1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Chất lượng lao động đội ngũ trí thức giáo dục đại học ViệT NAM. LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

182 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 182
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng lao động của đội ngũ trí thức giáo dục đại học Việt Nam hiện nay 125 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ 149 PHỤ LỤC... Bảng 3.1: Đán

Trang 1

TRẦN THỊ LAN

chất lượng lao động của đội ngũ trí thức

giáo dục đại học ViệT NAM hiện nay

Chuyờn ngành : Chủ nghĩa xó hội khoa học

Mó số : 62 22 85 01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS hoàng chí bảo

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, tư liệu được sử dụng trong luận án là trung thực, có nguồn gốc và xuất xứ rõ ràng.

Tác giả luận án

Trần Thị Lan

Trang 3

đến luận án và những vấn đề luận án tiếp tục làm sáng tỏ 20

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG LAO ĐỘNG CỦA TRÍ

2.1 Quan niệm về trí thức, trí thức giáo dục đại học và lao động của

2.2 Tính đặc thù của lao động trí thức giáo dục đại học Việt Nam

2.3 Quan niệm về chất lượng lao động và chất lượng lao động của đội

2.4 Tính tất yếu nâng cao chất lượng lao động của đội ngũ trí thức

giáo dục đại học Việt Nam trong bối cảnh hiện nay 59

Chương 3: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG LAO ĐỘNG CỦA ĐỘI NGŨ

TRÍ THỨC GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM HIỆN NAY

3.1 Thực trạng chất lượng lao động của đội ngũ trí thức giáo dục đại học

3.2 Một số vấn đề đặt ra đối với chất lượng lao động của đội ngũ trí

Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG

LAO ĐỘNG CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

4.1 Quan điểm cơ bản về nâng cao chất lượng lao động của đội ngũ

trí thức giáo dục đại học Việt Nam hiện nay 1144.2 Những giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng lao động của đội

ngũ trí thức giáo dục đại học Việt Nam hiện nay 125

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ 149

PHỤ LỤC

Trang 5

Bảng 3.1: Đánh giá của sinh viên về chất lượng một số hoạt động

Bảng 3.2: Mức độ hài lòng của trí thức GDĐH đối với kết quả lao

Bảng 3.3: Mức độ hài lòng của sinh viên về một số lĩnh vực hoạt

Bảng 3.4: Các kỹ năng và phẩm chất cá nhân, phẩm chất chính trị,

đạo đức và năng lực sinh viên đạt được trong thời gian học

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ TRONG LUẬN ÁN

Trang

Biểu đồ 3.1: Cơ cấu trình độ của đội ngũ trí thức giáo dục đại học

Biểu đồ 3.2: Cơ cấu chức danh phân theo ngành của trí thức giáo dục

đại học Việt Nam ở một số trường đại học tiêu biểu năm

Biểu đồ 3.3: Cơ cấu chức danh GS, PGS theo vùng, miền của trí thức

giáo dục đại học Việt Nam ở một số trường đại học tiêu

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bước vào thế kỷ XXI, sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế tri thức vàcuộc cách mạng khoa học - công nghệ đã không những xác định vị trí của conngười ở hàng đầu trong lực lượng sản xuất mà còn định hình ngày càng rõhơn vai trò đặc biệt quan trọng của nguồn lực trí tuệ đối với việc phát triểnnội lực của mỗi quốc gia, dân tộc

Việt Nam đang ở thời kỳ bước ngoặt của phát triển với việc đẩy mạnhcông nghiệp hoá, hiện đại hoá Bối cảnh của thế giới và thời đại đang mở ranhững triển vọng, điều kiện thuận lợi cho Việt Nam đồng thời cũng đặt nước

ta trước nhiều nguy cơ, thách thức nghiệt ngã trên tiến trình hội nhập, trong

đó, sự lạc hậu, tụt hậu về trí tuệ là điều đáng sợ nhất.

Với tư cách là cái nôi đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, GDĐHViệt Nam có trọng trách to lớn trong quá trình tạo lập, phát triển tiềm lực trítuệ cho dân tộc Điều này lý giải tại sao giờ đây, khắc phục điểm nghẽn vềnguồn nhân lực trình độ cao thông qua việc cải biến chất lượng lao động củađội ngũ trí thức GDĐH được đặt ra như một giải pháp chiến lược cho sự pháttriển, chấn hưng dân tộc mà Việt Nam phải hết sức quan tâm Đó là kết quảtrực tiếp của sự gia tăng nguồn lực trí tuệ được Việt Nam cũng như các quốcgia đặc biệt chú trọng trước tính cạnh tranh trong nền kinh tế dựa trên sứcmạnh của tri thức, khoa học và công nghệ

Vấn đề hệ trọng này còn được cắt nghĩa từ chính những yếu kém kéodài, chậm được khắc phục trong chất lượng đào tạo nguồn nhân lực củaGDĐH ở nước ta Càng đi sâu vào hội nhập, chất lượng đào tạo nguồn nhânlực ở Việt Nam càng bị chi phối bởi qui luật cạnh tranh và những tác độngtiêu cực từ mặt trái của cơ chế thị trường Đáng lo ngại là tình trạng bất cập vềtrình độ, năng lực và những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, thực dụng, laođộng hình thức, thiếu tận tâm, tận lực của không ít trí thức nhà giáo trước trọngtrách vinh quang của sự nghiệp “trồng người” Đặc biệt là những thách thức

Trang 7

được đặt ra từ chất lượng nguồn nhân lực được đào tạo đại học chưa đáp ứng tốtyêu cầu thị trường lao động trong nước và quốc tế Điều đó xa lạ với bản chất

lao động khoa học sư phạm sáng tạo và phẩm chất cao qúi của nhà giáo, nếu

không kịp thời khắc phục chắc chắn sẽ để lại “di chứng” cho nguồn lực conngười không chỉ hiện hữu ở thực tại mà còn trong tương lai

Để vượt qua lực cản và thách thức này cần đến những giải pháp đồng

bộ, nhất là những giải pháp mang tính đột phá nhằm cải biến hiện trạng đã nêu.Chính yêu cầu tìm kiếm chìa khoá cho sự phát triển nguồn nhân lực đã đưa vấn

đề chất lượng lao động của đội ngũ trí thức GDĐH trở thành mối quan tâmthường trực, hàng đầu của các chủ thể lãnh đạo, quản lý cũng như toàn xã hộitrong quá trình thực hiện cuộc cách mạng về giáo dục Mặt khác, đó cũng là điều

kiện đảm bảo cho sự tồn tại, phát triển bền vững của cơ sở đào tạo đại học Việt

Nam trong bối cảnh cạnh tranh, hội nhập quốc tế, trước những kỳ vọng của xãhội vào sự cách tân từ các chủ thể giáo dục, từ chương trình, phương pháp giáodục đại học mà mục đích cao nhất là cải biến chất lượng nguồn nhân lực đượcđào tạo Đây là đòi hỏi bức xúc của xã hội, là công việc khó khăn, phức tạp, tốnkém nhiều công sức, thời gian, tâm lực, trí lực và tiền bạc

Trên một bình diện cao hơn, thuộc về trách nhiệm, lương tâm xã hội,quan tâm đến chất lượng lao động của trí thức GDĐH là chăm lo cho sựnghiệp đào tạo nguồn lực trí tuệ của dân tộc Để đảm bảo độ tin cậy cho chiếnlược phát triển, bền vững của quốc gia cần thiết phải tìm ra khâu đột phá từtiềm lực của con người trên cái giá đỡ vật chất của sự phát triển kinh tế Cơ sở

để tạo nên nguồn lực trí tuệ không thể nằm ngoài GDĐH mà mấu chốt là ở

chất lượng lao động của đội ngũ trí thức nhà giáo.

Chỉ với cái nhìn biện chứng như vậy mới thấy hết tầm quan trọng vàtính bức thiết vì sao phải đổi mới GDĐH, bắt đầu từ những cải biến trong chấtlượng lao động của đội ngũ cán bộ quản lý cũng như các thế hệ giảng viên đạihọc Luận giải, khảo sát vấn đề này để tìm giải pháp phát triển không chỉ có ýnghĩa lý luận mà còn góp phần thực hiện chủ trương kiểm định chất lượng các

Trang 8

trường đại học theo hệ tiêu chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào tạo nhằm “đổi mớicăn bản, toàn diện nền giáo dục” theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 8khóa XI của Đảng.

Xuất phát từ những lý do nêu trên, tác giả chọn vấn đề “Ch ất lượng lao động của đội ngũ trí thức giáo dục đại học Việt Nam hiện nay” làm đề tài

luận án tiến sĩ của mình

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 M ục đích nghiên cứu của luận án

Xác định một quan niệm có tính hệ thống về chất lượng lao động của

trí thức GDĐH để xây dựng luận cứ khoa học đánh giá thực trạng vấn đề này

ở Việt Nam, qua đó đề ra những giải pháp chủ yếu góp phần nâng cao chấtlượng hoạt động nghề nghiệp của đội ngũ trí thức GDĐH Việt Nam trongnhững thập kỷ đầu thế kỷ XXI

2.2 Nhi ệm vụ nghiên cứu của luận án

Để đạt được mục đích nêu trên, ngoài việc tổng quan tình hình nghiên cứu

có liên quan đến vấn đề trí thức, trí thức GDĐH, luận án tập trung giải quyếtnhững nhiệm vụ cơ bản sau:

- Làm rõ cơ sở lý luận về chất lượng lao động của trí thức GDĐH ViệtNam từ quan niệm chung đến việc chỉ ra những đặc điểm lao động, tiêu chíđánh giá và tính tất yếu nâng cao chất lượng lao động của đội ngũ trí thứcGDĐH ở nước ta hiện nay

- Đánh giá thực trạng chất lượng lao động của đội ngũ trí thức GDĐHViệt Nam và những vấn đề đặt ra

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng lao độngcủa đội ngũ trí thức GDĐH Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, pháttriển kinh tế tri thức và đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận án nghiên cứu về chất lượng lao động của đội ngũ trí thứcGDĐH ở Việt Nam trong điều kiện của đổi mới, của đẩy mạnh CNH, HĐH

Trang 9

đất nước, với tác động của xu thế hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽcủa kinh tế tri thức.

3.2 Ph ạm vi nghiên cứu

- Chất lượng lao động của đội ngũ trí thức GDĐH có nội dung rất rộng.Tuy nhiên, luận án chỉ giới hạn nghiên cứu trên ba phương diện chủ yếu:

giảng dạy; NCKH; quản lý giáo dục của đội ngũ trí thức GDĐH ở các trường

Đại học công lập của Việt Nam

- Về thời gian, luận án khảo sát thực trạng chất lượng lao động của độingũ trí thức GDĐH Việt Nam giai đoạn 2000 - 2013 và xây dựng giải phápnâng cao chất lượng lao động của đội ngũ đó cho những năm tới

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

4.1 Cơ sở lý luận

Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luậtcủa Nhà nước về trí thức, trí thức giáo dục, trí thức GDĐH; về vấn đề lao động

và động lực lao động nói chung

Luận án còn kế thừa hợp lý những kết quả nghiên cứu có liên quan đếnluận án của các tác giả trong và ngoài nước

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận án được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duyvật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử đồng thời chú trọng sử dụngphương pháp logic - lịch sử cùng các phương pháp có tính liên ngành như phântích, tổng hợp, điều tra xã hội học, so sánh, khái quát hoá

5 Đóng góp mới về mặt khoa học của luận án

- Luận án nghiên cứu một cách hệ thống vấn đề chất lượng lao động củatrí thức GDĐH dưới góc độ triết học - chính trị - xã hội - giáo dục

- Luận án xây dựng tiêu chí đánh giá đối với chất lượng lao động củatrí thức GDĐH trong hoạt động nghề nghiệp

- Luận án đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượnglao động của đội ngũ trí thức GDĐH Việt Nam trong điều kiện của đổi mới,

Trang 10

của đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, trước tác động của xu thế hội nhập, toàn cầuhóa và phát triển kinh tế tri thức.

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

- Luận án góp phần phát triển hướng nghiên cứu mới về lý luận vàthực tiễn đối với vấn đề chất lượng lao động của đội ngũ trí thức GDĐH ViệtNam từ sự kết hợp cách tiếp cận triết học - chính trị - xã hội và giáo dục

- Luận án góp phần củng cố vững chắc luận cứ khoa học làm cơ sở choviệc hoạch định đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác tríthức GDĐH trong điều kiện mới

- Luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạynhững chuyên đề liên quan đến trí thức, trí thức GDĐH

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục,luận án gồm 4 chương, 11 tiết

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

Trước xu thế hội nhập, toàn cầu hoá và những tác động sâu sắc củakinh tế tri thức, vai trò của GDĐH trong xã hội ngày càng được nâng cao, mốiquan tâm đến chất lượng lao động của đội ngũ trí thức GDĐH vì thế cũng trởnên có sức hút mạnh mẽ đối với nhiều chủ thể Liên quan đến vấn đề chấtlượng lao động của trí thức GDĐH ở những khía cạnh và góc độ tiếp cận khácnhau, có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước

1.1 NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở TRONG NƯỚC CÓ LIÊN QUAN

ĐẾN LUẬN ÁN

1.1.1 Những công trình nghiên cứu tiêu biểu bàn luận trực tiếp đến trí thức

M ột là, những công trình nghiên cứu tiêu biểu đã được in thành sách:

- GS, TS Phạm Tất Dong (chủ biên): “Định hướng phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [42] Công trình đã có

những luận giải xác đáng về vai trò của trí thức trong phát triển lực lượng sảnxuất, trong sáng tạo văn hóa, phát huy bản sắc dân tộc, trong lãnh đạo, quản lý

và điều hành sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Với thái độ tôn trọng trí thức,

GS, TS Phạm Tất Dong khẳng định, trong nền kinh tế thị trường, “sản phẩmlao động của trí thức là một loại hàng hóa đặc biệt, nó có thể mất đi hoặc bịchiếm đoạt mà không ai biết, song nó cũng có thể được lưu thông và trả giáxứng đáng như bao thứ hàng quý hiếm khác” [42, tr.330] Đây chính là khởinguồn cho sự đổi mới tư duy khi xem tiền lương và các loại phụ cấp của tríthức như những chính sách đầu tư có lợi nhất để mua lại “chất xám” - mộtloại sản phẩm đặc biệt trong nền kinh tế thị trường

- TS Nguyễn Đắc Hưng: “Trí thức Việt Nam trước yêu cầu phát triển đất nước” [72] và “Trí thức Việt Nam tiến cùng thời đại” [73] Hai cuốn

sách làm rõ quan niệm về trí thức; vị trí, vai trò của trí thức; những phươnghướng chủ yếu để xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức ở nước ta đáp ứng

Trang 12

yêu cầu của thời đại Trên cơ sở khẳng định nội hàm rất rộng của khái niệmtrí thức, tác giả đã chỉ rõ: trí thức là những người không chỉ có trình độ họcvấn cao mà điều quan trọng nhất là họ thực sự lao động bằng trí tuệ có tínhsáng tạo, có những cống hiến nhất định hữu ích cho xã hội và phải được xãhội kiểm định chất lượng thông qua hoạt động thực tiễn [72, tr.16-17] Đây

là sự đổi mới tư duy về trí thức, từ chỗ coi trọng trình độ chuyên môn được

đào tạo đến chỗ thừa nhận và đòi hỏi năng lực lao động thực tế thông qua sự kiểm định khách quan của xã hội.

- PGS, TS Nguyễn An Ninh: “Phát huy tiềm năng của trí thức khoa học

xã hội và nhân văn trong công cuộc đổi mới đất nước” [109] Từ những kiến

giải về tiềm năng của trí thức khoa học xã hội và nhân văn trong giai đoạn hiệnnay, tác giả đã đề xuất những giải pháp thiết thực nhằm phát huy tiềm năng củađội ngũ này góp phần đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước

- GS, TS Nguyễn Văn Khánh - chủ biên của hai công trình: “Xây dựng

và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam phục vụ sự nghiệp chấn hưng đất nước” [74]; “Nguồn lực trí tuệ Việt Nam - Lịch sử, hiện trạng và triển vọng” [75].

Giá trị của hai công trình nghiên cứu thể hiện tập trung ở những luận chứngkhoa học về vấn đề trí thức, nguồn lực trí tuệ với cách tiếp cận liên ngành Độingũ trí thức được tác giả quan niệm là tầng lớp tinh hoa của nguồn lực trí tuệViệt Nam Trên cơ sở khảo sát, đánh giá chất lượng của nguồn nhân lực này,tác giả đã đưa ra hệ thống giải pháp có ý nghĩa thiết thực đối với việc xây dựng

và phát huy vai trò của nguồn lực trí tuệ đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của sựnghiệp chấn hưng đất nước

- PGS, TS Nguyễn Khánh Bật, Th.s Trần Thị Huyền (đồng chủ biên),

“Xây dựng đội ngũ trí thức thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH theo tư tưởng Hồ Chí Minh” [18] Đây là công trình nghiên cứu mang tính chuyên sâu về trí thức

dưới góc độ tư tưởng Hồ Chí Minh Tác giả đã khái quát những nội dung cơbản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về trí thức, làm rõ sự vận dụng sáng tạo củaĐảng và Nhà nước ta trong công tác xây dựng trí thức đồng thời đánh giá

Trang 13

những đóng góp, hạn chế của đội ngũ này trong cách mạng Việt Nam, trên có

sở đó, đi sâu phân tích những giải pháp xây dựng đội ngũ trí thức ở nước tathời kỳ 2011- 2020 đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước

Hai là, các đề tài khoa học nghiên cứu về trí thức:

- GS, TS Phạm Tất Dong với Đề tài khoa học cấp nhà nước, mã số KX

04 - 06: "Luận cứ khoa học cho các chính sách nhằm phát huy năng lực sáng tạo của giới trí thức và sinh viên” [40] đã chú trọng phân tích làm rõ cơ sở lý

luận, thực tiễn và pháp lý của việc hoạch định chính sách, giải pháp hướng

vào việc khơi dậy, khai thác, sử dụng năng lực sáng tạo của giới trí thức và

sinh viên trong hoạt động giáo dục và đào tạo

- PGS, TS Đàm Đức Vượng, PGS, TS Nguyễn Viết Thông: “Xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam giai đoạn 2011- 2020” [161] Đây là công trình

nghiên cứu công phu và có hệ thống về trí thức Trên cơ sở đánh giá tổng thể

về thực trạng đội ngũ trí thức Việt Nam, đề tài đi sâu phân tích, kiến nghịnhững giải pháp nhằm xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ trong thời kỳđổi mới toàn diện đất nước Đề tài đã làm rõ thêm nội hàm của khái niệm tríthức trên bình diện rộng Không những chỉ ra tính chất lao động trí óc cùngvới những yêu cầu về sự hiểu biết, trình độ, khát vọng dân chủ, công bằng, tự

do và kết quả sáng tạo trong việc truyền bá, phổ biến, ứng dụng vào đời sống

xã hội của trí thức, các tác giả đề tài còn xác định rõ thiên chức, phẩm chất,tính cách của người trí thức Việt Nam

Ba là, các lu ận án nghiên cứu về trí thức đã bảo vệ thành công trong

- PGS, TS Đỗ Thị Thạch: “Trí thức nữ Việt Nam trong công cuộc đổi mới hiện nay - tiềm năng và phương hướng xây dựng” [133] Đây là công

Trang 14

trình nghiên cứu chuyên sâu về lực lượng trí thức nữ Tác giả đã có nhữngđóng góp mới cả về lý luận và thực tiễn khi kiến giải tiềm năng cũng như vaitrò to lớn của lực lượng trí thức nữ Việt Nam đối với sự phát triển của đờisống xã hội Xuất phát từ thái độ tôn trọng, tin cậy vào khả năng đóng gópcủa lực lượng này, tác giả đã đề xuất những phương hướng cơ bản nhằm pháthuy tiềm năng, vai trò của lực lượng trí thức nữ trong sự nghiệp cách mạngnước ta, đặc biệt là trong quá trình đổi mới toàn diện của đất nước.

- TS Nguyễn Công Trí: “Trí thức Việt Nam trong phát triển kinh tế tri thức” [146] Từ cách tiếp cận tổng hợp, luận án chỉ ra những đặc trưng, tiêu

chí cơ bản để xác định trí thức, vai trò của đội ngũ này trong điều kiện pháttriển kinh tế tri thức Luận án xác định, trí thức là người lao động trí óc vàthường có trình độ học vấn cao, được đào tạo hoặc tự đào tạo Tuy nhiên, “giá trịquan trọng nhất của người trí thức chân chính đó là chân lý và lẽ phải; trí thức làngười tự tin và ngay thẳng, có lòng tự trọng, khả năng hành xử đúng mực vàthích ứng cao với các biến đổi của môi trường tự nhiên, xã hội” [146, tr.30]

B ốn là, những công trình nghiên cứu tiêu biểu về trí thức được công

b ố trên các tạp chí trong những năm gần đây:

Bước vào giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, yêu cầu đổi mới tưduy về vấn đề trí thức đã được đặt ra trong mối quan tâm của không ít nhàkhoa học Tiếp tục làm rõ bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác -Lênin và sự nhận thức đúng đắn của Đảng ta trong quan điểm về trí thức làhướng nghiên cứu lý luận quan trọng Một số bài báo đăng trên các tạp chí

trong thời gian qua đã đề cập tới vấn đề này, tiêu biểu như: “Đội ngũ trí thức trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”của PGS, TS Phan Thanh Khôi [78]; “Những bài học từ quan điểm của Lênin về trí thức” của PGS, TS Phan Thanh Khôi [79]; “Suy ngẫm và nhận thức về vấn đề trí thức”,

Tạp chí Lý luận chính trị, 2008, số 9 của PGS, TS Nguyễn Đức Bách [17].Ngoài ra cần phải nhấn mạnh rằng, trong những năm gần đây, trên đà pháttriển cả về số lượng, chất lượng của trí thức Việt Nam, những khía cạnh mới

về chức năng, nhiệm vụ, chính sách tuyển dụng, đãi ngộ, giải pháp phát huy

Trang 15

vai trò của đội ngũ trí thức nhằm đáp ứng đòi hỏi, yêu cầu của quá trình CNH,HĐH, hội nhập, phát triển kinh tế tri thức cũng đã được đặt ra và nghiên cứumột cách nghiêm túc Có thể kể đến một số bài viết có giá trị khoa học như:

“Mấy vấn đề cần đổi mới tạo động lực và điều kiện để trí thức nước ta phát huy tài năng trí tuệ” của Nguyễn Đức Bách [16]; “Tổng quan về đội ngũ trí thức nước ta hiện nay” [81] và “Nhà khoa học và sự sáng tạo trong khoa học

xã hội” [82] của PGS, TS Phan Thanh Khôi

Những công trình nghiên cứu nêu trên đã cung cấp cơ sở lý luận, thựctiễn quan trọng để tác giả luận chứng về trí thức, về vai trò của đội ngũ tríthức trong điều kiện đổi mới, hội nhập, phát triển kinh tế tri thức và CNH,HĐH đất nước

1.1.2 Những công trình nghiên cứu về trí thức giáo dục đại học, đặc điểm và chất lượng lao động của trí thức giáo dục đại học

M ột là, những công trình nghiên cứu khái quát về trí thức GDĐH:

Thông qua việc làm sáng tỏ khái niệm, vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm

vụ nhà giáo; khảo sát thực trạng cơ cấu, chất lượng của trí thức GDĐH, nhiềucông trình nghiên cứu đã đề xuất giải pháp để xây dựng, phát triển đội ngũnày ở bậc đại học Có thể kể đến những công trình tiêu biểu sau:

TS Phạm Văn Thanh: “Xây dựng đội ngũ trí thức khoa học Mác Lênin trong các trường đại học ở nước ta hiện nay” [131] Tác giả chỉ rõ, đội

-ngũ giảng viên giảng dạy lý luận Mác - Lênin ở Việt Nam vừa là nhà giáodục, vừa là nhà khoa học, vừa là nhà chính trị Vai trò của đội ngũ đó đượctác giả đề cập và phân tích ở nhiều bình diện từ chức năng đào tạo cán bộ,phát triển lực lượng trí thức mới cho đất nước đến việc đảm trách nhiệm vụNCKH và tham gia các công tác khác ở hệ thống những trường đại học, caođẳng thuộc hệ thống giáo dục quốc dân Trên cơ sở đánh giá thực trạng và xuhướng biến đổi của đội ngũ trí thức khoa học Mác - Lênin ở nước ta, tác giả

đã đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng đội ngũ này thành lựclượng lớn mạnh, đóng góp ngày càng nhiều trí tuệ cho sự nghiệp xây dựngchủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay

Trang 16

- TS Đỗ Minh Cương - Nguyễn Thị Doan“Phát triển nguồn nhân lực giáo dục đại học Việt Nam” [38] Với quan điểm xem nhà giáo đại học là

nhân tố quan trọng và có ý nghĩa quyết định nhất đến chất lượng đào tạonguồn nhân lực ở nước ta, tác giả đã đi sâu phân tích vai trò của trí thứcGDĐH, qua đó luận chứng một số giải pháp xây dựng, phát triển nguồn nhânlực GDĐH trước yêu cầu hội nhập quốc tế

- PGS, TS Nguyễn Văn Sơn: “Trí thức Giáo dục Đại học Việt Nam thời

kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá” [126] Theo tác giả, đội ngũ trí

thức GDĐH Việt Nam có một số đặc điểm cơ bản: là lực lượng trực tiếp thamgia vào quá trình đào tạo ở bậc cao nhất trong hệ thống giáo dục quốc dân; đốitượng tác động chủ yếu của người trí thức GDĐH là những sinh viên, họcviên cao học và nghiên cứu sinh; mục đích lao động nhằm đào tạo ra nhữngngười lao động sáng tạo, có phẩm chất đạo đức tốt; trí thức GDĐH vừa là nhàgiáo vừa là nhà khoa học, nhà chính trị Từ việc đánh giá thực trạng về cơcấu, chất lượng của trí thức GDĐH, tác giả đưa ra phương hướng, giải pháp

cơ bản để phát triển đội ngũ trí thức GDĐH đáp ứng yêu cầu về nguồn nhânlực phục vụ cho quá trình CNH, HĐH đất nước

- Bộ Giáo dục và Đào tạo: “Đổi mới quản lý hệ thống GDĐH giai đoạn

2010 - 2012” [26] Công trình nghiên cứu đã giới thiệu Nghị quyết của Ban

cán sự Đảng Bộ Giáo dục và Đào tạo về đổi mới quản lý GDĐH giai đoạn

2010 - 2012 Nghị quyết đã nghiêm túc chỉ ra hạn chế trong chất lượngGDĐH và khẳng định sự cần thiết phải đẩy mạnh việc đánh giá và kiểm địnhchất lượng GDĐH; hình thành ở các cơ sở GDĐH tổ chức chuyên trách vềhướng dẫn, bảo vệ và khai thác sở hữu trí tuệ của giảng viên; tôn vinh và tạođiều kiện ngày càng tốt hơn để nhà giáo ở bậc đại học phát huy tính tích cựctrong NCKH Có thể khẳng định, đây là cơ sở pháp lý quan trọng có ý nghĩađịnh hướng cho tác giả luận án trong việc xây dựng giải pháp nhằm nâng caochất lượng lao động của trí thức GDĐH Việt Nam hiện nay

Xuất phát từ quan điểm coi trí thức GDĐH là nhân tố quyết định nhấtđến chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, nhiều nhà nghiên cứu đã tập trung

Trang 17

luận giải vị trí, vai trò của trí thức GDĐH đồng thời tìm ra hệ thống giải pháp cơbản tạo động lực lao động cho đội ngũ nhà giáo ở bậc đại học Liên quan đếnvấn đề đó, những năm gần đây, có một số công trình khoa học, đáng chú ý là:

- PGS, TS Bùi Khắc Việt (chủ nhiệm): “Trí thức trẻ và sinh viên”

[160] Tác giả đã trực tiếp khẳng định vai trò của đội ngũ trí thức trẻ và sinhviên ở các trường đại học, cao đẳng Trên cơ sở đánh giá thành tựu, hạn chế,bất cập, nhất là về chất lượng của lực lượng đó trước yêu cầu, đòi hỏi của thựctiễn phát triển kinh tế - xã hội, tác giả đi đến khẳng định việc phát triển đội ngũtrí thức trẻ và sinh viên ở các trường đại học, cao đẳng là việc làm cần thiết

- Ngoài những công trình nêu trên, có thể kể đến một số bài nghiên cứucủa các học giả đăng trên tạp chí, kỷ yếu hội thảo, tiêu biểu như: Nguyễn Văn

Duệ: “Đội ngũ cán bộ giảng dạy đại học - thực trạng và kiến nghị” [43]; Nguyễn Duy Yên: “Đổi mới giáo dục trước hết phải đổi mới từ những người làm giáo dục” [176]; Đinh Thị Minh Tuyết: “Xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên đại học” [153] Nhìn chung, các tác giả nêu trên đều có chung

quan điểm khi xem nhà giáo ở bậc đại học là lực lượng nòng cốt xây dựngcho sinh viên thế giới quan, nhân sinh quan tiến bộ, trang bị tri thức vàphương pháp tư duy khoa học, khả năng làm việc độc lập, sáng tạo cho ngườihọc Các tác giả nhận định, để nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo cần tậptrung đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo theo hướng chuẩnhoá và hiện đại hoá; việc bố trí, sử dụng nhà giáo phải hợp lý, coi trọng nănglực sáng tạo thực sự về chuyên môn nghiệp vụ đồng thời phải tạo lập hệ thốngđộng lực cho đội ngũ nhà giáo

Hai là, nh ững công trình nghiên cứu bước đầu bàn luận trực tiếp về đặc điểm lao động của trí thức GDĐH:

- Tác giả Đỗ Văn Phức với bài viết “Đặc điểm lao động của giáo viên đại học và dạy nghề” [117] chủ yếu nhấn mạnh đến các đặc điểm về tính chất

lao động và những đặc thù nghề nghiệp của trí thức GDĐH Tác giả nhận

định, lao động của đội ngũ giảng viên là loại lao động sáng tạo, lao động trí

óc, có cả một số yếu tố độc hại và những căng thẳng đặc thù.

Trang 18

- Xác định tính chất lao động của trí thức GDĐH, PGS, TS Nguyễn Thị

Mỹ Lộc và TS Đặng Xuân Hải với chuyên đề “Người dạy ở bậc đại học và giao tiếp sư phạm”, “Phương pháp dạy học ở bậc đại học” trong tài liệu bồi

dưỡng “Giáo dục học đại học” đã đưa ra quan niệm: “Ở đại học, sự sáng tạo

sư phạm đi liền với sự sáng tạo khoa học” [53, tr.217] Do đó, hoạt độnggiảng dạy đại học được thực hiện bởi những người gắn bó với NCKH Ngoàinhững phẩm chất và năng lực của các chuyên gia, họ phải có hai phẩm chất

năng lực có ý nghĩa nhất đối với lao động chuyên môn là năng lực sư phạm

và năng lực NCKH Rèn luyện kỹ năng của một nhà khoa học và nhà sư phạm

tâm huyết là yêu cầu tất yếu để nâng cao chất lượng nghề nghiệp của đội ngũgiảng viên đại học

- PGS, TS Phạm Hồng Quang - tác giả cuốn sách “Môi trường giáo dục”

[119] đưa ra quan niệm về đặc điểm lao động của trí thức GDĐH Tác giảkhẳng định, đối tượng lao động sư phạm là nhân cách học sinh đang pháttriển; để tác động đến đối tượng này, người giảng viên cần dùng công cụ làchính nhân cách của mình; chức năng lao động sư phạm là tái sản xuất sức laođộng xã hội; lao động của người giảng viên là lao động trí óc chuyên nghiệp;

nó đòi hỏi ở người giảng viên tính khoa học, nghệ thuật và sự sáng tạo Tácgiả cho rằng, đặc điểm lao động sư phạm cũng qui định những yêu cầu cơ bản

về nhân cách người giảng viên nên nhà giáo dục phải có năng lực sư phạm và

tổ hợp các phẩm chất đạo đức nghề nghiệp như: thế giới quan khoa học, lýtưởng đào tạo thế hệ trẻ và lòng yêu người, yêu nghề

- Khi luận giải “Bản chất của hoạt động sáng tạo trong nghiên cứu khoa học” [9], GS, TS Hoàng Chí Bảo nhấn mạnh: GDĐH gắn liền giảng dạy

với NCKH và phục vụ sản xuất Đội ngũ nhà giáo và các nhà khoa học cóquan hệ hợp tác, gắn bó với nhau thường xuyên, lâu dài Hình thức lao độngcủa họ có nhiều nét tương đồng về bản chất Đó là sự phát hiện, sự sinh thànhgiá trị mới thông qua những cách tân, tìm tòi hướng tiếp cận và phương phápgiảng dạy, nghiên cứu mới Vì vậy, lao động của trí thức GDĐH thể hiện rõ tínhsáng tạo với những sắc thái biểu hiện phong phú, đa dạng và phức tạp của nó

Trang 19

- TS Nguyễn Bá Cần: “Hoàn thiện chính sách phát triển Giáo dục đại học Việt Nam hiện nay” [31] Tiếp cận đặc điểm của GDĐH trong điều kiện

kinh tế thị trường, tác giả đã cho rằng, là một loại sản phẩm dịch vụ, GDĐH

có đầy đủ tính chất kinh tế giống như các loại sản phẩm hàng hoá và dịch vụkhác, nhưng nó không thích hợp với việc mua - bán hàng hóa Khi so sánh với

các loại dịch vụ khác thì “sản phẩm dịch vụ GDĐH còn có tính đặc thù - đó là những người công dân có ích với chính mình, có trách nhiệm với gia đình, xã hội và quốc gia Những sản phẩm như vậy được gọi là loại hàng hoá có ngoại

Ba là, nh ững công trình nghiên cứu bước đầu đề cập đến chất lượng lao động của trí thức GDĐH:

- Năm 2006, GS, TS Nguyễn Đức Chính và PGS, TS Nguyễn Phương

Nga đã nghiệm thu đề tài “Nghiên cứu xây dựng các tiêu chí đánh giá hoạt động giảng dạy đại học và NCKH của giảng viên trong Đại học Quốc gia”

[37] Giá trị thực tiễn của đề tài thể hiện ở những khuyến nghị đổi mới cáctiêu chí đánh giá hoạt động giảng dạy và NCKH của giảng viên có tính đến xuthế hội nhập toàn cầu trong GDĐH Đây là nghiên cứu về lĩnh vực đo lường

và đánh giá hiệu quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ của đội ngũ nhà giáo docác chuyên gia, cán bộ quản lý giáo dục thực hiện nên kết quả nghiên cứu có

Trang 20

ý nghĩa quan trọng trong việc gợi mở cách tiếp cận theo hướng đánh giá tổngthể chất lượng lao động của đội ngũ trí thức GDĐH cho tác giả luận án.

- Năm 2008, Phòng Phát triển con người Khu vực Đông Á và Thái Bình

Dương của Ngân hàng thế giới đã công bố Báo cáo“GDĐH và kỹ năng cho tăng trưởng” [113] Báo cáo tập trung nghiên cứu lĩnh vực GDĐH trong mối

liên hệ với trị trường lao động ở Việt Nam Nhiều nội dung quan trọng về chấtlượng của GDĐH đã được luận giải, khảo sát và chứng minh Đáng chú ý làvấn đề hiệu quả đào tạo; chương trình học, phương pháp sư phạm; chất lượngđội ngũ giảng dạy; năng lực nghiên cứu của giảng viên; sự hài lòng của sinhviên; khả năng, mức độ cung cấp thỏa đáng các kỹ năng cần thiết của GDĐHViệt Nam cho nguồn nhân lực, cho gia tăng năng suất lao động và thúc đẩynăng lực sáng tạo của người lao động trước những yêu cầu, đòi hỏi ngày càngcao từ thị trường trong nước, khu vực và quốc tế Kết quả nghiên cứu của Báocáo có ý nghĩa quan trọng đối với tác giả luận án trong việc kế thừa những sốliệu minh chứng về hiệu quả giảng dạy, NCKH của đội ngũ trí thức GDĐH

- Năm 2010, Luận án tiến sĩ: “Đánh giá giảng viên đại học theo hướng chuẩn hoá trong giai đoạn hiện nay” của Trần Xuân Bách [15] được bảo vệ thành công Ở góc độ quản lý giáo dục, tác giả có thể kế thừa, tiếp thu kết quả

của công trình nghiên cứu trên một số bình diện như quan niệm về giảng viênđại học, cơ sở lý luận về các phương thức đánh giá giảng viên Tác giả đã xácđịnh, đánh giá giảng viên là quá trình mô tả, thu thập, xử lí, phân tích mộtcách toàn diện hệ thống những thông tin về người giảng viên, để rồi phán

đoán giá trị lao động thực thụ của họ.

- PGS, TS Trần Quốc Toản (chủ biên): “Phát triển giáo dục trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế” [145] Giá trị nổi bật của công

trình nghiên cứu là những luận cứ khoa học về mối quan hệ giữa giáo dục đào tạo với thị trường trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn, đặc biệt lànhững khảo sát, đánh giá, luận giải về chất lượng nguồn nhân lực, sự đáp ứngcủa giáo dục đào tạo nói chung, GDĐH nói riêng đối với nhu cầu xã hội trướctác động của kinh tế thị trường và quá trình hội nhập quốc tế

Trang 21

-Ngoài ra còn nhiều bài viết độc lập của các nhà khoa học nghiên cứu

về chất lượng GDĐH nói chung, chất lượng lao động của đội ngũ giảng viênnói riêng, tiêu biểu như:

- Nguyễn Đức Chính, Nguyễn Phương Nga: “Nghiên cứu xây dựng bộ tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo đại học” [35] Bài viết đã xác định

những tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động chuyên môn của trí thứcGDĐH, trong đó đặc biệt chú ý tới dấu hiệu về khả năng và mức độ thỏa mãn,đáp ứng yêu cầu công việc của trí thức nhà giáo

- Phan Văn Kha: “Ứng dụng mô hình quản lý chất lượng ISO 9000 trong quản lý đào tạo sau đại học ở Việt Nam” Bài viết được trình bày trong cuốn sách “Chiến lược phát triển giáo dục trong thế kỷ XXI - kinh nghiệm của các quốc gia” [76] Thông qua việc nghiên cứu những quan niệm khác nhau

về chất lượng trong các lĩnh vực, tác giả đã đưa ra quan niệm về chất lượngGDĐH là sự thỏa mãn nhu cầu của khách hàng và được đánh giá qua mức độtrùng khớp với mục tiêu định sẵn

- Tiếp cận và phản ánh vấn đề chất lượng GDĐH còn có thể kể đến bài

viết “Hệ thống đảm bảo chất lượng trong trường đại học theo quan điểm của mạng lưới các trường đại học khu vực Đông Nam Á” của Tạ Thị Thu Hiền

[70] Tác giả trực tiếp bàn luận đến qui trình đánh giá, tiêu chí kiểm định chấtlượng đào tạo của các trường đại học, trong đó nhấn mạnh đến lĩnh vực giảngdạy chuyên môn, NCKH, quản lý đào tạo của giảng viên, chất lượng của yếu tốđầu vào - sinh viên và chất lượng yếu tố đầu ra - nguồn nhân lực được đào tạo

Lê Hữu Ái, Lâm Bá Hòa: “Giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng” [3] Trong bài viết, hai tác giả

-đã tập trung phân tích những bất cập, yếu kém của GDĐH ở nước ta hiện nay,đặc biệt là khía cạnh chất lượng đào tạo nguồn nhân lực Trên cơ sở đó, bàiviết luận chứng một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của GDĐH trong pháttriển kinh tế ở nước ta hiện nay

- Phạm Ngọc Trung: “Chất lượng giáo dục trong các trường đại học ở nước ta hiện nay” [147] Với quan niệm, chất lượng GDĐH là “tổng thể hệ

Trang 22

thống của trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức, khả năng hội nhập vàviệc làm ổn định của sinh viên khi tốt nghiệp” [147, tr.38], tác giả đã phântích những nhân tố tác động đến chất lượng giáo dục trong các trường đại học

ở nước ta hiện nay, đó là đội ngũ nhà giáo, người học, cơ sở vật chất kỹ thuật

- Thẩm Vinh Hoa - Ngô Quốc Diệu (chủ biên): “Tôn trọng trí thức, tôn trọng nhân tài kế lớn trăm năm chấn hưng đất nước” do Nguyễn Như Diệm

dịch [71] Công trình này đã đề cập đến nhiều nội dung quan trọng trong tưtưởng của Đặng Tiểu Bình về trí thức Những quan điểm có ý nghĩa chỉ dẫncủa Đặng Tiểu Bình đối với vấn đề nhân tài, đường lối tổ chức, xây dựng,phát triển đội ngũ trí thức, nhất là những tư tưởng về công tác bồi dưỡng, đàotạo, sử dụng, đãi ngộ nhân tài được tác giả Thẩm Vinh Hoa và Ngô QuốcDiệu luận giải kỹ lưỡng Từ đó, cuốn sách cũng bước đầu làm rõ sự vận dụng

tư tưởng Đặng Tiểu Bình trong chiến lược xây dựng nhân tài, phát triển độingũ trí thức ở Trung quốc những năm qua

Ở hầu hết các quốc gia, trí thức GDĐH được nhà nước rất coi trọng Dovậy, nhiều chủ thể nghiên cứu thường nhận thấy sự cần thiết phải quan tâmđến trí thức nhà giáo, nhất là đội ngũ giảng viên

- J.Vial - nhà giáo dục Pháp, trong cuốn “Lịch sử và Thời sự về các phương pháp sư phạm” [156] đã kiến tạo một quan điểm mới về đặc điểm lao

động của trí thức nhà giáo ở bậc đại học J.Vial khẳng định: Người dạy khôngchỉ làm tốt chức năng kép của mình là biết cách truyền đạt cái người học cần

Trang 23

mà còn biết tổ chức quá trình nhận thức cho người học có thể tích cực, chủđộng chiếm lĩnh nội dung học Để thực hiện vai trò “trọng tài, cố vấn” trongquá trình dạy học, người giảng viên phải có phẩm chất đồng thời của nhà sưphạm và nhà khoa học Từ lập luận của J.Vial, có thể xem đây là đặc thù laođộng ở bình diện chức năng, nhiệm vụ nghề nghiệp của trí thức GDĐH.

- J.A Centra với các công trình nghiên cứu tiêu biểu như: “Tự đánh giá của giảng viên đại học: Một so sánh với đánh giá của sinh viên” [32]; Xác định hiệu quả công tác của giáo viên [33] J.A Centra cho rằng, bất cứ người

giảng viên nào cũng cần thực hiện đầy đủ các chức năng, nhiệm vụ chủ yếunhư giảng dạy, NCKH, dịch vụ chuyên môn phục vụ cộng đồng Vì vậy, cầntập trung đánh giá chất lượng hay hiệu quả công tác của nhà giáo đại học theo

ba lĩnh vực hoạt động chính đã nêu

- Ph.N.Gônôbôlin: “Những phẩm chất tâm lý của người giáo viên” [65].

Khi bàn về tính đặc thù của công tác dạy học, tác giả cho rằng, hai mặt cơ bảntrong hoạt động sư phạm là “giảng dạy và giáo dục Hai mặt hoạt động sưphạm này liên hệ chặt chẽ với nhau, thâm nhập vào nhau và là một quá trìnhthống nhất Điều được tác giả nhấn mạnh là sự thay đổi vai trò, nhiệm vụ củanhà giáo trong thời đại mới gắn liền với sự bùng nổ tri thức: “nhà giáo khôngphải là người phán truyền chân lý mà là người lãnh đạo và tổ chức khéo léocông việc của học sinh ở trên lớp” [65, tr.76] Để đáp ứng sự biến đổi ấy, bảnthân mỗi nhà giáo phải phát huy tính tích cực giảng dạy như một thuộc tínhquan trọng Xác định những phẩm chất tâm lý của người giáo viên, tác giả đãchú ý đặc biệt tới dấu hiệu về khả năng sáng tạo Đó là đặc trưng phổ biến củalao động sư phạm mà nếu thiếu nó, giảng dạy chỉ đơn thuần là truyền thụ kiếnthức một chiều, rất dễ sa vào rập khuôn, máy móc và nhàm chán

- Franz Emanuel Weinert trong tác phẩm “Sự phát triển nhận thức học tập và giảng dạy” [164] đã tập trung luận giải các đặc điểm của người giảng

viên tích cực Nội dung quan trọng trong tác phẩm của Franz EmanuelWeinert là việc xác định tiêu chí của một trí thức nhà giáo với hoạt độngchuyên môn giỏi Theo tác giả, đó là người “thể hiện hành động sư phạm

Trang 24

được đặc trưng bởi chất lượng khác nhau hướng vào việc định hướng, điềukhiển và hỗ trợ các học sinh theo mục tiêu” [163, tr.537] Thông qua tácphẩm của mình, Franz Emanuel Weinert cũng đề cập đến hiệu quả và chấtlượng giảng dạy - một phương diện quan trọng cấu thành lao động của tríthức GDĐH.

- UNESCO đã tổ chức những hoạt động tập trung trí tuệ nhân loại suy

nghĩ về một nền giáo dục cho thế kỷ XXI mà đỉnh cao là “Higher Education

in the Twenty - First Century - vision and Action” [178] Hội nghị đã thông

qua Tuyên ngôn về GDĐH với việc xác định sứ mạng cốt lõi của hệ thốngGDĐH và chức năng, nhiệm vụ của đội ngũ giảng viên trong thế kỷ XXI.Tuyên ngôn xác định, chất lượng trong GDĐH là một khái niệm đa chiều, baotrùm mọi chức năng và hoạt động của nó: giảng dạy, chương trình đào tạo,NCKH, đội ngũ giảng viên và sinh viên, cấu trúc hạ tầng và môi trường họcthuật, trong đó, nhân tố người dạy giữ vai trò quyết định nhất Tuyên ngôncũng chỉ rõ cần có một chính sách mạnh mẽ về phát triển đội ngũ sao cho cóthể nâng cao kỹ năng của họ, khuyến khích khả năng sáng tạo, phát huy tínhtích cực, chủ động trong nghiên cứu và giảng dạy

- J.M.Denomme và Medeleine Roy với cuốn sách “Tiến tới một phương pháp sư phạm tương tác” [39] Hai tác giả cho rằng, trong quá trình dạy học,

phương pháp sư phạm tích cực được coi như toàn bộ các can thiệp của ngườidạy với mục đích giúp người học thực hiện quá trình chiếm lĩnh tri thức hay

kỹ năng, từ đó học cách tìm kiếm và xử lí thông tin, tạo cho mình năng lực

tương ứng Điều khẳng định này cho thấy người học vừa là đối tượng, vừa là mục đích lao động của nhà giáo; kết quả lao động của trí thức GDĐH trong

hoạt động giảng dạy phải được biểu hiện ở việc hình thành phương pháp tựhọc, tự nghiên cứu của sinh viên dưới vai trò hướng dẫn của trí thức nhà giáo.Tổng hợp những công trình nghiên cứu nêu trên đã xác định một quanđiểm mới về lao động của trí thức nhà giáo bậc đại học Theo đó, chất lượngGDĐH cũng được hình dung là một khái niệm đa chiều bao trùm mọi chứcnăng và hoạt động của nhà trường

Trang 25

1.3 NHỮNG GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ CỦA CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU

CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬN ÁN TIẾP TỤC

LÀM SÁNG TỎ

Có thể nói, một khối lượng tri thức phong phú với nhiều công trìnhnghiên cứu công phu về trí thức cho thấy sức hấp dẫn hay tính đặc biệt quantrọng của vấn đề này đối với sự phát triển của xã hội Giá trị khoa học của mộtkhối lượng lớn những tài liệu, công trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn về tríthức, trí thức GDĐH đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả luận án nghiên cứuchất lượng lao động của đội ngũ trí thức GDĐH ở nước ta hiện nay

Từ tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án, tác giảxin đưa ra những đánh giá khái quát như sau:

Một là, các công trình nghiên cứu đã vạch ra một hệ thống các phương

pháp tiếp cận về trí thức và đội ngũ trí thức GDĐH Đáng chú ý là nhữngquan điểm xem trí thức như một lực lượng xã hội, một nhóm xã hội - nghềnghiệp được nhận diện và phân định bởi phương thức, tính chất lao động trí

óc, sáng tạo và phức tạp Trong những năm gần đây, các công trình nghiêncứu khi quan niệm về trí thức thường chú trọng nhấn mạnh tiêu chí tráchnhiệm và hiệu quả đóng góp cho sự phát triển xã hội từ hoạt động chuyênmôn đặc thù của từng chủ thể trí thức trong cơ cấu nghề nghiệp Đây chính là

sự bổ sung vào cách tiếp cận mới về trí thức, nó được thai nghén và dần trởthành hướng nghiên cứu trọng tâm trong quá trình đổi mới tư duy, nhất làtrong bối cảnh phát triển kinh tế tri thức

Hai là, những nghiên cứu lý luận về trí thức, trí thức giáo dục, trí thức

GDĐH là khá phong phú nhưng nghiên cứu về chất lượng lao động của tríthức, trí thức GDĐH còn ít Chưa có công trình nghiên cứu chuyên khảo haycác đề án, chương trình nghiên cứu khoa học cấp nhà nước, cũng chưa có luận

án, luận văn nào trực tiếp đi sâu luận giải một cách có hệ thống về vấn đề này

Ba là, dưới các góc độ, bình diện, phạm vi nghiên cứu khác nhau,

những công trình nghiên cứu liên quan đến luận án đã giải quyết được một sốvấn đề lý luận và thực tiễn về trí thức GDĐH Ở chừng mực nhất định đã đề

Trang 26

cập đến đặc điểm lao động của đội ngũ giảng viên Tuy nhiên, các công trình

đã công bố chưa khai thác vấn đề ở chiều sâu từ góc độ mối quan hệ giữa việcnhận thức đầy đủ đặc điểm lao động với việc xác lập các tiêu chí đánh giáchất lượng lao động của đội ngũ trí thức GDĐH Việt Nam Trong bối cảnhtoàn cầu hóa, hội nhập, cạnh tranh, đổi mới và phát triển kinh tế tri thức, đó làmột vấn đề liên quan mật thiết đến chiến lược phát triển nguồn nhân lực ởnước ta hiện nay nhưng chưa được trực tiếp đi sâu nghiên cứu, đánh giá, tổngkết và tìm giải pháp phát triển Hơn nữa, nghiên cứu lý luận về đặc điểm laođộng của trí thức GDĐH mới được đề cập ở mức độ hạn chế hoặc ở từng khíacạnh cụ thể, chủ yếu luận bàn đến chức trách, nhiệm vụ, đối tượng, công cụtác động, tính chất lao động của giảng viên và nhà khoa học

Bốn là, trên bình diện chất lượng lao động của trí thức GDĐH,

những công trình nghiên cứu đã công bố chủ yếu tiếp cận ở khía cạnhchung về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, phẩm chất chính trị, tư tưởng,đạo đức hoặc chỉ chú trọng đánh giá nhiệm vụ giảng viên theo góc độ tiếpcận giáo dục học Phương thức đánh giá chất lượng giảng viên bước đầuđược quan tâm và luận giải, tuy nhiên, các tác giả còn ít đi sâu vào việc cụthể hoá phương thức đánh giá thông qua các tiêu chí định lượng Trên thực

tế, lý luận về chất lượng lao động của trí thức GDĐH chưa được nghiêncứu theo quan điểm toàn diện, hệ thống với giác độ tiếp cận liên ngành triếthọc - chính trị - xã hội - giáo dục

Năm là, nhiều khía cạnh thực tiễn về nâng cao chất lượng lao động của

đội ngũ trí thức GDĐH chưa được làm sáng tỏ như: thực trạng, những vấn đềđặt ra từ thực trạng; việc qui chế hoá chất lượng lao động của đội ngũ nhàgiáo ở các cơ sở đào tạo đại học trên phạm vi cả nước; cơ chế, mức độ, hiệuquả tác động của chủ trương, chính sách, pháp luật đến việc nâng cao chấtlượng lao động của đội ngũ trí thức GDĐH ở nước ta hiện nay

Sáu là, việc làm rõ chất lượng lao động của đội ngũ trí thức quản lý

giáo dục bậc đại học ở Việt Nam còn là vấn đề mới mẻ, chưa có những côngtrình nghiên cứu chuyên sâu theo hướng xây dựng thành lý luận và tổng kết

Trang 27

thực tiễn về chất lượng lao động của đội ngũ này đáp ứng yêu cầu đổi mớiquản lý hệ thống GDĐH Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Bảy là, còn có nhiều vấn đề chưa được luận chứng mà trong luận án

này, trên cơ sở tiếp thu thành quả của các công trình nghiên cứu đi trước, sẽtập trung giải quyết như:

- Thông qua việc khai thác, kế thừa kết quả nghiên cứu từ các côngtrình khoa học trong và ngoài nước có liên quan, với phương pháp tiếp cậnliên ngành triết học - chính trị - xã hội - giáo dục, luận án hình thành quanniệm mới có tính hệ thống về chất lượng lao động của trí thức GDĐH và tínhđặc thù của lao động trí thức GDĐH Việt Nam hiện nay

- Xây dựng luận cứ khoa học cho tính tất yếu nâng cao chất lượng laođộng của trí thức GDĐH Việt Nam trong bối cảnh hiện nay

- Luận án xác lập những tiêu chí đánh giá chất lượng lao động của tríthức GDĐH làm cơ sở khoa học cho việc khảo sát thực trạng chất lượng laođộng của đội ngũ trí thức GDĐH Việt Nam ở các trường đại học công lập

- Luận án làm rõ một số vấn đề đặt ra đối với chất lượng lao động củađội ngũ trí thức GDĐH Việt Nam hiện nay, từ đó đề xuất những giải pháp chủyếu liên quan đến việc đổi mới, nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, vai tròquản lý của Nhà nước; giáo dục nhận thức; đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình

độ, năng lực sư phạm, phẩm chất đạo đức của đội ngũ giảng viên, cán bộ quản

lý đào tạo ở các trường đại học; đổi mới cơ chế, chính sách tạo động lực; tăngcường công tác kiểm định chất lượng lao động của đội ngũ trí thức GDĐH ởViệt Nam hiện nay

Trang 28

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG LAO ĐỘNG

CỦA TRÍ THỨC GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

2.1 QUAN NIỆM VỀ TRÍ THỨC, TRÍ THỨC GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VÀ

LAO ĐỘNG CỦA TRÍ THỨC GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

2.1.1 Quan niệm về trí thức

Trí thức là một thuật ngữ, một khái niệm khoa học với những hàmnghĩa khác nhau Nghiên cứu về trí thức là nghiên cứu về một đối tượng đặcthù trong cơ cấu xã hội gắn liền với phương thức lao động nhất định và khôngtách rời bản chất xã hội cũng như môi trường, điều kiện mà trí thức hìnhthành, phát triển Theo đó, khi xem xét quan niệm về trí thức đòi hỏi phải chú

ý đến tính lịch sử - cụ thể và giác độ tiếp cận

Quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin về trí thức:

Trong lý luận mác xít về trí thức, việc xác định vai trò đặc biệt to lớncủa tầng lớp này đối với đời sống chính trị chiếm một vị trí quan trọng và thuhút sự quan tâm của các nhà kinh điển

Trong bức thư gửi V.I.Daxulich, Ph.Ăngghen đã nói tới thái độ kiênquyết và lòng nhiệt tình của những người trí thức dân tộc trong việc “chặt đứtxiềng xích đang giam cầm họ”, tức là nền quân chủ Ph Ăngghen khẳng định,

“để điều hành bộ máy hành chính và toàn bộ nền sản xuất xã hội, hoàn toànkhông cần những lời nói suông, mà cần những trí thức vững vàng” [97, tr.432]

Hiểu rõ tầm quan trọng của trí tuệ nói chung đối với tiến trình pháttriển và nhất là đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, V.I.Lênin chorằng, “trí thức bao hàm không những chỉ các nhà trước tác mà thôi, mà cònbao hàm tất cả mọi người có học thức, các đại biểu của những người tự do nóichung, các đại biểu của lao động trí óc” [88, tr.372] Mặc dù trí thức khôngphải là giai cấp kinh tế độc lập và vì thế không phải là lực lượng chính trị độclập nhưng V.I.Lênin đánh giá cao vai trò của trí thức: “Không có sự chỉ đạocủa các chuyên gia am hiểu các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật và có kinhnghiệm thì không thể nào chuyển lên chủ nghĩa xã hội được” [90, tr.217]

Trang 29

Quan niệm của Hồ Chí Minh về trí thức:

Từ phương diện tiếp cận triết học - chính trị, trên tinh thần kế thừa vàphát triển sáng tạo học thuyết Mác - Lênin, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh

đã sớm nhận thức thấu đáo vai trò, vị trí của tầng lớp trí thức trong xã hội.Người nhận định, “Trí thức là vốn liếng quý báu của dân tộc” [101, tr.156]

Hồ Chí Minh quan tâm đến trí thức một cách khoa học, sâu sắc và chân thành,Người khen ngợi trí thức chân chính như “những anh hùng vô danh”, những

“chiến sĩ trên mặt trận văn hóa”, những trí thức “chính tâm, thân dân” Ngườicũng trực tiếp phê bình “trí thức một nửa” và thẳng thắn cho rằng:

Một người học xong đại học, có thể gọi là trí thức nhưng công việcthực tế, y không biết gì cả Thế là y chỉ có trí thức một nửa Trí thứccủa y là trí thức học sách, chưa phải trí thức hoàn toàn Y muốnthành một người trí thức hoàn toàn, thì phải đem trí thức đó áp dụngvào thực tế [101, tr.235]

Quan niệm của Hồ Chí Minh cho ta thấy một vấn đề tưởng như đã rõnhưng không dễ dàng phân định, rằng trí thức là ai, ai là người trí thức chânchính Theo Hồ Chí Minh, trí thức đáng trọng phải là trí thức hết lòng phục vụcách mạng, phục vụ nhân dân Điều này đã góp phần làm rõ ranh giới để phânbiệt người trí thức thực học, thực tài với những người mang danh trí thức vớinhững bằng cấp, chức quyền nhưng trên thực tế lại thiếu những đóng gópxứng đáng cho hoạt động lao óc trí óc, sáng tạo vốn được trân trọng và tônvinh Chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh giúp ta nhận thức sâu sắc vấn đề mà

có lẽ cả xã hội đang trăn trở, đó là nạn “chảy máu chất xám”, “bạc chất xám”, “lãng phí chất xám” hay “tha hóa lao động trí óc” ở một bộ phận trí

thức trước tác động tiêu cực từ mặt trái của cơ chế thị truờng

Một số quan niệm khác về trí thức:

Tiếp cận khái niệm trí thức ở góc độ tính chất lao động và yêu cầu vềtrình độ chuyên môn, Từ điển Triết học, Nxb Tiến bộ, M.1986, Từ điển Chủnghĩa xã hội khoa học và Từ điển Tiếng Việt - Viện Ngôn ngữ học, Nxb Giáodục, 1994 đều có chung nhận định: Trí thức gồm những người làm nghề lao

Trang 30

động trí óc và có học vấn chuyên môn cần thiết cho hoạt động nghề nghiệpcủa mình.

Từ sự phân tích những đặc trưng cơ bản của trí thức, PGS.TS Đàm ĐứcVượng và PGS.TS Nguyễn Viết Thông xác định: “Họ là người lao động trí

óc, có trình độ phát triển về trí tuệ, có hiểu biết sâu về một lĩnh vực chuyênmôn, có năng lực sáng tạo, nhạy bén với cái mới” [161, tr.25]

Khi xem xét các thuộc tính cơ bản của trí thức, PGS, TS Phan ThanhKhôi cho rằng, “trí thức là một tầng lớp xã hội, lao động trí óc với trình độhọc vấn cao, sản xuất tinh thần là chủ yếu nhằm sáng tạo, giữ gìn và truyềnđạt, nhất là ứng dụng tri thức khoa học góp phần đẩy nhanh sự phát triển của

xã hội” [83, tr.4] Quan niệm đó vừa phân định vị trí của trí thức trong cơ cấu

xã hội - giai cấp, vừa chỉ rõ vai trò của trí thức đốivới sự phát triển của xã hội,đồng thời chỉ rõ tính đặc thù về phương thức lao động của trí thức so với cáclực lượng xã hội khác

Trên cơ sở phân tích những vấn đề triết học - xã hội về trí thức, GS, TSHoàng Chí Bảo cho rằng, trong cơ cấu xã hội - giai cấp, trí thức là một tầnglớp xã hội đa dạng về nghề nghiệp và hoạt động Vấn đề đặt ra đối với ngườitrí thức, đó là “hiểu biết và sáng tạo, là năng lực làm chủ phương pháp, biếtdùng phương pháp để mở rộng và nâng cao hiểu biết” [10, tr.6] Theo đó, tríthức phải là người “thực học để có thực lực và thực tài” Hơn nữa, ở người tríthức có sự phát triển cao tính tự nguyện và lòng tự trọng, lao động của người tríthức, do đó là lao động tự do GS, TS Hoàng Chí Bảo còn khẳng định, nhiệm

vụ của trí thức là “đóng góp vào sự khám phá, sáng tạo cái mới, những giá trịmới thúc đẩy sự phát triển nhận thức khoa học và phát triển xã hội” [10, tr.6]

Bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước trong xu thế hội nhậpquốc tế, vai trò của trí thức được nâng lên một tầm cao mới Theo tác giảNguyễn Đắc Hưng, “trong xã hội hiện đại, khoa học ngày càng phát triển, độingũ trí thức sẽ đóng vai trò là lực lượng sản xuất trực tiếp thứ nhất…Người tríthức Việt Nam phải ý thức được vai trò của mình trong cộng đồng nhân loại màtích cực dấn thân vào hoạt động khoa học mang tầm thế giới” [73, tr.27-28]

Trang 31

Quan niệm của Đảng Cộng sản Việt Nam về trí thức:

Vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và quán triệt

tư tưởng Hồ Chí Minh về trí thức, Đảng ta khẳng định: “Trí thức là nhữngngười lao động trí óc, có trình độ học vấn cao về lĩnh vực chuyên môn nhấtđịnh, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, truyền bá và làm giàu tri thức, tạo

ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị đối với xã hội” [50, tr.81].Đây là lần đầu tiên, Đảng đưa ra quan niệm về trí thức với sự nhất quán trongviệc đánh giá cao vai trò của trí thức, thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Đảngđối với lực lượng cách mạng quan trọng này

Thống nhất với những cách tiếp cận cơ bản nêu trên, chúng tôi cho

rằng, trí thức là một tầng lớp xã hội được đặc trưng bởi phương thức lao động trí óc, sáng tạo Họ là lực lượng chủ yếu tham gia trực tiếp vào việc phát kiến, giữ gìn và truyền bá tri thức góp phần thúc đẩy sự phát triển nhận thức khoa học và sự tiến bộ của xã hội.

Từ tổng thể những quan niệm đã nêu, cần nhận diện trí thức ở một sốđiểm cơ bản sau:

Một là, trí thức không phải là một giai cấp mà là một tầng lớp xã hội

đặc biệt và đặc thù Bởi vì, trí thức không thuộc về một giai cấp nào duy nhất,

nó hình thành từ một nhóm xã hội lớn theo cách tiếp cận của xã hội học, cóđặc điểm lao động và phương thức sản xuất riêng để sản xuất tri thức vàtruyền bá tri thức Trí thức đến từ nhiều nguồn khác nhau, từ các giai cấp, cáclực lượng, các tập đoàn và các nhóm xã hội khác nhau trong xã hội, mặc dù

không trực tiếp sở hữu tư liệu sản xuất vật chất của xã hội nhưng sở hữu trí tuệ lại được xem là đặc trưng cơ bản của trí thức.

Hai là, trí thức cần được xem như một cá thể - chủ thể mang nhân cách sáng tạo Trên bình diện rộng hơn, trong cơ cấu xã hội - giai cấp, trí thức là một tầng lớp xã hội, có thể coi như một tập hợp, một phân hệ của cơ cấu xã

hội chỉnh thể, đa dạng về lĩnh vực lao động và hoạt động nghề nghiệp Tríthức, dù là một cá thể hay một số đông tập hợp thành đội ngũ do hoạt độngnghề nghiệp qui định thì trí thức luôn gắn liền với lao động trí óc, có hiểu biếtsâu rộng, có năng lực sáng tạo, có trình độ phát triển cao về trí tuệ

Trang 32

Ba là, học vấn, học thức của người trí thức được hình thành qua đào

tạo, được bồi dưỡng và phát triển không ngừng bằng con đường tự đào tạo, tựtrau dồi và hoàn thiện của cá nhân trong lao động và hoạt động sáng tạo

Bốn là, với trí thức chân chính, hiểu biết phải nhằm phục vụ cộng đồng,

cống hiến cho dân tộc và xã hội; lý tưởng chính trị và trách nhiệm xã hội phảiđược biểu hiện thông qua lý tưởng nghề nghiệp, qua hoạt động chuyên mônđặc thù, gắn bó sâu nặng với Tổ quốc và nhân dân Đó còn là tình cảm yêunước và tinh thần dân tộc, là ý thức trách nhiệm sâu sắc đối với sự tiến bộ của

xã hội Thực tiễn luôn đòi hỏi người trí thức hiện đại cần phải có tài năng và

phẩm chất đạo đức, sự gắn bó thống nhất giữa trình độ học vấn với khát vọng cống hiến Đó là giá trị cốt lõi để người trí thức chân chính xác định cho mình

một thái độ lao động tích cực và tự giác nhận lấy trách nhiệm, nghĩa vụ phụng

sự nhân dân, phụng sự Tổ quốc không toan tính ích kỷ hay vụ lợi

Năm là, trí thức là người có cá tính sáng tạo, có lòng tự trọng cao, có

đầu óc duy lý và phê phán, có khát vọng tự do, dân chủ, đấu tranh cho lẽ phải

và sự công bằng Người trí thức không lệ thuộc vào những hiểu biết cũ, giáođiều mà phải vượt lên cái cũ để sáng tạo những tri thức mới Đây là nhữngđặc trưng nổi trội và chiếm ưu thế trong cấu trúc nhân cách của trí thức

2.1.2 Quan niệm về trí thức giáo dục đại học Việt Nam

Trí thức GDĐH Việt Nam cần được tiếp cận ở quan điểm hệ thống cấu trúc, trong mối liên hệ hữu cơ, gắn bó với trí thức và trí thức giáo dục đào

-tạo Những lực lượng đó đều có chung phương thức lao động trí óc với tư duy

độc lập, có trình độ chuyên môn nhất định để có thể sáng tạo và ứng dụngnhững tri thức khoa học vào cuộc sống, góp phần thúc đẩy sự phát triển của

Trang 33

phạm nhằm cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao và phát triển nhân tài cho đất nước.

GDĐH ở Việt Nam có hai cấp học là đại học và sau đại học Cấp đạihọc đào tạo trình độ đại học và cao đẳng, cấp sau đại học đào tạo trình độ thạc

sĩ và tiến sĩ Cơ sở GDĐH gồm các trường đại học và cao đẳng, ngoài ra còn

có thể thực hiện ở các học viện hay viện nghiên cứu khoa học thành viênthuộc các lĩnh vực chuyên môn khác nhau Theo đó, trí thức GDĐH Việt Nam

là một lực lượng xã hội, bao gồm ba bộ phận: giảng viên (chiếm số đông), cán

bộ lãnh đạo, quản lý; một số chuyên viên, nhân viên của các phòng, ban thamgia trực tiếp vào quá trình giáo dục ở bậc đại học

Nhiều người cho rằng, trí thức GDĐH phải có học vấn, học thức cao,

có trình độ đào tạo sau đại học Ngày nay, quan niệm này không sai nhưng rõràng là thiếu toàn diện và chưa thể khắc phục được hạn chế khó đo lường vềnăng lực và sự đóng góp thực tế của trí thức GDĐH Không thể đánh giá trình

độ học vấn và kết quả được đào tạo của trí thức GDĐH chỉ thông qua vănbằng, chứng chỉ Đó không phải là căn cứ duy nhất và chủ yếu để định danhcho trí thức GDĐH ở nước ta

Trong điều kiện hiện nay, trước tác động mặt trái của cơ chế thị trường,khi chủ nghĩa thực dụng, vị kỷ đang chi phối đời sống con người thì hiệntượng học giả, bằng thật không còn là điều quá xa lạ trong thị trường Có mộtlôgíc cần thừa nhận rằng, “thông tin và tri thức khoa học càng bùng nổ dữ dội

bao nhiêu thì “tuổi thọ của văn bằng càng bị rút ngắn bấy nhiêu, nếu chủ

nhân của nó không thường xuyên cập nhật được những cái mới” [10, tr.5].Trước bối cảnh phát triển ngày càng sâu rộng của kinh tế tri thức, nếu trí thứcGDĐH Việt Nam không chứng thực được hiệu quả lao động trí óc, sáng tạo

của mình bằng giá trị thực trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tiến bộ

xã hội thì trình độ được đào tạo của đội ngũ này tự bản thân nó cũng trở nênthiếu tính hữu dụng Điều hệ trọng này càng trở thành hiển nhiên khi năng lựccũng như đóng góp lao động thực tế của trí thức GDĐH trở nên quan trọnghơn gấp nhiều lần so với những chứng chỉ, văn bằng mà họ có Hơn nữa, cần

Trang 34

nhận thức thấu đáo rằng, học vấn và bằng cấp được đào tạo của trí thức chỉ có

ý nghĩa khi giá trị của nó được đảm bảo, được chứng thực qua năng suất vàhiệu quả lao động Sẽ là siêu hình và sa vào chủ nghĩa hình thức trong đánhgiá nếu tuyệt đối hóa một cách cứng nhắc tiêu chí học vấn, bằng cấp mà

không xem xét nó trong mối tương quan với năng lực cũng như hiệu quả lao động thực tế của trí thức GDĐH.

Trí thức GDĐH Việt Nam có cơ cấu đa dạng với nhiều bộ môn, nhiềuphân ngành Đại đa số trí thức GDĐH đều là giảng viên, tuy nhiên có một bộphận trí thức GDĐH đồng thời đóng hai vai trò: người giảng viên và nhà quản

lý giáo dục nên thuật ngữ trí thức GDĐH có thể được xem như đồng nhất vớithuật ngữ nhà giáo ở bậc đại học Điều này khách quan đòi hỏi nhân cách củatrí thức GDĐH ở nước ta phải là sự tổng hợp những biểu hiện nhân cách nổitrội của người trí thức nói chung và nhà giáo đại học nói riêng Ở đó, trình độchuyên môn sâu rộng của người trí thức, nghiệp vụ, năng lực sư phạm bậc caocủa nhà giáo, phẩm chất chính trị, đạo đức của nhà khoa học, lý tưởng “trồngngười” của nhà giáo phải được hòa quyện, gắn bó với nhau để đạt tới sự thống

nhất, đồng điệu trong một chỉnh thể nhân cách - người kỹ sư tâm hồn, nhà khoa học sư phạm Sự kết hợp đó sẽ trở thành điều kiện cốt yếu để mỗi trí

thức GDĐH Việt Nam có thể tự biểu hiện trước người học như một nhâncách, một tấm gương sáng để sinh viên noi theo

Trong tính chỉnh thể của chính nó, nói đến trí thức GDĐH Việt Namkhông thể chỉ nhắc đến cá thể một người mà còn là đội ngũ, tức là bao gồm cảmột thế hệ hoặc nhiều thế hệ tạo thành cộng đồng xã hội và được tổ chứcthành lực lượng thống nhất Đây là cộng đồng xã hội của những người cócùng một nghề nghiệp, đó là dạy học và nghiên cứu; cùng có một môi trường,địa bàn để tự biểu hiện mình đó là trường đại học, có thể là trường công lập,ngoài công lập, cũng có thể là trường cao đẳng, các học viện hay viện nghiên

cứu Nói chung, đó là cộng đồng trí thức đặc thù Họ không chỉ là nguồn lực

trí tuệ của quốc gia mà còn là lực lượng căn bản, chủ yếu và có ý nghĩa quyếtđịnh nhất đến quá trình đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước

Trang 35

đồng thời tham gia hoạch định đường lối, chính sách, tổ chức thực hiện chủtrương GDĐH trong thực tiễn nhà trường và các cơ sở đào tạo, NCKH.

Trong giai đoạn hiện nay, việc hình dung diện mạo nhân cách của tríthức GDĐH ở nước ta đòi hỏi phải nhìn nhận họ đồng thời với hai tư cách:

Trước hết, họ là một công dân mà đây là công dân sinh sống trong điều

kiện đổi mới, có dân chủ hóa, có Nhà nước pháp quyền đang trên con đườnghoàn thiện Hơn nữa, là người thầy thì trí thức GDĐH phải là tấm gương sáng

cho học trò cho nên họ là công dân gương mẫu chấp hành pháp luật bằng tất

cả sự giác ngộ trí tuệ của mình, bằng lý trí, bằng tình cảm, gắn liền giữa tìnhcảm yêu nước, yêu dân với giác ngộ lý tưởng về chủ nghĩa xã hội để xây dựngmột Tổ quốc Việt Nam giàu đẹp, văn minh, hiện đại, sánh vai với các cườngquốc như mong muốn của Hồ Chí Minh

Tư cách thứ hai của trí thức GDĐH Việt Nam - họ là người lao động

mà đây là lao động trí óc trong điều kiện kinh tế tri thức phát triển sâu rộng,

trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập, cạnh tranh Bởi vậy, trí thức GDĐHViệt Nam chân chính cần có ý thức và tinh thần dân tộc, tự giác nhận lấytrách nhiệm của mình trong việc nâng cao trình độ cho dân chúng; đem tàinăng, trí tuệ, sức lực và nhiệt tâm của mình phụng sự cho sự nghiệp đào tạo,bồi dưỡng và phát triển những thế hệ con người mới xã hội chủ nghĩa choquốc gia, dân tộc

Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay, trí thứcGDĐH đang là nguồn nhân lực đặc biệt quan trọng đối với việc đẩy mạnhCNH, HĐH trước đòi hỏi ngày càng cao của kinh tế tri thức, của quá trình hộinhập và quốc tế hóa GDĐH Trên ý nghĩa đó, vai trò, nhiệm vụ của đội ngũ tríthức GDĐH Việt Nam ngày càng được định hình rõ nét:

Một là, trí thức GDĐH Việt Nam phải trực tiếp gắn kết đào tạo với

NCKH, liên kết các hoạt động của nhà trường với sản xuất và dịch vụ cộngđồng thông qua giảng dạy, nghiên cứu ứng dụng, triển khai có hiệu quả cáctiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ vào giảng dạy, học tập và đời sốngcộng đồng

Trang 36

Hai là, trí thức GDĐH Việt Nam là lực lượng nòng cốt trực tiếp xây

dựng nền Giáo dục đại học Việt Nam tiên tiến, góp phần quan trọng vào chấnhưng giáo dục nước nhà.Tác động và quyết định đến chất lượng GDĐH cónhiều yếu tố khác nhau nhưng tâm điểm của mọi nguồn lực lại thuộc về vaitrò của trí thức nhà giáo, bởi chỉ có họ mới giải quyết được những thách thứctrong chất lượng đào tạo nguồn nhân lực; trong chức năng sản xuất, tái sản

xuất ra “hàng hoá” với sản phẩm đặc biệt: Con người trí tuệ Họ là lượng

xung kích, là những chiến sĩ trên mặt trận nâng cao chất đào tạo đại họchướng vào mục tiêu: tạo bước chuyển mạnh về phát triển nguồn nhân lực, đưagiáo dục đại học nước ta thoát khỏi tình trạng lạc hậu so với các quốc giatrong khu vực và trên thế giới

Ba là, với tư cách là nguồn lực trí tuệ, trí thức GDĐH Việt Nam trực

tiếp tham gia vào quá trình đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựngđội ngũ chuyên gia, những nhà khoa học đáp ứng yêu cầu về chất lượng laođộng của nền kinh tế - xã hội và yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nướctheo định hướng xã hội chủ nghĩa Cùng với đó, trí thức GDĐH Việt Namcũng trực tiếp thực hiện việc bồi dưỡng và gây dựng các tài năng khoa học,hình thành và phát triển ở thế hệ trẻ những nhân cách sáng tạo, trung thực, cóhoài bão lớn, có bản lĩnh chính trị, bản lĩnh khoa học vững vàng đủ sức tạođộng lực trực tiếp cho quá trình CNH, HĐH đất nước

Bốn là, trí thức GDĐH Việt Nam góp phần nâng cao tiềm lực khoa học

- công nghệ quốc gia Với trình độ học vấn cao, chuyên môn sâu, đội ngũ tríthức GDĐH ở nước ta phải đóng vai trò động lực thúc đẩy việc nâng cao tiềmlực khoa học - công nghệ bằng nỗ lực khai sáng, quảng bá thông tin, tri thức,thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ trong nhân dân và đời sống xã hội

Họ là lực lượng tiên phong và có sức ảnh hưởng lớn đến đổi mới tư duy, xâydựng phong cách tư duy khoa học nâng cao năng lực trí tuệ của con người đểlàm chủ được những công nghệ tiên tiến của thế giới, khai thác nó một cách hợp

lý và hữu ích vào việc tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy tiến bộ xã hội, từng bướcphát triển lý luận, gây dựng nền khoa học - công nghệ tiên tiến của nước nhà

Trang 37

Năm là, trí thức GDĐH Việt Nam là lực lượng đem tài năng sáng tạo,

nhiệt huyết, trách nhiệm của mình vào việc xây dựng các luận cứ khoa họclàm cơ sở cho việc hoạch định đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước,đặc biệt là các chính sách giáo dục đại học, phát triển và chuyển giao khoahọc - công nghệ

2.1.3 Quan niệm về lao động của trí thức giáo dục đại học

Ph.Ăngghen khẳng định, “lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên củatoàn bộ đời sống loài người” [98, tr.641] Qua đó, “con người nhân đôi mìnhkhông chỉ về mặt trí tuệ như xảy ra trong ý thức nữa, mà còn nhân đôi mìnhmột cách hiện thực, một cách tích cực và con người ngắm nhìn mình trong thếgiới do mình sáng tạo ra” [99, tr.282] Lao động theo nghĩa chung nhất,

“trước hết là một quá trình diễn ra giữa con người và tự nhiên, một quá trìnhtrong đó bằng hoạt động của chính mình, con người làm trung gian điều tiết

và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ với tự nhiên” [95, tr 230]

Xét về bản chất, “lao động là một hoạt động tích cực và sáng tạo” [100,tr.119] Bằng cách sử dụng công cụ và các tư liệu lao động tác động lên đốitượng lao động để biến đổi nó thì con người đồng thời cũng biến đổi chínhbản thân mình, phát triển những khả năng, mở rộng và làm phong phú thêmkiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo trong lao động, trong hoạt động sốngmột cách tích cực, sáng tạo Chính vì vậy, quá trình lao động luôn chứa đựngtrong nó và được thể hiện ra ngoài như là quá trình tự biểu hiện, tự khẳngđịnh của cá nhân Xét đến cùng, “lao động - đó là địa hạt cơ bản của quyềncon người, quyền công dân” [12, tr.198] và lẽ dĩ nhiên, đó phải là lao động tựgiác, làm chủ, lao động cho mình và cho xã hội

Tiếp cận lao động của trí thức GDĐH theo những phương diện nêutrên, cần xem đó là quá trình tác động có mục đích của nhà giáo đến đốitượng người học nhằm đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực chấtlượng cao Tham gia lao động như một chủ thể sáng tạo, trí thức GDĐH phải

sử dụng linh hoạt những phương pháp, kỹ năng sư phạm, kỹ năng nghiên cứu

để khai thác, tìm tòi, khảo nghiệm những tri thức khoa học; để ứng dụng và

Trang 38

chuyển giao những thành tựu khoa học công nghệ; để giáo dục và tạo ra sựbiến đổi nhất định ở đối tượng người học theo chiều hướng tích cực; để tổchức, quản lý hoạt động giáo dục một cách có hiệu quả Thông qua hoạt độnglao động này, trí thức GDĐH cũng dần phát triển, hoàn thiện chính bản thânmình Ở đó, “trình độ chín muồi của nhân cách, của tư tưởng, trình độ đạođức và văn hóa” [7, tr.22] của trí thức GDĐH có thể tìm thấy những biểu hiệnđích thực và được bồi dưỡng, rèn rũa trong lao động nghề nghiệp.

Lao động của trí thức GDĐH cần được nhìn nhận trên các bình diệnchủ yếu sau:

Thứ nhất, với ý nghĩa là một công việc, lao động của trí thức GDĐH là

hoạt động lao động nghề nghiệp chuyên môn - giáo dục và đào tạo ở bậc đạihọc mà đặc trưng nổi bật là hoạt động khoa học sư phạm, là truyền thụ họcvấn, đào tạo hướng nghiệp và đào tạo con người Bản thân những hoạt động

ấy đã chứa đựng các yêu cầu khắt khe về sự tỉ mỉ, cẩn thận, công phu, sángtạo giống như một loại hình nghệ thuật mà ở đó tính khoa học phải được tôntrọng và bảo đảm Trên cơ sở không ngừng tích lũy kinh nghiệm, tìm tòi, phátkiến, trí thức GDĐH tham gia vào quá trình truyền bá, chuyển giao chúng chocác thế hệ người học theo những cách thức riêng biệt nhưng tuyệt nhiênkhông phá vỡ hay phủ định nguyên tắc giáo dục ở bậc đại học Nhờ vậy, tríthức GDĐH cũng biểu hiện mình như một chủ thể tích cực, sáng tạo trong cơcấu xã hội - giai cấp nói chung và trong nhóm xã hội - nghề nghiệp nói riêng

Thứ hai, phù hợp và thống nhất với ý nghĩa lao động nói chung, lao động của trí thức GDĐH cũng cần được xem xét như một giá trị, như là

“nguồn gốc của những giá trị vật chất và tinh thần” [7, tr.22] Điều đó cónghĩa rằng, nó được đảm bảo bởi sự hao phí sức lao động trí óc với hàmlượng cao chất xám Sức lao động ấy được kết tinh trong sản phẩm lao động,tức người học với tư cách là kết quả trực tiếp nhất của hoạt động giảng dạy;các phát minh, sáng chế được ứng dụng trong thực tiễn với tư cách là sảnphẩm của NCKH; những chủ trương, chính sách phát triển đội ngũ, cácchương trình, kế hoạch hoạt động đào tạo với tư cách là kết quả của lao động

Trang 39

lãnh đạo, tổ chức, quản lý giáo dục ở bậc đại học Mỗi thành công trong giảngdạy hay mỗi đóng góp mới trong nghiên cứu cũng như trong hoạt động lãnhđạo, quản lý của trí thức GDĐH đều góp phần xây dựng tiềm lực trí tuệ chodân tộc và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội của đất nước.

Thứ ba, tiếp cận lao động của trí thức GDĐH trên bình diện chức năng,

có thể xem dạy chữ - dạy người - dạy nghề là ba hoạt động thống nhất trongquá trình đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho sự phát triểnkinh tế - xã hội của đất nước Chức năng ấy lại được biểu hiện cụ thể thôngqua hoạt động giảng dạy; NCKH, ứng dụng và chuyển giao công nghệ; lãnhđạo, quản lý giáo dục Phần lớn trí thức GDĐH là giảng viên nên họ tham giahoạt động giảng dạy và NCKH là chủ yếu, ngoài ra một bộ phận trí thứcGDĐH trực tiếp đảm trách hoạt động lãnh đạo, quản lý giáo dục, thậm chímột số ít trí thức GDĐH còn thực hiện đồng thời ba nhiệm vụ nêu trên Với ý

nghĩa đó, lao động của trí thức GDĐH là lao động khoa học nhằm đào tạo và phát triển con người với mục tiêu hình thành con người xã hội, con người văn

hóa ở trình độ cao Lao động của trí thức GDĐH do đó sẽ phản ánh tập trungnhất vai trò và những đóng góp to lớn của đội ngũ này trong việc xây dựngtiềm lực trí tuệ cho đất nước Tính hướng đích vì con người với mục tiêu nhânvăn cao cả là xây dựng thế giới quan, nhân sinh quan tiến bộ, trang bị phươngpháp tư duy khoa học, khả năng làm việc độc lập, sáng tạo cho các thế hệngười học được trí thức GDĐH nhận thức và tự giác biểu hiện qua thực tiễn

lao động của chính mình Như vậy, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao

đáp ứng đòi hỏi của thời đại đang trở thành hệ giá trị và lý tưởng sống caođẹp của trí thức GDĐH Với trọng trách ấy, lao động của trí thức nhà giáo ởbậc đại học có giá trị sử dụng to lớn, nó mang lại hiệu quả cấp số nhân trongnền kinh tế, nhất là trong bối cảnh kinh tế tri thức đang phát triển sâu rộnghiện nay

Thứ tư, cần xem lao động của trí thức GDĐH, trước hết là lao động cá

nhân nhưng chính đặc thù nghề nghiệp đã mang lại và đòi hỏi một cáchnghiêm ngặt tính tập thể, tính phổ biến, tính tương tác và đồng thuận trong

Trang 40

cộng đồng trí thức GDĐH Trên thực tế, bản thân một người thầy không thểđơn phương tự tạo nên “sản phẩm” hoàn thiện thông qua một giờ giảng, mộthọc phần, trái lại, họ phải được tổ chức thành lực lượng thống nhất, đoàn kết,

có sự đồng thuận giữa các chủ thể trí thức GDĐH trong tập thể sư phạm Sựtác động trái chiều của đội ngũ trí thức GDĐH đến đối tượng người học sẽ tạonên những phản cảm khó tránh khỏi trong giáo dục Hơn nữa, không ở đâu,không khi nào, chỉ bằng hoạt động giáo dục một chiều từ phía nhà giáo mànhân cách người học được phát triển toàn diện, trái lại, nó phải là kết quả của

sự tương tác giữa thầy và trò Triết lý giáo dục giờ đây đòi hỏi rất cao tínhđồng thuận từ các chủ thể giáo dục Đó không chỉ là cơ sở, tiền đề mà đã trởthành yêu cầu cốt yếu và là ngọn nguồn sâu xa để có những tác động sư phạmcùng chiều đến đối tượng người học, để bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lựctheo những mục tiêu thống nhất

2.2 TÍNH ĐẶC THÙ CỦA LAO ĐỘNG TRÍ THỨC GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY

Với tư cách là một bộ phận của trí thức Việt Nam, trí thức GDĐH ởnước ta mang trong mình đầy đủ những tố chất cơ bản của người trí thức nóichung Ngoài ra, lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp đã quy định một số nét đặc

thù trong lao động của trí thức nhà giáo ở bậc đại học Đó vừa là tiêu chí lao động nghề nghiệp vừa như những đòi hỏi được đặt ra từ điều kiện của đổi mới, của đẩy mạnh CNH, HĐH, của hội nhập, mở cửa, của phát triển mạnh

mẽ kinh tế tri thức mà mỗi nhà giáo ở các cơ sở đào tạo đại học Việt Nam

phải đáp ứng một cách nghiêm túc Có thể kể đến những yêu cầu cơ bản sau:

2.2.1 Lao động của trí thức giáo dục đại học là lao động trí óc, sáng tạo

Lao động của trí thức GDĐH trước hết là lao động trí óc Dĩ nhiên,không có lao động trí óc nào lại tách rời tuyệt đối khỏi lao động chân tay,nhưng tính đặc thù trong lao động của họ biểu hiện ở việc thường xuyên phảihuy động trí lực, phát huy sức sáng tạo của tư duy, ở hàm lượng chất xám caokết tinh trong sản phẩm Lao động hao phí của trí thức GDĐH không chỉ đượctính đến sức lực cơ bắp mà quan trọng hơn và chủ yếu nhất vẫn là yếu tố trí

Ngày đăng: 11/07/2021, 08:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phương Anh (2013), “Giáo dục với việc hình thành và phát triển nhân cách sinh viên”, Báo Giáo dục và Thời đại, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục với việc hình thành và phát triển nhân cáchsinh viên”,"Báo Giáo dục và Thời đại
Tác giả: Phương Anh
Năm: 2013
2. Vũ Thị Phương Anh (2012), “Đảm bảo chất lượng giáo dục đại học ở Việt Nam với yêu cầu hội nhập”, http://ktmt.phpnet.us/accredit/DBCLGDDHD yeucauhoinhap.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảm bảo chất lượng giáo dục đại học ở ViệtNam với yêu cầu hội nhập”
Tác giả: Vũ Thị Phương Anh
Năm: 2012
3. Lê Hữu Ái, Lâm Bá Hòa (2010), “Giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay:Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng”, Tạp chí Triết học, (9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay:Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng”,"Tạp chí Triết học
Tác giả: Lê Hữu Ái, Lâm Bá Hòa
Năm: 2010
5. Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ (Bộ Nội vụ) (1995), Tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức bậc đại học, ban hành kèm theo Quyết định số: 538/ TCCP - BCTL ngày 18/12/1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiêu chuẩn nghiệp vụcác ngạch công chức bậc đại học
Tác giả: Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ (Bộ Nội vụ)
Năm: 1995
6. Ban Tổ chức Trung ương (2011), Hội thảo khoa học Công tác nhân tài ở Việt Nam - một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo khoa học Công tác nhân tài ởViệt Nam - một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Ban Tổ chức Trung ương
Năm: 2011
7. Hoàng Chí Bảo (1986), Sự hình thành thái độ lao động xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Luận án phó Tiến sĩ Triết học (Bản dịch từ tiếng Nga) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự hình thành thái độ lao động xã hội chủ nghĩa ởViệt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Năm: 1986
8. Hoàng Chí Bảo (2001), Toàn cầu hóa kinh tế và những tác động, ảnh hưởng của nó đối với giáo dục đào tạo ở nước ta, Tài liệu phục vụ giảng dạy chuyên đề, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn cầu hóa kinh tế và những tác động, ảnhhưởng của nó đối với giáo dục đào tạo ở nước ta
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Năm: 2001
9. Hoàng Chí Bảo (2006), Bản chất của hoạt động sáng tạo trong nghiên cứu khoa học, Tư liệu tham khảo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản chất của hoạt động sáng tạo trong nghiên cứukhoa học
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Năm: 2006
10. Hoàng Chí Bảo (2007), Thái độ và trách nhiệm của đội ngũ trí thức Việt Nam trong sự nghiệp phát triển đất nước, Tài liệu tham khảo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thái độ và trách nhiệm của đội ngũ trí thức ViệtNam trong sự nghiệp phát triển đất nước
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Năm: 2007
11. Hoàng Chí Bảo (2011), “Xây dựng đội ngũ chuyên gia và sử dụng chuyên gia”, Tạp chí Phát triển nhân lực (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng đội ngũ chuyên gia và sử dụng chuyêngia”,"Tạp chí Phát triển nhân lực
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Năm: 2011
12. Hoàng Chí Bảo (2012), Giá trị bền vững và sức sống của chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa xã hội khoa học, Nxb Chính trị quốc gia, H à Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị bền vững và sức sống của chủ nghĩa Mác -Lênin và chủ nghĩa xã hội khoa học
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2012
13. Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Khắc Hưng (2004), Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai - vấn đề và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Việt Nam hướngtới tương lai - vấn đề và giải pháp
Tác giả: Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Khắc Hưng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
14. Nguyễn Quốc Bảo, Đoàn Thị Lịch (1998), Trí thức trong công cuộc đổi mới đất nước, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trí thức trong công cuộc đổimới đất nước
Tác giả: Nguyễn Quốc Bảo, Đoàn Thị Lịch
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 1998
15. Trần Xuân Bách (2010), Đánh giá giảng viên đại học theo hướng chuẩn hóa trong giai đoạn hiện nay, Luận án tiến sĩ Quản lý giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá giảng viên đại học theo hướng chuẩn hóatrong giai đoạn hiện nay
Tác giả: Trần Xuân Bách
Năm: 2010
166. Website: http://thanhnien.com.vn/Giaoduc/2005/7/21/116449.tno,20-7-2005 Link
168. Website: http://www.tienphong.vn/tianyon/Index.aspx?ArticleID=27193& channeIID=4 Link
169. Website:http://webcache.googleusercontent.com/seach/q=cache:A9cto8NFTdYJ:vietbao.Vn/Giao-duc/Bao-cao-giam-sat-doi-ngu-nha-giao-nha-quan-ly-giao-duc Link
170. Website:http://giaoduc.net.vn/Giao-duc-24h/khung-hoang-giao-duc-dai-hoc-Viet- Nam-post127629.gd Link
171. Website:http://huc.edu.vn/chi-tiet/2241/Viet-Nam-tut-hau-50-nam-so-voi-Thai-Lan-ve-cong-bo-khoa-học.html Link
172. Website: http://dantri.com.vn/giao-duc-khuyen-hoc/hon-50-sinh-vien-khong-hung-thu-hoc-tap-252276.htm Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w