17 BÀI THU HOẠCH MÔN TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN SỰ VẬN DỤNG THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM MỞ ĐẦU Từ năm 1986, Việt Nam đã thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất[.]
Trang 1MÔN TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
SỰ VẬN DỤNG THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM
Trang 2MỞ ĐẦU
Từ năm 1986, Việt Nam đã thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Sau hơn 20 năm đổi mới, Việt Nam đạt được những thành tựu to lớn và
có ý nghĩa lịch sử “Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, có sự thay đổi cơ bản và toàn diện Kinh tế tăng trưởng khá nhanh; sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang đẩy mạnh. Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết dân tộc được củng cố và tăng cường Chính trị - xã hội
ổn định Quốc phòng và an ninh được giữ vững Vị thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao Sức mạnh tổng hợp của quốc gia đã tăng lên rất nhiều, tạo ra thế và lực mới cho đất nước tiếp tục đi lên với triển vọng tốt đẹp” Những thành tựu ấy có nhiều nguyên nhân, một trong những nguyên nhân là Đảng ta luôn quán triệt tốt sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong lãnh đạo sự nghiệp đổi mới
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng Lý luận mà không có liên hệ với thực tiễn là lý luận suông” Như vậy, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn theo Chủ tịch Hồ Chí Minh phải được hiểu trên tinh thần biện chứng: thực tiễn cần tới lý luận (khoa học) soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo, hướng dẫn, định hướng để không mắc phải bệnh kinh nghiệm, không rơi vào mò mẫm, vòng
vo, mù quáng mất thời gian Còn lý luận (khoa học) phải dựa trên cơ sở thực tiễn, nảy sinh từ thực tiễn, phản ánh thực tiễn, luôn liên hệ với thực tiễn và được bổ sung, hoàn thiện, phát triển thông qua tổng kết thực tiễn có lý luận nếu không sẽ mắc phải bệnh giáo điều Nghĩa là thực tiễn, lý luận cần đến nhau, nương tựa vào nhau, hậu thuẫn, bổ sung cho nhau Không có thực tiễn
Trang 3sẽ không có lý luận; ngược lại, không có lý luận thì thực tiễn sẽ mất phương hướng.
Đề tài “Sự vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam” sẽ làm rõ hơn sự vận dụng nguyên tắc
này trong điều kiện cụ thể tại Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới, đồng thời đưa ra một số bài học kinh nghiệm trong quá trình vận dụng nguyên tắc này
Trang 4NỘI DUNG
1 Một số khái niệm
1.1 Phạm trù thực tiễn
Kế thừa những yếu tố hợp lý và khắc phục những hạn chế trong quan niệm về thực tiễn của các nhà triết học trước đó trong lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đa ra một quan điểm đúng đắn, khoa học về thực tiễn cũng như vai trò của thực tiễn đối với nhận thức Với việc đưa phạm trù thực tiễn vào lý luận nhận thức, C.Mác và Ph.Ăngghen đã làm cho triết học của các ông hơn hẳn về chất so với toàn bộ các trường phái triết học khác
Theo quan điểm của triết học Mác-Lênin, thực tiễn là toàn bộ những
hoạt động vật chất - cảm tính, có tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội.
1.2 Phạm trù lý luận
Con người muốn cải tạo được thế giới cần phải có những hiểu biết về
nó, nhưng những hiểu biết ấy không có sẵn trong con người Muốn có hiểu biết (tri thức) con người phải tác động vào thế giới khách quan bằng và thông qua hoạt động thực tiễn Trên cơ sở đó, con người tích lũy được những tri thức kinh nghiệm Nhưng tri thức kinh nghiệm mới chỉ đem lại sự hiểu biết về từng mặt riêng lẻ, bề ngoài của sự vật Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: ‘‘Sự quan sát dựa vào kinh nghiệm tự nó không bao giờ có thể chứng minh được đầy đủ tính tất yếu’’1 Để hiểu được tính tất yếu, bản chất của sự vật, con người phải
khái quát những tri thức kinh nghiệm thành lý luận Hồ Chí Minh chỉ rõ: ‘‘Lý
luận là sự tổng kết kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về
tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử’’2 Lý luận được hình thành trên cơ sở khái quát kinh nghiệm thực tiễn, nhưng không phải cứ có
1 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, NxbCTQG,H.1994, tập 20, tr 718.
2 Hồ Chí Minh: Toàn tập, NxbCTQG,H.1996, tập 8, tr.497.
Trang 5kinh nghiệm thực tiễn là có được lý luận Lý luận được hình thành thông qua hoạt động tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, khái quát lý luận của các nhà lý luận Vì vậy, lý luận không thể ra đời một cách tự phát và luôn luôn phải đ-ược bổ sung, hoàn thiện, phát triển bằng tổng kết những kinh nghiệm thực tiễn mới, phong phú bởi các nhà lý luận Do tính độc lập tương đối của mình,
lý luận có thể phản ánh vượt trước các dữ liệu thực tiễn Nhưng xét đến cùng,
lý luận không thể không dựa trên cơ sở của kinh nghiệm thực tiễn
Như vậy, có thể hiểu lý luận khoa học là hệ thống những tri thức được khái quát từ kinh nghiệm thực tiễn, phản ánh những mối liên hệ bản chất, tất nhiên, mang tính quy luật của các sự vật, hiện tượng được biểu đạt bằng hệ thống nguyên lý, quy luật, phạm trù
1.3 Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
Thực tiễn đúng đắn luôn phải được chỉ đạo, soi đường, dẫn dắt bởi một
lý luận khoa học, đúng đắn, nếu không thực tiễn đó sẽ là thực tiễn mù quáng,
mò mẫm, mất phương hướng, không có tính hướng đích Đúng như Chủ tịch
Hồ Chí Minh thường nhắc nhở: “Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng ”3 Bởi lẽ, lý luận khoa học có vai trò to lớn đối với thực tiễn Điều này thể hiện ở những điểm sau:
Thứ nhất, lý luận đóng vai trò soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo thực tiễn.
Nhờ những đặc trưng ưu trội so với tri thức kinh nghiệm mà lý luận có vai trò hết sức to lớn đối với hoạt động thực tiễn của con người Lý luận khoa học, thông qua hoạt động thực tiễn của con người góp phần làm biến đỏi thế giới khách quan và biến đổi chính thực tiễn Lý luận khoa học vạch ra phương hướng, phương pháp cho hoạt động thực tiễn, nhằm biến đổi hiện thực khách quan theo hướng tiến bộ vì lợi ích của con người Nếu thực tiễn không được chỉ đạo, soi đường, dẫn dắt bởi lý luận khoa học thì thực tiễn đó sẽ rơi vào mò
3 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG,H.1996, tập 8, tr.496
Trang 6mẫm, vòng vo, mất thời gian, tốn công sức, tiền của, không hiệu quả.
Thứ hai, lý luận khoa học góp phần giáo dục, thuyết phục, động viên,
tập hợp quần chúng để tạo thành phong trào hoạt động thực tiễn rộng lớn của đông đảo quần chúng Lý luận khoa học góp phần định hướng cho quần chúng trong cuộc sống và trong hoạt động thực tiễn Do vậy, khi lý luận khoa học thâm nhập được vào đông đảo quần chúng sẽ tạo thành sức mạnh vật chất
vĩ đại Trên cơ sở đó tạo thành khối thống nhất giữa lý luận và quần chúng để cải tạo tự nhiên và xã hội phục vụ con người
Thứ ba, lý luận, nếu phản ánh đúng quy luật vận động, phát triển của sự
vật, của thực tiễn sẽ góp phần dự báo, định hướng đúng đắn cho hoạt động thực tiễn; giúp cho hoạt động thực tiễn bớt mò mẫm, vòng vo, chủ động, tự giác hơn
Thứ tư, lý luận khoa học cung cấp cho con người những tri thức khoa
học về tự nhiên, xã hội và về bản thân con người Trên cơ sở những tri thức khoa học đó, con người có thể thông qua hoạt động thực tiễn làm biến đổi tự nhiên, xã hội và bản thân phục cho mục đích của mình
Thứ năm, lý luận có tính độc lập tương đối so với thực tiễn, do vậy nó
có thể thông qua hoạt động thực tiễn tác động trở lại thực tiễn, góp phần làm biến đổi thực tiễn Lý luận có vai trò tác động tích cực đối với thực tiễn, một khi nó phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan, thâm nhập được vào đông đảo quần chúng nhân dân và được con người vận dụng nó một cách sáng tạo, linh hoạt, phù hợp điều kiện thực tiễn, lịch sử - cụ thể Nếu lý luận sai lầm, ảo tưởng, chủ quan, duy ý chí, giáo điều, kinh nghiệm v.v sẽ tác động tiêu cực trở lại đối với thực tiễn
2 Sự vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam
Trang 7Trong quá trình lãnh đạo nhân dân ta xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng
ta luôn chú trọng việc vận dụng sáng tạo nguyên tắc thống nhất giữa lý luận
và thực tiễn của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để phát triển lý luận, đặc biệt là lý luận về chủ nghĩa xã hội Điều này thể hiện rõ nét ở những điểm sau:
Trước hết, Đảng tăng cường tổng kết thực tiễn để phát triển lý luận về
chủ nghĩa xã hội Tổng kết thực tiễn quá trình đổi mới, Đảng ta đã có những phát triển vượt bậc lý luận về chủ nghĩa xã hội Tiểu biểu là một số vấn đề lý
luận sau:
Một là, phát triển lý luận về chủ nghĩa xã hội Đường lối đổi mới do
Đại hội VI của Đảng khởi xướng là thành quả to lớn đầu tiên của quá trình đổi mới tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội Đường lối đổi mới này cũng đồng thời cũng đánh dấu bước đột phá trong phát triển lý luận về chủ nghĩa xã hội của Đảng ta Đại hội VII đánh dấu mốc quan trọng trong phát triển lý luận của Đảng về CNXH Trên cơ sở tổng kết thực tiễn 5 năm đổi mới, Đại hội VII đã
thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội(1991) Trong Cương lĩnh (1991), câu hỏi “xã hội xã hội chủ nghĩa mà
nhân dân ta xây dựng” là một xã hội như thế nào? lần đầu tiên đã được trả lời
một cách hệ thống Cương lĩnh (1991) đã đề cập tới sáu đặc trưng của chủ
nghĩa xã hội mà nhân dân ta xây dựng Đó là xã hội do nhân dân lao động làm chủ; có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân; các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới4 Tổng kết 20 năm đổi mới,
4 Xem thêm: Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, NxbST,H.1991;
tr.111
Trang 8tham khảo kinh nghiệm của bạn bè quốc tế, rút kinh nghiệm từ những bài học của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa đông Âu, đến Đại hội X, Đảng ta
đã có bước phát triển quan trọng trong quan niệm về chủ nghĩa xã hội Nội hàm của khái niệm xã hội xã hội chủ nghĩa đã được Đại hội X nêu cụ thể hơn với tám đặc trưng: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một
xã hội dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển toàn diện; các dân tộc trong công đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản;
có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới”5 Trong
Cương lĩnh (Bổ sung, phát triển 2011) được thông qua tại Đại hội XI của
Đảng, quan niệm về xã hội xã hội chủ nghĩa đã được hoàn thiện hơn một
bước: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là xã hội: Dân giàu,
nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh
tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến
bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới”6
Hai là, về phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội Cương lĩnh
(1991) đề ra bẩy phương hướng cơ bản để xây dựng chủ nghĩa xã hội Nội
5 Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG , H.2006; tr.68.
6 Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NxbCTQG,H.2011; tr.70.
Trang 9dung chủ yếu của bẩy phương hướng đó là: Xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa, của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, lấy liên minh công nông -trí làm nền tảng, do Đảng Cộng sản lãnh đạo; thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân, giữ nghiêm kỷ cương xã hội, chuyên chính với mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân Phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hóa đất nước theo hướng hiện đại gắn liền với phát triển nông nghiệp toàn diện Từng bước thiết lập quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa từ thấp đến cao với sự đa dạng về hình thức sở hữu; phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa; kinh tế quốc doanh
và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân; thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu Tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa làm cho thế giới quan Mác - Lênin, tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh giữ vị trí chỉ đạo trong đời sống tinh thần xã hội; kế thừa và phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước, tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, chống tư tưởng, văn hóa phản tiến
bộ, trái với những truyền thống tốt đẹp của dân tộc và những giá trị cao quý của loài người, trái với phương hướng đi lên chủ nghĩa xã hội.Thực hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, củng cố và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất, tập hợp mọi lực lượng phấn đấu vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, thực hiện chính sách đối ngoại hòa bình, hợp tác và hữu nghị với tất cả các nước; trung thành với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, đoàn kết với các nước xã hội chủ nghĩa, với tất cả các lực lượng đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới Nâng cao cảnh giác, củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Tổ quốc và các thành quả cách mạng Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về
Trang 10chính trị, tư tưởng và tổ chức ngang tầm nhiệm vụ, bảo đảm cho Đảng làm tròn trách nhiệm lãnh đạo sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta7
Ba là, phát triển lý luận về quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư
bản chủ nghĩa Trước đổi mới, Đảng ta xác định quá độ lên chủ nghĩa xã hội
ở nước ta là sự “quá độ gián tiếp”, nghĩa là “bỏ qua giai đoạn phát triển tư
bản chủ nghĩa” Trong Cương lĩnh (1991) đã sử dụng cụm từ “bỏ qua chế độ
tư bản” và xác định: “Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản từ một xã hội thuộc địa, nửa phong kiến, lực lượng sản xuất rất thấp”8
Đến Đại hội IX, Đảng ta đã phát triển luận điểm này cụ thể hơn: “Con đường đi lên của nước ta là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và công nghệ để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại”9 Cương lĩnh (Bổ sung, phát triển 2011) chỉ rõ,
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội “là một qúa trình cách mạng sâu sắc, triệt
để, đấu tranh phức tạp giữa cái cũ và cái mới nhằm tạo ra sự biến đổi về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất thiết phải trải qua một thời
kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước phát triển, nhiều hình thức tổ chức kinh tế,
xã hội đan xen”10 Đây là bước phát triển quan trọng của lý luận về con đường lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa của Đảng ta
Bốn là, hình thành và phát triển lý luận về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đại hội VI của Đảng xác định nền kinh tế có cơ cấu
nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ Đại hội VII xác định,
7 Xem Đảng Cộng sản Việt Nam Cương lĩnh xây dựng đất nớc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội,
NxbST,H.1991; tr11-13.
8Đảng Cộng sản Việt Nam Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội,
NxbST,H.1991; tr.8
9Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NxbCTQG,H.2001; tr.84
10 Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NxbCTQG,H.2011; tr.70.