai thác được ở các nguồn lực; Ba là, rút ra được một số

giải pháp nhằm tăng cường việc khai thác có hiệu quả hơn các nguồn lực này Trong bối cảnh đất nước và thế giới đang có những thay đổi to lớn hiện nay, việc nhìn nhận và đánh giá về quá trình khai thác nội lực và ngoại lực của đất nước có ý nghĩa lý luận và thực tiễn vô cùng cần thiết

Đề tài Vấn đề khai thác nội lực và ngoại lực ở Việt Nam hiện nay sẽ tập

trung góp phần bổ sung lý luận cho nhóm các công trình nêu trên, cụ thể thông qua các chương là: một số vấn đề lý luận về khai thác nội lực và ngoại lực; thực trạng khai thác nội lực và ngoại lực ở Việt Nam hiện nay; phương hướng và một

số giải pháp khai thác có hiệu quả các nguồn nội lực và ngoại lực ở Việt Nam hiện nay

Trang 32

Chương 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NỘI LỰC VÀ NGOẠI LỰC

2.1 Khái niệm và mối quan hệ biện chứng giữa nội lực và ngoại lực

2.1.1 Khái niệm nội lực

2.1.1.1 Khái niệm

Trong quan niệm của hầu hết các nhà tư tưởng, các nhà nghiên cứu trước đây, khái niệm “nội lực” - được hiểu với ý nghĩa là “nội lực đất nước”, thường được đồng nhất với khái niệm “sức mạnh dân tộc” Do đó, thông qua việc phân tích, đánh giá các quan niệm về “sức mạnh dân tộc”, chúng ta sẽ khái quát được nội hàm của khái niệm “nội lực”

Là người đặc biệt đề cao tinh thần tự lực, tự cường dân tộc, trong suốt quá trình lãnh đạo đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh: trước mọi khó khăn, thử thách, nếu có đường lối đúng, ý chí tự lực tự cường, biết phát huy mọi nguồn lực, mọi sáng kiến của nhân dân, có giải pháp kiên quyết, trên dưới đồng lòng, hợp sức thì nhất định sẽ vượt qua được mọi khó khăn để giành thắng lợi Nội lực đất nước hay như Người gọi tên là “sức mạnh dân tộc” - là toàn bộ sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần của đất nước - đó là sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, sức mạnh của tinh thần dân tộc, của truyền thống văn hóa, lòng yêu nước, chủ nghĩa nhân văn, tinh thần yêu lao động Với tất cả tài năng và trí tuệ kiệt xuất của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là người đã nhận thức sâu sắc và vận dụng triệt để những nội dung và giá trị của sức mạnh dân tộc ấy vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, huy động sức mạnh toàn dân chiến thắng những kẻ thù hung bạo nhất của thời đại

Với quan điểm đề cao vai trò của yếu tố tinh thần trong sức mạnh nội tại của

dân tộc, GS Phan Huy Lê nhận định trong bài viết "Sức mạnh dân tộc và sức

mạnh thời đại sẽ làm nên thắng lợi" như sau: “Đối với dân tộc ta, đó là sức

mạnh của chủ nghĩa yêu nước, của tinh thần và ý chí độc lập, sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, sức mạnh của nền văn hóa, của trí thông minh sáng tạo Chính bằng sức mạnh tổng hợp đó, Việt Nam đã giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh bảo vệ đất nước Đóng góp thêm vào nội lực tiềm tàng đó, trong cuộc đấu tranh chính nghĩa của mình, Việt Nam còn tranh thủ được sức mạnh của thời đại, sự ủng hộ của dư luận quốc tế, của nhân dân các nước kể cả nhân dân nước đi xâm lược” [62] Chúng tôi rất đồng tình với quan điểm của GS Phan Huy Lê Trên

Trang 33

thực tế, một đất nước nghèo nàn, lạc hậu, tiềm lực vật chất thiếu thốn thì yếu tố tinh thần - ý chí dân tộc, sức mạnh đoàn kết, tinh thần yêu nước , mới là sức mạnh nội lực chủ đạo, nổi bật để cả dân tộc vượt qua được những khó khăn, trở ngại, tạo nên kỳ tích Tuy nhiên, để khai thác đầy đủ nhất nội lực đất nước còn cần tính đến các nguồn lực quan trọng khác như tài nguyên thiên nhiên, yếu tố địa chính trị của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, thì quan niệm trên của tác giả còn chưa đề cập đến

Trong bài viết "Kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại trong

phòng, chống "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch đối với nước ta hiện nay", PGS TS Phạm Thanh Sơn, Tạp chí Khoa học quân sự (tháng 8-2010) đã

phân tích các yếu tố cấu thành sức mạnh dân tộc “là kết quả tổng hợp của các tiềm lực kinh tế, chính trị, tinh thần, văn hoá… của một dân tộc, của một quốc gia, được biểu hiện ở năng lực huy động, kết quả khai thác và sử dụng hiệu quả các tiềm lực ấy vào nhiệm vụ xây dựng và phát triển đất nước” Tác giả phân biệt giữa khái niệm “sức mạnh quốc gia” và “sức mạnh dân tộc” Ông cho rằng, các tiềm lực kinh tế, chính trị, tinh thần, văn hoá…, tự bản thân nó chưa bao hàm hết sức mạnh dân tộc; bởi dân tộc vừa được hiểu theo nghĩa "chỉ cộng đồng người có mối liên hệ chặt chẽ và bền vững, có chung sinh hoạt kinh tế, có ngôn ngữ riêng, văn hoá có những đặc thù”, vừa được hiểu theo nghĩa "chỉ một cộng đồng người ổn định làm thành nhân dân một nước, có lãnh thổ quốc gia, nền kinh tế thống nhất, quốc ngữ chung và có ý thức về sự thống nhất của mình, gắn

bó với nhau bởi quyền lợi chính trị, kinh tế, truyền thống văn hoá và truyền thống đấu tranh chung trong quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước” [91, tr.12]

Tuy nhiên, tác giả cũng nhận định, dù hiểu theo nghĩa nào thì dân tộc và quốc gia cũng không tách rời nhau, sức mạnh quốc gia có cội nguồn từ sức mạnh dân tộc, đồng thời hun đúc, liên kết sức mạnh dân tộc, tạo nên sự bền vững của sức mạnh quốc gia Vì vậy, phát huy sức mạnh dân tộc ở nước ta hiện nay là phát huy nguồn nội lực của quốc gia, từ sức mạnh vật chất đến sức mạnh tinh thần, văn hoá, khoa học - công nghệ…, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh, xây dựng và kết hợp chặt chẽ giữa lực lượng và thế trận quốc phòng với thế trận và lực lượng an ninh, làm thất bại mọi

âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Trang 34

Trước yêu cầu của quá trình hội nhập quốc tế, ở góc độ là chủ thể lãnh đạo việc phát huy nội lực, Đảng và Nhà nước ta rất chú trọng vấn đề khai thác nội

lực của đất nước Ngay từ Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung

ương khoá VIII (1997), Đảng ta đã xác định rõ nội hàm quan trọng, cốt lõi của

nội lực quốc gia hiện nay: “Trên cơ sở độc lập, tự chủ, phát huy đầy đủ các yếu

tố nội lực, dựa vào nguồn lực trong nước là chính, bao gồm nguồn lực con người, đất đai, tài nguyên, trí tuệ, truyền thống (lịch sử, văn hoá của dân tộc)” [29, tr.8]

Như vậy, qua việc phân tích các quan niệm về “nội lực” và “sức mạnh dân tộc” trên, chúng ta thấy rằng, các quan niệm đều thống nhất về nội hàm của khái niệm nội lực là bao gồm các yếu tố vật chất và tinh thần, là những thế mạnh nhằm thúc đẩy kinh tế quốc gia phát triển Còn ngoại diên khái niệm có sự khác nhau giữa các quan điểm là do cách tiếp cận và đặc điểm chuyên ngành nghiên cứu của các nhà khoa học ở các lĩnh vực khoa học xã hội khác nhau

Cần lưu ý rằng, nội lực đất nước không phải là sự kết hợp, tổng hợp đơn thuần các yếu tố như con người, văn hóa, các điều kiện địa lý, tài nguyên thiên

nhiên Thực chất “nội lực” phải là sức mạnh của dân tộc, thể hiện năng lực của

một đất nước trong quá trình tồn tại và phát triển Sức mạnh ấy có được từ việc khai thác các nguồn lực thế mạnh, phù hợp với yêu cầu của từng giai đoạn lịch

sử nhất định

Dù được xem xét ở các góc độ khác nhau nhưng có bốn vấn đề cần lưu ý

khi phân tích về nội lực đất nước: Thứ nhất, nội lực là khái niệm có nội hàm

rộng và luôn thay đổi cùng với quá trình vận động của thực tiễn xã hội Có thể trong thời điểm này, yếu tố đó được coi là thế mạnh và là nguồn nội lực quan trọng nhưng bước sang giai đoạn khác, với điều kiện và yêu cầu khác thì nó lại không còn được xác định là nội lực nữa Ví dụ, trong văn hóa có văn hóa kinh doanh Trước đây, việc xây dựng văn hóa kinh doanh trong các doanh nghiệp hoặc nhà máy, xí nghiệp không được coi trọng nhưng trong nền kinh tế tri thức, trước yêu cầu của việc đề cao yếu tố nhân văn, yếu tố con người đã khiến văn hóa kinh doanh trở thành nguồn nội lực quan trọng của mỗi quốc gia, dân tộc, là yếu tố góp phần xây dựng hình ảnh, thương hiệu, văn hóa riêng, từ đó tạo ra các giá trị kinh tế, văn hóa bền vững Trên thực tế, bất cứ một tập đoàn hay công ty nổi tiếng nào hiện nay cũng đều xây dựng văn hóa kinh doanh cho riêng mình

Thứ hai, việc xác định nội lực phụ thuộc vào khả năng, trình độ nhận thức của

con người, trong đó đặc biệt là trình độ phát triển của khoa học - công nghệ Con

Trang 35

người để thỏa mãn nhu cầu vô hạn của mình đã không ngừng tìm kiếm và phát hiện ra các nguồn lực mới như: nguyên vật liệu, năng lượng mới , chính điều

đó tạo điều kiện cho mỗi quốc gia nghiên cứu và làm giàu thêm các nguồn nội lực cho đất nước mình Việt Nam có lợi thế rất lớn là đường tiếp giáp với biển rất dài Trước đây chúng ta chỉ tập trung phát triển ngư nghiệp nhưng hiện nay, trước nhu cầu nghỉ dưỡng và thăm quan du lịch của con người ngày càng cao, chúng ta đã tăng cường tìm kiếm, khám phá và tập trung khai thác những thế mạnh của biển đảo, xây dựng bãi tắm, khu resort , đặc biệt khai thác các cảng

biển nước sâu, phục vụ phát triển kinh tế đất nước Thứ ba, nội lực phụ thuộc

vào yêu cầu phát triển của mỗi quốc gia Mỗi nước có những lợi thế, những điều kiện và mục tiêu ở các giai đoạn phát triển là khác nhau, bởi vậy việc xác định các nguồn nội lực cũng khác nhau

Tóm lại, nội lực là tổng hợp những lợi thế bên trong của đất nước, quyết

định sự phát triển hiện tại của đất nước

Không phải nguồn lực trong nước nào cũng tạo nên nội lực, chỉ những yếu

tố tạo nên động lực phát triển kinh tế - xã hội của đất nước mới được coi là nội lực Những yếu tố này được xác định ở thời điểm “hiện tại” Bởi vì, có những nguồn lực ở thời điểm này là nội lực, nhưng đến một thời điểm khác nó lại trở thành lực cản cho quá trình phát triển đất nước

Bất cứ quốc gia nào cũng có những nguồn lực thế mạnh nhưng không phải quốc gia nào cũng biết tận dụng lợi thế của mình để khai thác có hiệu quả Bởi vậy, điều quan trọng là phải biết cách khai thác các nguồn nội lực đó

Khai thác nội lực đất nước là cách thức để các yếu tố cấu thành nội lực bộc lộ sức mạnh, khả năng nhằm phục vụ quá trình phát triển Xét theo một góc

độ khác nếu coi nội lực là năng lực xã hội của một quốc gia, thì khai thác nội lực

là cách thức làm cho năng lực xã hội thể hiện vị trí, vai trò của mình phục vụ

mục tiêu phát triển đất nước Do đó, “vấn đề khai thác nội lực đất nước” chính

là việc nêu lên được những thành tựu và hạn chế trong quá trình khai thác nội lực, những gì đã khai thác được, những gì chưa khai thác được và còn ở dạng tiềm năng, để từ đó xây dựng giải pháp giúp việc khai thác nội lực có hiệu quả hơn

2.1.1.2 Các bộ phận cấu thành nội lực của đất nước

Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về cách xác định các nguồn nội lực của đất nước

Nếu căn cứ theo phương thức tồn tại thì nội lực bao gồm: nguồn lực vật

chất và nguồn lực phi vật chất

Trang 36

Nếu căn cứ theo thành phần thì nội lực bao gồm: đội ngũ tinh hoa (người

hiền tài); nguồn lực về thông tin; nguồn lực từ cơ chế; nguồn lực từ hệ thống văn bản pháp luật; nguồn lực từ khoa học công nghệ

Trong phân tích của mình, PGS.TS Trần Văn Chử cho rằng, nội lực gồm:

“Lao động, khoa học và công nghệ, vốn và tài nguyên thiên nhiên, cùng với các

yếu tố nguồn lực mang tính chính trị xã hội - thể chế chính trị, cơ chế chính sách, truyền thống và tính cộng đồng, kinh nghiệm quản lý” [14, tr.32]

Trước yêu cầu của quá trình hội nhập quốc tế, Đảng và Nhà nước ta rất chú trọng vấn đề khai thác nội lực của đất nước Theo Văn kiện Hội nghị lần thứ tư

Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII đã xác định: “Trên cơ sở độc lập, tự chủ,

phát huy đầy đủ các yếu tố nội lực, dựa vào nguồn lực trong nước là chính, bao gồm nguồn lực con người, đất đai, tài nguyên, trí tuệ, truyền thống (lịch sử, văn hoá của dân tộc)” [29, tr.8]

Trên cơ sở cho rằng nguồn lực trong nước là các nguồn lực chỉ có khả năng khai thác, sử dụng nhằm thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế trong phạm

vi lãnh thổ của một quốc gia, có thể phân chia nội lực bao gồm: lao động, khoa học và công nghệ, vốn và tài nguyên thiên nhiên, cùng với các yếu tố nguồn lực mang tính chính trị xã hội - thể chế chính trị, cơ chế chính sách, truyền thống và tính cộng đồng, kinh nghiệm quản lý [14, tr.32]

Trên cơ sở tiếp thu những quan điểm của các nhà khoa học, đồng thời, dựa vào vị trí, vai trò của các nguồn lực, tác giả luận án xác định nội lực đất nước bao gồm: nguồn lực con người, đất đai, tài nguyên, văn hóa, thể chế chính trị, cơ chế chính sách, vị thế địa chính trị, khoa học và công nghệ

Trong phạm vi có hạn của luận án, công trình này không có đủ điều kiện

để nghiên cứu toàn bộ các nguồn nội lực mà chỉ tập trung làm rõ một số nguồn nội lực cơ bản như: Nguồn lực con người, nguồn lực tài nguyên thiên nhiên, nguồn lực văn hoá, vị thế địa chính trị

- Nguồn lực con người

Nguồn lực con người là tổng thể những yếu tố thuộc về thể chất, tinh thần, đạo đức, phẩm chất, trình độ tri thức, vị thế xã hội… tạo nên năng lực của con người, của cộng đồng người có thể sử dụng, phát huy trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và trong những hoạt động xã hội

Với cách tiếp cận trên, nguồn lực con người có nội hàm rất rộng, bao gồm các yếu tố cấu thành về lực lượng (số lượng), tri thức, khả năng nhận thức và

Trang 37

tiếp thu kiến thức, tính năng động xã hội và sức sáng tạo, cũng như truyền thống lịch sử và nền văn hoá mà con người được hưởng thụ

Học thuyết về hình thái kinh tế - xã hội chỉ rõ rằng, con người giữ vai trò quyết định trong sự phát triển của lực lượng sản xuất để rồi từ đó làm thay đổi quan hệ sản xuất, biến đổi phương thức sản xuất xã hội, thay thế hình thái kinh

tế xã hội này bằng hình thái kinh tế - xã hội khác tiến bộ hơn, cao hơn Như vậy, con người với tư cách là chủ thể sản xuất chính là động lực chân chính của sự phát triển xã hội

Lênin đã nhận định: Lực lượng sản xuất hàng đầu của nhân loại là công nhân, là người lao động Chỉ khi tạo ra được một nguồn nhân lực bao gồm: những con người có năng lực phát triển toàn diện, đủ sức tinh thông và nắm vững nhanh chóng toàn bộ hệ thống sản xuất trong thực tiễn chúng ta mới tạo ra được một lực lượng sản xuất đáp ứng được yêu cầu phát triển của xã hội Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã khẳng định: Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa

Trong bất cứ thời kỳ lịch sử nào, nguồn lực con người cũng đều giữ vai trò quyết định đối với các hoạt động thúc đẩy sự phát triển của xã hội Bước vào thế

kỷ XXI, khi nền kinh tế của nhân loại đang dần chuyển sang nền kinh tế tri thức

và xu thế toàn cầu hoá đang diễn ra hết sức nhanh chóng, muốn biến nước ta thành một nước công nghiệp, thì vai trò của nguồn lực con người đối với sự phát triển lại càng rõ nét hơn

Nếu xem xét dưới góc độ phát triển bền vững, bao gồm tăng trưởng kinh tế,

an toàn xã hội và bảo vệ môi trường, thì con người vừa với vai trò là nguồn lực, lại vừa chính là mục tiêu cuối cùng, là đỉnh cao nhất hướng đến của quá trình phát triển bền vững ở mỗi quốc gia

Bởi vậy, với vấn đề khai thác nguồn lực con người, bên cạnh việc sử dụng

và phát huy những khả năng về sức khoẻ và trí tuệ của con người thì cũng cần chăm lo bồi dưỡng, tạo mọi điều kiện cho con người được thụ hưởng một cách công bằng những thành quả mà xã hội đạt được Đặc biệt, trong chiến lược phát triển con người, không chỉ là phát triển từng mặt nào đó mà là phát triển toàn diện cả đạo đức và tài năng, cả sức khoẻ và trí tuệ, cả tay nghề và lối sống, không chỉ của từng con người mà cả thế hệ hôm nay và thế hệ mai sau Nghĩa là chăm lo phát triển, đào tạo, bồi dưỡng sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần của con người, tạo nên nguồn lực con người cho đất nước Chính vì phát triển

Trang 38

toàn diện con người trên cả năng lực vật chất và năng lực tinh thần, đòi hỏi phải xác lập những thiết chế xã hội sao cho sự giáo dục xã hội, giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình gắn kết với nhau chặt chẽ, tạo ra cả một đội ngũ lao động hùng hậu có đủ phẩm chất và tài năng, đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá,

hiện đại hoá và sẽ tạo ra năng lực nội sinh để phấn đấu cho mục tiêu dân giàu

nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

- Nguồn lực tài nguyên thiên nhiên

Đất đai, rừng, biển, khoáng sản là những nguồn tài nguyên thiên nhiên quan trọng đối với sự phát triển của mọi nền kinh tế

Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, là tặng vật của tự nhiên cho con người, là điều kiện của lao động; đất đai kết hợp với lao động là nguồn gốc sinh ra mọi của cải vật chất trên đời William Petty đã nói rất hay là: Đất đai là cha, còn lao động là mẹ của mọi của cải vật chất Đất đai là một trong ba yếu tố chủ yếu hợp thành đầu vào của quá trình sản xuất (đất đai - lao động - vốn) Đất đai là cái nôi

để cho con người và xã hội loài người tồn tại và phát triển Từ khi loài người xuất hiện, con người luôn tác động vào đất đai, bắt đất đai biến đổi không ngừng

để phục vụ cho lợi ích của con người, bởi vậy đất đai không chỉ là phạm trù tự nhiên đơn thuần nữa, mà còn là phạm trù xã hội

Talét (khoảng 624 TCN - 546 TCN), triết gia, nhà toán học người Hy

Lạp đã quan niệm toàn bộ thế giới của chúng ta được khởi nguồn từ nước: Mọi

vật đều sinh ra từ nước.Thực tế, nước là nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng

trong đời sống con người Từ các ao hồ, sông ngòi, đại dương sự sống của con người từ đó sinh sôi và phát triển Lịch sử của các nền văn minh nhân loại thường có khởi nguồn gần các con sông lớn là vậy

Cùng với nước, quốc gia nào có nhiều khoáng sản (kể cả số lượng, chất lượng, chủng loại) thì nước đó sẽ có điều kiện tăng tốc trong quá trình phát triển kinh tế Còn rừng và biển, ngoài việc cung cấp cho con người những sản phẩm đặc biệt quý giá như gỗ, các loại động vật và thực vật quý, các loại thảo dược, các loại hải sản chúng còn góp phần giữ cho môi trường sống của con người (đất, nước, không khí, thời tiết, khí hậu) luôn trong sạch và cân bằng

Nguồn lực tự nhiên là những điều kiện sẵn có, là ưu thế nổi bật của nước ta Nếu biết tận dụng khai thác một cách khoa học và có kế hoạch thì đây sẽ là một

Trang 39

nguồn nội lực vô cùng quan trọng để đem lại lợi thế so sánh tuyệt đối của nước

ta so với rất nhiều nước khác

- Nguồn lực văn hoá

Văn hóa vừa có tính nhân loại, phản ánh những giá trị và phương thức sinh tồn phát triển có tính phổ biến của nhiều dân tộc, nhiều giai đoạn phát triển xã hội, vừa có nội dung mang bản sắc dân tộc được nảy sinh trong hoàn cảnh, môi trường cụ thể, một kiểu kết hợp và tiếp biến cái nội sinh và cái ngoại sinh tạo thành linh hồn bền vững của dân tộc, phân biệt dân tộc này với dân tộc khác thông qua nếp sống, nếp nghĩ, nếp cảm của họ Bản sắc văn hóa ấy tạo thành bản lĩnh, sức mạnh của dân tộc trong đấu tranh xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Khơi dậy được những truyền thống văn hóa tốt đẹp có nghĩa là gợi dậy được sức sống, sức mạnh của toàn cộng đồng, của toàn dân tộc Bởi những giá trị truyền thống tốt đẹp không chỉ bao chứa tinh thần mà đó là hợp chất tinh thần - vật chất, nên nó là sức mạnh tinh thần - vật chất dân tộc Lịch sử đã chứng minh:

kẻ xâm lược có thể cướp nước, giết người, thôn tính bờ cõi quốc gia, nhưng chưa chắc đã có thể thôn tính được văn hóa của một dân tộc

Động lực văn hóa đối với sự phát triển xã hội thể hiện ở vai trò của bản sắc văn hóa đối với sự cố kết cộng đồng, tạo nên sức mạnh tổng hợp, nội sinh của mỗi dân tộc Trong quá trình tồn tại và phát triển, mỗi cộng đồng dân tộc đều tạo dựng nên cho mình những giá trị tinh thần nhất định Những giá trị đó là sự phản ánh về mặt tinh thần quá trình tồn tại và phát triển của mỗi cộng đồng dân tộc Đến lượt mình, những giá trị đó lại trở thành định hướng giá trị, thành động lực của quá trình dựng nước và giữ nước của các dân tộc, các quốc gia

Trong các giá trị văn hoá thì văn hoá vật thể chiếm một vị trí không nhỏ trong vai trò tạo thành nguồn lực để phát triển đất nước Nó không chỉ là tồn tại hiện hữu để tạo thành các giá trị đánh dấu cho sự phát triển của xã hội trong từng thời kỳ mà nó còn là một nguồn lực rất lớn để khai thác phục vụ quá trình phát triển đất nước Chú trọng hoạt động du lịch hiện nay chính là cách mà chúng ta khai thác được tiềm năng văn hoá còn tiềm tàng trong nội lực của dân tộc Việt Nam

- Vị thế địa chính trị

Địa chính trị (geopolitics) là lĩnh vực nghiên cứu về tác động của các yếu

tố địa lý tới hành vi của các quốc gia và quan hệ quốc tế Cụ thể, địa chính trị xem xét việc các yếu tố như vị trí địa lý, khí hậu, tài nguyên thiên nhiên, dân số

Trang 40

hay địa hình tác động như thế nào tới chính sách đối ngoại của một quốc gia và

vị thế của quốc gia đó trong hệ thống quốc tế

Vị thế địa chính trị của quốc gia được hình thành trong quá trình phát triển văn hóa, xã hội, được xác định bằng các nhân tố cơ bản như sự tồn tại của dân tộc, sự phân bổ dân số theo địa lý, tập hợp các sức mạnh của quốc gia Vị thế địa chính trị của quốc gia được xác định bằng tiềm lực của quốc gia như chính trị, kinh tế, quân sự, dân số, trí tuệ và những khả năng đưa vào hiện thực trong môi trường các mối quan hệ quốc tế nhất định

Bất cứ một quốc gia nào, tồn tại trong một hệ thống địa chính trị, xác định một địa vị nhất định, có nghĩa là một vị thế, bao hàm sự hiện diện của địa vị chính trị và pháp lý quốc gia đó trong các mối quan hệ quốc tế Nói cách khác,

vị thế địa chính trị - là địa vị chính trị - pháp lý của quốc gia hoặc một đối tượng chính trị trong khuôn khổ hệ thống địa chính trị quốc tế

2.1.2 Khái niệm ngoại lực

2.1.2.1 Khái niệm

Với ngoại lực, Chủ tịch Hồ Chí Minh gọi đó là “sức mạnh thời đại”, được thể hiện qua sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần, mà nội hàm của nó là sức mạnh của nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc thể hiện khả năng đánh đổ chủ nghĩa đế quốc; sức mạnh của giai cấp vô sản thế giới và đảng tiền phong của nó; và sức mạnh của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật Người tin tưởng với những nguồn sức mạnh đó sẽ hỗ trợ to lớn cho cách mạng Việt Nam: “Không có một sức mạnh thống nhất của cả nước, không có sự giúp đỡ mạnh mẽ của bên

ngoài, công cuộc vận động giải phóng khó mà thành công được” [72, tr 452]

Đóng góp thêm vào nội lực tiềm tàng đó, trong cuộc đấu tranh chính nghĩa của mình, Việt Nam còn tranh thủ được sức mạnh của thời đại, sự ủng hộ của dư

luận quốc tế, của nhân dân các nước kể cả nhân dân nước đi xâm lược [62]

Nghiên cứu cụ thể về Việt Nam, PGS TS Nguyễn Văn Phúc đã nêu:

“Trong điều kiện hiện nay, sức mạnh thời đại là đa dạng, bao hàm các nguồn lực vật chất như vốn, máy móc, thiết bị, vật tư, công nghệ cùng các kiến thức, kinh nghiệm quản lý, những giá trị văn hoá tinh thần, của các dân tộc khác, của thời

đại nói chung Những nguồn lực thuộc về vốn, công nghệ, là những cái mà

chúng ta còn thiếu hoặc hạn chế Bởi thế, tiếp nhận những nguồn ngoại lực này

là điều cần thiết và dễ hiểu” [83]

Như vậy, về khái niệm nội lực và ngoại lực, còn có cách hiểu khác nhau, chủ yếu đồng nhất nội lực với sức mạnh dân tộc, ngoại lực với sức mạnh thời

Ngày đăng: 21/06/2021, 02:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bình An (2016), Tại sao công nhân Việt Nam ở các doanh nghiệp nước ngoài lại hay nghỉ việc, đình công?, Trí Thức Trẻ/CafeBiz, caphe.vn, ngày 15-4-2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tại sao công nhân Việt Nam ở các doanh nghiệp nước ngoài lại hay nghỉ việc, đình công?", Trí Thức Trẻ/CafeBiz, "caphe.vn
Tác giả: Bình An
Năm: 2016
2. Vi An (2018), Dân số Việt Nam gần 94 triệu người, xếp thứ 13 thế giới, Báo Đời sống và Pháp luật online, ngày 31-1-2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân số Việt Nam gần 94 triệu người, xếp thứ 13 thế giới", Báo "Đời sống và Pháp luật
Tác giả: Vi An
Năm: 2018
3. Hoài Anh (2014), Thu ngân sách từ bất động sản còn thấp, Baohaiquan.vn, ngày 30-11-2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thu ngân sách từ bất động sản còn thấp, Baohaiquan.vn
Tác giả: Hoài Anh
Năm: 2014
4. Hùng Anh (2016), Kiều hối chảy mạnh về Việt Nam, báo điện tử An ninh Thủ đô, Anninhthudo.vn, ngày 1-2-2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiều hối chảy mạnh về Việt Nam", báo điện tử "An ninh Thủ đô, Anninhthudo.vn
Tác giả: Hùng Anh
Năm: 2016
5. Lê Xuân Bá (2006), Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, Nxb. Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
Tác giả: Lê Xuân Bá
Nhà XB: Nxb. Khoa học và kỹ thuật
Năm: 2006
6. Ban Kinh tế Trung ương (2006), Quan điểm, giải pháp thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, Báo cáo tổng hợp đề tài khoa học cấp Bộ (2005)- 27, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan điểm, giải pháp thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Ban Kinh tế Trung ương (2006), Quan điểm, giải pháp thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, Báo cáo tổng hợp đề tài khoa học cấp Bộ
Năm: 2005
7. Ban Tuyên giáo Trung ương (2016), Những điểm mới trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điểm mới trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2016
8. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, Vụ Tuyên truyền và Hợp tác quốc tế (2004), Những vấn đề lớn của thế giới và quá trình hội nhập, phát triển của nước ta, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lớn của thế giới và quá trình hội nhập, phát triển của nước ta
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, Vụ Tuyên truyền và Hợp tác quốc tế
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2004
9. Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Tổng cục Thống kê, Bản tin Thị trường lao động quý I - 2014, molisa.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường lao động" quý I - 2014
10. Bộ Ngoại giao, Ban Nghiên cứu lịch sử ngoại giao (2009), Vận dụng tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh thời kỳ hội nhập quốc tế, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh thời kỳ hội nhập quốc tế
Tác giả: Bộ Ngoại giao, Ban Nghiên cứu lịch sử ngoại giao
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2009
11. TS. Phạm Đức Chính (2016), Chính sách thu hút, sử dụng nguồn nhân lực chất lượng từ nước ngoài trở về, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách thu hút, sử dụng nguồn nhân lực chất lượng từ nước ngoài trở về
Tác giả: TS. Phạm Đức Chính
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2016
12. Nguyễn Trọng Chuẩn (1992), Tăng trưởng kinh tế và những bảo đảm cần có nhằm duy trì môi trường cho sự phát triển lâu bền, tạp chí Triết học (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng trưởng kinh tế và những bảo đảm cần có nhằm duy trì môi trường cho sự phát triển lâu bền", tạp chí" Triết học
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Năm: 1992
13. Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Huyên (2002): Giá trị truyền thống trước những thách thức của toàn cầu hoá, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị truyền thống trước những thách thức của toàn cầu hoá
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Huyên
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2002
14. PGS. TS. Trần Văn Chử (2004), Tài nguyên thiên nhiên môi trường với tăng trưởng và phát triển bền vững ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài nguyên thiên nhiên môi trường với tăng trưởng và phát triển bền vững ở Việt Nam
Tác giả: PGS. TS. Trần Văn Chử
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2004
15. GS. Vũ Hy Chương (2002), Vấn đề tạo nguồn lực tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa của, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề tạo nguồn lực tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: GS. Vũ Hy Chương
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2002
16. C. Mác và Ph. Ăngghen (2004), Tuyển tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập
Tác giả: C. Mác và Ph. Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2004
17. C. Mác và Ph. Ăngghen (2005), Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C. Mác và Ph. Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2005
18. C. Mác và Ph. Ăngghen (2005), Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C. Mác và Ph. Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2005
19. C. Mác và Ph. Ăngghen (2005), Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C. Mác và Ph. Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2005
20. C. Mác và Ph. Ăngghen (2005), Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C. Mác và Ph. Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w