1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

TƯ TƯỞNG CẢI CÁCH CỦA ĐẶNG HUY TRỨ LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

81 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 801,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tư tưởng cải cách của ông không dừng lại ở việc tấu trình, thưa tâu như một số nhà tư tưởng cùng thời, khi mọi điều trần chỉ được đưa dâng đến vua Tự Đức, tư tưởng cải cách của Đặng Huy

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN TẤN TÀI

TƯ TƯỞNG CẢI CÁCH CỦA ĐẶNG HUY TRỨ

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Hà Nội, năm 2021

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của

riêng tôi Với sự hướng dẫn của PGS.TS Lê Thị Lan theo quyết định số

3295/QĐ-HVKHXH của Viện Hàn Lâm Khoa Học Xã Hội Việt Nam - Học

Viện Khoa Học Xã Hội Các tài liệu sử dụng phân tích trong luận văn có

nguồn gốc rõ ràng, đã công bố theo đúng quy định Các kết quả nghiên cứu

trong luận văn do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan

và phù hợp với thực tiễn của Việt Nam Luận văn “Tư tưởng cải cách của

Đặng Huy Trứ” của tôi chưa từng được công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào

khác

Chữ kí của tác giả

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: 13

ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CẢI CÁCH CỦA ĐẶNG HUY TRỨ 13

1.1 BỐI CẢNH THẾ GIỚI NỬA CUỐI THẾ KỶ XIX 13

1.2 BỐI CẢNH VIỆT NAM NỬA CUỐI THẾ KỶ XIX 19

1.3 SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CẢI CÁCH CỦA ĐẶNG HUY TRỨ 24

1.3.1 Điều Kiện, Tiền Đề Hình Thành Tư Tưởng Cải Cách Đặng Huy Trứ 24

1.3.2 Cuộc Đời, Sự Nghiệp Và Sự Hình Thành Tư Tưởng Cải Cách Của Đặng Huy Trứ 32 TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 35

Chương 2: 37

NHỮNG NỘI DUNG TRONG TƯ TƯỞNG CẢI CÁCH CỦA ĐẶNG HUY TRỨ 37

2.1 TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI TIẾN BỘ CỦA ĐẶNG HUY TRỨ 37

2.1.1 Tư tưởng thương dân - Mối quan hệ giữa dân và quan 37

2.1.2 Đạo làm quan 39

2.1.3 Tư tưởng bảo vệ đạo đức thanh liêm của người làm quan 42

2.2 TƯ TƯỞNG CẢI CÁCH CỦA ĐẶNG HUY TRỨ VỀ KINH TẾ XÂY DỰNG CON ĐƯỜNG TỰ CƯỜNG, TỰ TRỊ CHO DÂN TỘC 44

2.2.1 Phát triển thương nghiệp làm ra của cải là một việc lớn 44

2.2.2 Tư tưởng tự lực, tự cường xây dựng đất nước 46

2.2.3 Phải học hỏi, tiếp thu công nghệ khoa học kĩ thuật 48

2.2.4 Tư tưởng cải cách giáo dục Nho học của Đặng Huy Trứ 50

2.2.5 Cải cách văn hóa bằng việc phê phán bài trừ hủ tục truyền thống và thói hư tật xấu trong nhân dân 51

2.3 TƯ TƯỞNG CẢI CÁCH CỦA ĐẶNG HUY TRỨ VỀ QUÂN SỰ 54

2.3.1 Những nội dung cơ bản trong tư tưởng cải cách quân sự của Đặng Huy Trứ 54

Trang 5

2.3.2 Chiến tranh nhân dân là huyết mạch quyết định sự an nguy của đất nước 56

2.3.3 Biên soạn, sưu tầm và in ấn phát hành binh thư lưu truyền cho hậu thế 58

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 59

Chương 3: 60

GIÁ TRỊ TƯ TƯỞNG CẢI CÁCH CỦA ĐẶNG HUY TRỨ VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆT NAM HIỆN NAY 60

3.1 GIÁ TRỊ TƯ TƯỞNG CẢI CÁCH CỦA ĐẶNG HUY TRỨ ĐỐI VỚI TRIỀU ĐÌNH NHÀ NGUYỄN 60

3.2 GIÁ TRỊ TƯ TƯỞNG TƯ TƯỞNG CẢI CÁCH ĐẶNG HUY TRỨ ĐỐI VỚI PHONG TRÀO CẢI CÁCH ĐẤT NƯỚC NỬA CUỐI THẾ KỶ XIX 61

3.3 Ý NGHĨA TƯ TƯỞNG CẢI CÁCH CỦA ĐẶNG HUY TRỨ ĐỐI VỚI VIỆT NAM HIỆN NAY 62

3.3.1 Một vài chủ đề trong cải cách Việt Nam hiện nay 62

3.3.2 Ý nghĩa của tư tưởng cải cách của Đặng Huy Trứ đối với hiện nay 68

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 70

KẾT LUẬN 71

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

“Cải cách” hay “đổi mới” là những từ ngữ dùng để chỉ sự thay đổi trước

những điều kiện mới xảy đến mà không làm thay đổi mất bản chất sự vật hiện tượng

đó, mang ý nghĩa tích cực “Cải cách” là hoạt động thường xuyên diễn ra một cách

tự giác trong bất kể lịch sử của dân tộc nào, quốc gia nào Dù muốn dù không, để phát triển thì cải cách diễn ra là thường xuyên dù trong phạm vi lớn như nhân loại hay chỉ ở mỗi chủ thể cá nhân Ở tầm quốc gia việc cải cách hay đổi mới phải thực hiện như là một quy luật tất yếu mà mỗi thời đại đều có Trong từng thời kỳ lịch sử Việt Nam, trong mỗi bối cảnh khác nhau của thực tiễn luôn đòi hỏi cấp thiết một nhu cầu cải cách phù hợp với thực tiễn đó Vào thời gian nửa đầu thế kỷ XIX, thực tiễn xã hội Việt Nam trước muôn vàng thách thức vừa phải hứng chịu sự đói khổ trì trệ với sự cai trị của triều đình nhà Nguyễn, vừa phải lầm than trước nạn xâm lăng của thực dân Tây phương uy lực dũng mãnh Hệ tư tưởng Nho giáo lỗi thời đã không còn phù hợp, đời sống bế tắc mọi mặt từ kinh tế, chính trị, đến loạn lạc xã hội Trong lúc bấy giờ thì nhiều quan thần, sĩ phu yêu nước đã dấy lên tư tưởng cải cách, canh tân đất nước như Phạm Phú Thứ, Trần Đình Túc, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch Một trong số các tư tưởng cải cách có sức ảnh hưởng sâu sắc

và giá trị nhất cần nghiên cứu đó là tư tưởng cải cách của Đặng Huy Trứ Những tư tưởng cải cách của ông được đánh giá là toàn diện ở tất cả các mặt từ kinh tế, chính trị, xã hội, quân sự, khoa học Tư tưởng cải cách của ông không dừng lại ở việc tấu trình, thưa tâu như một số nhà tư tưởng cùng thời, khi mọi điều trần chỉ được đưa dâng đến vua Tự Đức, tư tưởng cải cách của Đặng Huy Trứ được đánh giá là bước tiến bộ khi các tư tưởng của ông được chính ông thực thi vào thực tiễn xã hội đương thời để góp phần xây dựng đất nước tự cường, tự trị đấu tranh bảo vệ dân tộc chống giặc Pháp xâm lăng Cho đến thời điểm hiện tại các giá trị trong tư tưởng cải cách của Ông vẫn còn nguyên vẹn giá trị to lớn với dân tộc ta

Khi xu hướng tự lực tự cường vẫn là sự chọn lựa bất khả kháng ở các quốc gia để tồn tại và phát triển thì các tư tưởng cải cách, canh tân ở những thời đại trước

Trang 7

là cần thiết để nghiên cứu, không chỉ có thể kịp thời áp dụng để giải quyết các vấn

đề thời đại đặt ra trước mắt, mà còn có thể nắm bắt được cơ hội để phát triển đất nước thời đại bấy giờ

Việc nghiên cứu “Tư tưởng cải cách của Đặng Huy Trứ” là để tìm tòi áp dụng các giá trị tư tưởng cải cách còn nguyên giá trị vào hiện thực Việt Nam lúc bấy giờ Có thể thấy trước thực tiễn thời đại vô cùng khác trong lịch sử nhân loại nói chung cũng như lịch sử Việt Nam nói riêng và chuyển biến khó lường, thì bất kể

tư tưởng cải cách, đổi mới nào cũng cần thiết suy tư đến mà cân nhắc áp dụng Lịch

sử Việt Nam có nhiền biến cố, trải qua mỗi biến cố dân tộc ta dường như mạnh mẽ

và bất diệt hơn Đó là nhờ vào tinh thần kế thừa đúc kết, tinh thần cải cách đổi mới sáng tạo dù ở bất kể hoàn cảnh thời thế thế nào thì cũng có cách để vượt qua

Với mục đích “Ôn cố tri tân” đề tài luận văn “Tư tưởng cải cách của Đặng

Huy Trứ” được thực hiện với mong muốn trước hết là tìm tòi, phân tích và góp chút

đánh giá về mặt giá trị của tư tưởng trong từng mặt cải cách của ông đối với thực tiễn xã hội nửa cuối thế kỷ XIX Đồng thời, luận văn cũng nhằm triển khai, liên kết các vấn đề cải cách và giá trị tư tưởng cải cách đó cho Việt Nam ở giai đoạn hiện tại Chúng ta không thể phủ nhận được việc cải cách hay đổi mới ở bất kì giai đoạn nào đi chăng nữa, nhất là các vấn đề trong kinh tế, chính trị, xã hội mà Đặng Huy Trứ hay một vài tư tưởng canh tân đã gặp phải, đã trăn trở bâng khuâng thì ngày nay nó vẫn hiển nhiên hiện ra đầy thách thức: trong cuộc chiến về kinh tế, hay phòng chống tệ nạn tham nhũng, quan liêu, cách thức đổi mới giáo dục Những

mong muốn trên chính là lý do để tôi chọn “Tư tưởng cải cách của Đặng Huy Trứ”

làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ triết học của mình

2 Tổng quan nghiên cứu đề tài

2.1 Các công trình nghiên cứu về con người và tác phẩm của Đặng Huy Trứ

Trong các công trình nghiên cứu về Đặng Huy Trứ, đầu tiên phải kể đến đó

công trình có quy mô và mang tầm giá trị lớn là “Đặng Huy Trứ con người và tác

phẩm”, được nhóm Trà Lĩnh sưu tập và khảo cứu, được xuất bản lần đầu năm 1990

Trang 8

nhân dịp kỷ niệm 165 ngày sinh của Đặng Huy Trứ (1825 - 1990) Công trình là một bộ sưu tập đồ sộ gồm 562 trang, có tất cả 11 chương đi sâu vào tiểu sử và di thảo của Ông, cung cấp những tư liệu quan trọng về tư tưởng của Đặng Huy Trứ thông qua các bài thơ, bài văn, câu đối được ông viết từ tuổi 15 cho đến khi ông qua đời Gồm các chương chính:

Chương I: TUỔI THƠ (1840) Gồm 11 tác phẩm (từ trang 59 đến trang 70),

đán chú ý là những bài như: “Con nhà giàu có kẻ đánh mắng kẻ ăn người ở”,

“Thấy ông lão vác than”

Chương II: Ở QUÊ (1843) Gồm 33 tác phẩm (từ trang 71 đến trang 105)

Tựa đề các bài nổi bật như là: “Trời tạnh mò hến”, “Ông già đan đồ trẻ”, “ Người

đàn bà chăn tầm”, “ Mùa lụt đánh cá”, “ Khoai lang đỡ đói”, “ Bà vú nuôi trẻ”, “ Làng Hiền sĩ mở rừng”, “ Mụ rí gọi hồn”,

Chương III: ĐI DẠY HỌC (1847-1856) Gồm 26 tác phẩm (từ trang 107 đến

148) Những nhan đề: “Cáo thị trường tư thục Thanh Hương”, “Trong khi ốm bảo

học trò”,

Chương IV: BƯỚC ĐẦU RA LÀM QUAN (1856-1860) Gồm 47 tác phẩm (từ trang 149 đến 214), thể hiện rõ những tư tưởng chính trị-xã hội của Đặng Huy

Trứ, với một số bài tiêu biểu như: “Đi quân thứ Đà Nẵng”, “Miếng ăn gian nan”,

“Đuổi kẻ đến nhà riêng”, “ Theo hầu bố Chánh Hoàng Kế Viêm đi thử pháo”,

“Nghe tin bọn Tây qua lại Bến Triều”, “ Quân tử không ăn không”,

Chương V: LÀM NGỰ SỬ (1861-1864) Gồm 27 tác phẩm (từ trang 215

đến trang 252) Những bài như: “Sắp làm sớ tố giác”, “Cáo thần, phật”, “Sung

làm phó Đổng lý thanh tra Vũ khố”, “Mong tin vui Sứ bộ đi Tây”, “Mong người hiền như khát nước”,

Chương VI: LÀM BỐ CHÁNH QUẢNG NAM (1864-1865) Gồm 20 tác

phẩm (từ trang 255 đến trang 290) Có những bài như: “Đi lĩnh chức Bố Chánh

Quảng Nam”, “Mới đến nhậm chức xin bổ nhiệm và miễn nhiệm một vài vị quan”,

“Trách Mình”, “Cứu nạn dân, tình hình đã khá”, “Mười bài “tự răn””,

Trang 9

Chương VII: ĐI SỨ LẦN NHẤT (1865) Gồm 40 tác phẩm (từ trang 301

đến trang 353), thể hiện các tư tưởng cải cách với một số bài nổi bật như: “Được

lệnh đi Quảng Đông”, “Qua Hải Nam”, “Trông thấy tàu bọn Tây”, “Tự đề ảnh mặc triều phục”, “Nước ta mới đóng chiếc tàu lớn chạy bằng máy”,

Chương VIII: LÀM BÌNH CHUẨN, Ở HÀ NỘI (1866-1867) Gồm 35 tác phẩm ( từ trang 355 đến trang 402), thể hiện rõ xu hướng tư tưởng cải cách các mặt

kinh tế, quân sự, giáo dục của Đặng Huy Trứ với một số bài quan trọng như: “Khai

trương công việc Bình Chuẩn”, “Họa thơ Hoàng Kế Viêm xem xong “Truyện các danh tướng” trả lời”, “Chỉnh lại cân, thước”, “Dặn bảo các người giúp việc”,

“Dặn bảo chủ sự Trần Trung Đích”, “Dặn bảo tiểu lại”, “Nhân mở chi điếm Lạc Đức”, “Nhân mở chi điếm Lạc Thanh”,

Chương IX: ĐI SỨ LẦN HAI (1867-1868) Gồm 55 tác phẩm (từ trang 405 đến trang 490), thể hiện sự hoàn chỉnh, chín muồi trong tư tưởng cải cách của Đặng

Huy Trứ, gồm một số bài tiêu biểu như: “Nhớ các đồng chí nước Nam”, “Tâm sự

khi ốm”, “Trong khi ốm được Dã Trì chủ nhân chỉ giáo”, “Tựa sách “Nguyên tắc chủ yếu của việc không nhận và nhận biếu”, “Tựa sách Đặng Dịch Trai ngôn hành lục”,

Chương X: LÀM KHÂM PHÁI QUÂN VỤ Ở BẮC KỲ (1869) Gồm 15 tác phẩm (từ trang 491 đến trang 511), chủ yếu thể hiện tư tưởng cải cách kinh tế, quân

sự của Đặng Huy Trứ với các tác phẩm tiêu biểu như: “Hiệu ảnh Cảm Hiếu

Đường”, “Tựa bản chữ mẫu“5 điều răn””, “Thư dâng Tổng đốc An - Tĩnh Hoàng

Kế Viêm”, “Khắc lại cuốn binh thư “Kim thang thập nhị trù””, “Tựa sách “Kỷ sự tân biên””, “Thư gửi Tổng đốc Thanh Hóa Tôn Thất Hành”

Chương XI: CÂU ĐỐI Gồm 3 mục (từ trang 515 đến trang 545): các câu đối, câu thơ đáng ghi nhớ, người đương thời viết về Đặng Huy Trứ và phần Niên biểu

Công trình đã cho thấy những tâm tư tình cảm của Đặng Huy Trứ dành cho nhân dân, những bâng khuâng trăn trở suy tư cho vận hạn đất nước, những lần ông sang Tây được học hỏi kinh nghiệm mở mang tầm nhìn, và khát khao nung nấu ý

Trang 10

chí tìm tòi con đường cải cách canh tân đất nước, những lần ông làm quan nhìn dân lầm than và đau lòng trước nạn tham nhũng cướp bóc quần chúng… Tác phẩm thực

sự có đóng góp to lớn trong vai trò là các tư liệu gốc, làm cơ sở để các công trình nghiên cứu về Đặng Huy Trứ tra cứu tham khảo

Trong công trình “Lịch sử tư tưởng Việt Nam” tập 2 của GS Lê Sỹ Thắng

kỷ niệm 35 năm thành lập Viện Triết học (1962-1997) được xuất bản tại Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội năm 1997 đã lần đầu tiên đưa tên tuổi Đặng Huy Trứ vào danh sách các nhà tư tưởng cải cách ở Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX Trong phần

ba của công trình, nội dung chủ yếu trình bày, phân tích và đánh giá tư tưởng cải cách của các nhà tư tưởng cùng thời như: Phạm Phú Thứ, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch Tư tưởng của Đặng Huy Trứ được viết ở chương XV (từ trang

332 đến 353) Nội dung của phần viết tư tưởng Đặng Huy Trứ là: Cuộc đời và sự nghiệp của Đặng Huy Trứ, những tư tưởng cải cách đã được Đặng Huy Trứ thực thi, các quan niệm về đạo lý kinh doanh- việc làm ra của cải là đạo lớn không thể coi thường, xem xét mối quan hệ “lợi” và “đạo tâm”, quan niệm về cái “khổ” - có hai loại khổ: một là cái khổ chỉ quan hệ đến bản thân mình, một là cái khổ liên hệ đến xã tắc, triều đình, nhân dân thì cái khổ thứ hai ông mới xem là khổ được Công trình phân tích “cái nhục” trong quan niệm tư tưởng của Đặng Huy Trứ- cái nhục lớn nhất là “ không được như người” Bình luận những quan niệm cách thức đi du học nước ngoài của Đặng Huy Trứ…Việc nghiên cứu tư tưởng cả một thế kỷ với rất nhiều nhà tư tưởng tiêu biểu khác khiến tư tưởng Đặng Huy Trứ cũng không phải là vấn đề trọng tâm của công trình nghiên cứu Kết thúc công trình là sự đánh giá ca ngợi Đặng Huy Trứ là một nhà canh tân đất nước khi ông đã trực tiếp hoạt động cải

cách “không chỉ bằng văn tự mà còn bằng việc làm cụ thể ở tầm vĩ mô, ông đã góp

phần to lớn vào việc chọc thủng bóng đen của hệ tư tưởng phong kiến và mở đường cho tư tưởng và hoạt động canh tân của dân tộc ta hồi nửa cuối thế kỷ thứ XIX”

[23, tr 353]

Công trình tiếp theo đáng chú ý trong nghiên cứu về thân thế, sự nghiệp của Đặng Huy Trứ là cuốn “Cưỡi Sóng Đạp Gió” của tác giả Hoàng Công Khanh đã

Trang 11

xuất bản năm 2001 Đây không phải là một chuyên khảo khoa học thuần túy mà là một tác phẩm văn học Tuy nhiên, trong tác phẩm này, tác giả đã khai thác rất sâu các sự kiện lịch sử liên quan tới cuộc đời và sự nghiệp của Đặng Huy Trứ Tác phẩm đã trình bày rất chi tiết về cuộc đời và sự nghiệp của Đặng Huy Trứ từ khi đi học, đi thi cử và bị cấm thi trọn đời, dạy học cho con các quan, đỗ tiến sĩ làm quan,

đi sứ viễn Tây, chiến đấu bảo vệ đất nước Qua tác phẩm này, ta biết được Đặng Huy Trứ là người có lối sống chân thành, giàu tình cảm, giàu suy tư cho người khác Các đề xuất cải cách của ông trong tác phẩm được đề cập rất ít nhưng là những gì có thể làm được, phù hợp với điều kiện đất nước và nằm trong khả năng thực tế của ông Công trình tập trung vào cuộc đời và sự nghiệp nên việc khai phá sức mạnh của các tư tưởng cải cách của Đặng Huy trứ đối với thời đại và thực tiễn ngày nay cũng được giới hạn

2.2 Một số công trình tiêu biểu về tư tưởng của Đặng Huy Trứ

Đã có khá nhiều công trình khảo cứu về tư tưởng cải cách nói chung, tư

tưởng của Đặng Huy Trứ nói riêng Có thể kể đến công trình “Lịch sử tư tưởng triết

học Việt Nam- Từ thời kỳ dựng nước đến đầu thế kỷ XX” của PGS.TS Doãn Chính

Công trình được biên soạn và được Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - sự thật xuất bản năm 2013 Đây là một công trình đồ sộ có 659 trang cung cấp cái nhìn bao quất nhất về lịch sử tư tưởng Việt Nam từ thời kỳ dựng nước đến đầu thế kỷ XX Trong cuốn chuyên khảo này, tư tưởng của Đặng Huy Trứ đã được trình bày, phân tích ở

Chương 5: Tư tưởng triết học Việt Nam từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX Tư tưởng canh

tân của Đặng Huy Trứ được tác giả trình bày từ trang 562 đến trang 565, vỏn vẹn trong 3 trang tác giả đã trình bày khái quát nhất về cuộc đời, sự nghiệp, những tư tưởng nổi bật của Đặng Huy Trứ về chính trị, kinh tế, quân sự

Cùng xu hướng nghiên cứu về tư tưởng Đặng Huy Trứ, là chuyên khảo “Tư

tưởng triết học của Đặng Huy Trứ” của PGS.TS Cao Xuân Long Công trình được

Nhà xuất bản Chính trị Quốc Gia - Sự thật in ấn phát hành vào tháng 3 năm 2016 Công trình này tập trung tìm hiểu về tư tưởng triết học của ông Ở công trình nghiên cứu này, tác giả PGS TS Cao Xuân Long đã biên soạn thành hai chương và dành

Trang 12

riêng chương 1 để khảo cứu những điều kiện, tiền đề và quá trình hình thành, phát triển tư tưởng triết học của Đặng Huy Trứ

Theo đó nội dung tư tưởng của Đặng Huy Trứ được biên soạn theo 3 chủ đề chính của hệ thống triết học Tác giả đã nêu ba đặc điểm triết học trong tư tưởng của Đặng Huy Trứ trong chương 1:

Một là, tư tưởng triết học của Đặng Huy Trứ là sự kết hợp giữa Đông và Tây cùng thực tiễn của thời đại

Hai là, nội dung tư tưởng triết học của Đặng Huy Trứ là một hệ thống xuyên suốt với các ý tưởng canh tân đất nước

Ba là, các quan điểm trong tư tưởng triết học của Đặng Huy Trứ thể hiện tản mạn trong các tác phẩm của Ông

Nội dung của công trình “Tư tưởng triết học của Đặng Huy Trứ” của

PGS.TS Cao Xuân Long trong chương 2 trình bày cụ thể các giá trị trong tư tưởng của Đặng Huy Trứ theo hệ thống triết học: Quan điểm thế giới, quan điểm nhân sinh, quan điểm về chính trị - xã hội (từ trang 75 đến trang 126) Với các nhận định:

Thứ nhất, tư tưởng triết học của Đặng Huy Trứ mang đậm giá trị nhân văn

Thứ hai, phải canh tân đất nước theo con đường tự cường, tự trị, nhằm giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước

Thứ ba, giá trị tư tưởng Đặng Huy Trứ rất cần thiết với thực tiễn đất nước cuối thế kĩ XIX và hiện nay

Kết thúc công trình nghiên cứu này là ý nghĩa lịch sử của tư tưởng triết học Đặng Huy Trứ đối với thực tiễn ngày nay Công trình nghiên cứu của tác giả đã đi tìm các luận cứ về thế giới quan, nhân sinh quan, các tư tưởng Chính trị - Xã hội và sắp xếp các luận cứ ấy theo cấu trúc của hệ thống triết học Như trong lời nói đầu

của tác giả đã viết “cho đến nay không ít công trình nghiên cứu về cuộc đời, sự

nghiệp của Đặng Huy Trứ và những giá trị tư tưởng của ông đối với sự phát triển của đất nước, nhưng nhìn chung chưa có công trình nào mang tính toàn diện, hệ thống về tư tưởng triết học của ông” [18, tr.8] Mục đích nghiên cứu của công trình

“Tư tưởng triết học của Đặng Huy Trứ” là một đóng góp có giá trị tích cực, nhằm

Trang 13

để khẳng định một trong những đại biểu các nhà tư tưởng Việt Nam như Đặng Huy Trứ đã có tính chất hệ thống hóa, bao quát toàn diện

Trong công cuộc phát triển đất nước, công cuộc đổi mới toàn diện, thì những công trình nghiên cứu về các nhà tư tưởng cải cách canh tân đất nước vào thời kì thế

kỷ XIX đầu thế kỷ XX nói chung, và tư tưởng cải cách của Đặng Huy Trứ nói riêng được thực hiện nhiều hơn, đa dạng hơn, mang tính cấp thiết cao hơn như:

“Kỷ yếu hội thảo khoa học danh nhân Đặng Huy Trứ”của Đại học Huế biên soạn năm 2000; “Đặng Huy Trứ tư tưởng và nhân cách”do Đặng Việt Ngoạn biên

soạn năm 2001 (công trình tuyển chọn một số bài viết, nghiên cứu về Đặng Huy Trứ đã được công bố và chưa công bố của các tác giả như Vũ Khiêu, Phạm Tuấn Khánh, Thanh Đạm, Vũ Đình Liên, Hoàng Công Khanh, Lê Thị Lan…) Các công trình này đã trung nghiên cứu tư tưởng Đặng Huy Trứ ở các khía cạnh như giá trị

nhân văn, “chữ Nhân” hay Phật giáo trong thơ văn Đặng Huy Trứ, những trăn trở

của ông đối với phong tục, tập quán của nhân dân, thái độ của ông với quỷ thần…

Ngoài ra còn có nhiều bài viết trên các báo và tạp chí khoa học của các tác

giả như: Trần Đại Vinh (1994), “Đặng Huy Trứ và những trăn trở đổi mới về phong

tục, tập quán tín ngưỡng của nhân dân”, Tạp chí Văn hóa dân gian, Tập 47 (số 3);

Trương Thị Yến (1996), “Đặng Huy Trứ và những hoạt động của ông trong lĩnh

vực thương nghiệp thế kỷ XIX ”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, Tập 284 (số 1)”; Tảo

Trang (1997), “Đức tính dũng trong thơ văn Đặng Huy Trứ”, Tạp chí Hán nôm, Tập

31 (số 2) Đỗ Thị Hòa Hới (2000) với bài viết “Tư tưởng Đặng Huy Trứ với Nho

giáo triều Nguyễn” trên Tạp chí Triết học, Tập 118 (số 6); Lê Thị Lan (2001), “Tư tưởng dân tộc chủ nghĩa trong thơ văn Đặng Huy Trứ”, Tạp chí Triết học, Tập 121

(số 3); Nguyễn Hữu Tâm (2001), Trần Thị Băng Thanh (2001), “Những bóng dáng

con người bé nhỏ dưới ngòi bút Đặng Huy Trứ”, Tạp chí Hán Nôm, Tập 48 (số 3)

“Nho giáo trong tâm thức và hành xử của Đặng Huy Trứ”, Tạp chí Hán Nôm (số 2); Nguyễn Nam Thắng (2004), “Tư tưởng yêu nước trên lập trường canh tân của

Đặng Huy Trứ”, Tạp chí Triết học (số 5); Phước Trung (2006), “Doanh nhân Đặng

Trang 14

Huy Trứ”, Tạp chí Thương mại(số 4) ” [Đã trích nguồn tài liệu tham khảo mục 18,

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, nhận thấy các vấn đề được Đặng Huy Trứ

kể tới ở thế kỷ XIX như mối quan hệ giữa lợi trong kinh doanh và đạo tâm, việc phòng, chống tham nhũng và cách làm quan vẫn đang là vấn đề nan giải hiện nay cần nêu lại và tìm phương hướng giải quyết, khắc phục, đồng thời mong muốn đánh giá lại công lao to lớn mà các nhà tư tưởng nói chung, cũng như Đặng Huy Trứ nói riêng đã cống hiến hết mình cho quốc gia, dân tộc, tôi xác định các nhiệm vụ nghiên cứu cần hoàn thành trong luận văn như sau:

Thứ nhất, trình bày và phân tích bối cảnh thế giới và Việt Nam nửa cuối thế

kỷ XIX dẫn tới sự xuất hiện của tư tưởng canh tân cải cách thời kì này và quá trình hình thành phát triển tư tưởng cải cách của Đặng Huy Trứ

Thứ hai, phân tích nội dung các tư tưởng cải cách của Đặng Huy Trứ như:

Tư tưởng thương dân và mối quan hệ của dân và quan, đạo làm quan và tư tưởng chống tệ nạn tham nhũng, tư tưởng tự lực, tự cường để xây dựng đất nước và đấu tranh bảo vệ đất nước

Thứ ba, trình bày và đánh giá các mặt giá trị của tư tưởng cải cách của Đặng Huy Trứ đối với triều đình Nhà Nguyễn và sự đóng góp giá trị đối với tư tưởng canh tân đương thời

Thứ tư, khái quát các thành tựu trong 35 năm thực hiện đổi mới đất nước và

ý nghĩa của tư tưởng của Đặng Huy Trứ trong giai đoạn hiện nay của Việt Nam

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 15

Luận văn nghiên cứu tư tưởng cải cách của Đặng Huy Trứ

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu nội dung tư tưởng cải cách của Đặng Huy Trứ thông qua các tác phẩm của Đặng Huy Trứ đã được xuất bản bằng tiếng Việt tại

Việt Nam như “Đặng Huy Trứ- con người và tác phẩm” Thông qua các nhận định

đánh giá từ các công trình lớn đã nghiên cứu trước đó: “Đặng Huy Trứ- Con người

và tác phẩm”- nhóm Trà Lĩnh, “Lịch sử tư tưởng Việt Nam” – GS Lê Sỹ Thắng,

“Cưỡi Sóng Đạp Gió”- tác giả Hoàng Công Khanh, “Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam- Từ thời kỳ dựng nước đến đầu thế kỷ XX” -PGS.TS Doãn Chính,“Tư tưởng triết học của Đặng Huy Trứ” của PGS.TS Cao Xuân Long Và trình bày và phân tích các tư tưởng cải cách của Đặng Huy Trứ còn phù hợp với thực tiễn Việt Nam trong thời đại ngày nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu khoa học

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn thực hiện trên cơ sở lý luận, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác

- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam về tư tưởng, văn hóa, đổi mới…

Luận văn tiếp nhận kế thừa những kết quả nghiên cứu khoa học của các công trình, tác phẩm và chuyên đề đã công bố về tư tưởng Đặng Huy Trứ và các vấn đề liên quan đến đề tài

5.2 Phương pháp nghiên cứu khoa học

Luận văn này sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, phương pháp lịch sử - logic, cùng phối hợp với một số phương pháp khác

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

6.1 Ý nghĩa khoa học

Qua việc phân tích những tư tưởng canh tân của Đặng Huy Trứ sẽ góp phần làm rõ hơn những đóng góp của ông trong dòng tư tưởng cải cách, canh tân đất nước thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Trên cơ sở đó, luận văn sẽ cung cấp cho người đọc

Trang 16

cái nhìn mới về sự biến đổi tư duy lý luận của tầng lớp sĩ phu yêu nước cấp tiến nói chung vào nửa cuối thế kỷ XIX và của Đặng Huy Trứ nói riêng

Luận văn còn là tài liệu tham khảo hữu ích cho việc nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam, lịch sử tư tưởng Việt Nam thời kỳ nửa sau thế kỷ XIX , tư tưởng cải cách đất nước của Đặng Huy Trứ

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Trong thực tiễn để đất nước phát triển, vấn đề cải cách, canh tân hay đổi mới luôn là yêu cầu khách quan của mỗi quốc gia, dân tộc Mỗi thời kỳ, do điều kiện lịch sử khác nhau mà tính chất, nội dung và phương pháp cải cách khác nhau Song,

sự thắng lợi của cách mạng hôm nay là kết quả của quá trình đúc kết kinh nghiệm,

kế thừa và phát huy những giá trị lịch sử trước đó Nghiên cứu tư tưởng cải cách của Đặng Huy Trứ sẽ góp phần vào việc nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam và làm rõ hơn bài học lịch sử cho việc tổng kết thực tiễn để tiến hành công cuộc đổi mới hiện nay ở nước ta

Chương 2: Nội dung tư tưởng cải cách của Đặng Huy Trứ (gồm 3 tiết)

Nội dung chính của chương 2 tập trung vào 4 nhóm tư tưởng cải cách có giá trị mà theo tôi là sợi chỉ xuyên suốt có thể liên kết để nghiên cứu vào thực tiễn của Việt Nam hiện tại là:

Thứ nhất, tư tưởng thương dân vì nhân dân- mối quan hệ giữa dân và quan Thứ hai, đạo làm quan và phương hướng chống tệ nạn tham nhũng

Trang 17

Thứ ba, tư tưởng tự lực, tự cường kinh tế, khoa học kĩ thuật để xây dựng đất nước

Thứ tư, tư tưởng trong quân sự để đánh đuổi giặc ngoại xâm

Chương 3: Giá trị tư tưởng cải cách của Đặng Huy Trứ ( gồm 3 tiết)

Luận văn sẽ tập trung khai thác các giá trị của tư tưởng cải cách của Đặng Huy Trứ ở 3 góc độ:

Một là, các tư tưởng cải cách của Đặng Huy Trứ có tác động nhất định đến Triều đình nhà Nguyễn

Hai là, tư tưởng cải cách của Đặng Huy Trứ có đóng góp hết sức to lớn đến dòng tư tưởng cải cách thế kỷ XIX và cả nửa đầu thế kỷ XX

Ba là, từ việc khái quát các thành tựu đã đạt được trong 35 năm đổi mới đất nước, rút ra các vấn đề mà tư tưởng cải cách của Đặng Huy Trứ cho thấy đến tận nay vẫn còn nguyên vẹn giá trị

Trang 18

Chương 1:

ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG

CẢI CÁCH CỦA ĐẶNG HUY TRỨ

1.1 Bối cảnh thế giới nửa cuối thế kỷ XIX

Vào cuối thế kỷ XIX tình hình thế giới có nhiều biến đổi trên diện rộng và ảnh hưởng sâu sắc đến tất cả mọi mặt: kinh tế, chính trị, xã hội, khoa học kỹ thuật Những biến đổi bắt đầu từ những thành tựu khoa học kỹ thuật làm kinh tế thế giới phát triển mạnh mẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các mặt chính trị, xã hội Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản tự do đã chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc làm thay đổi toàn diện xã hội Phương Tây Sự bành trướng mở rộng xâm chiếm thị trường thuộc địa thế giới thay đổi trật tự thế giới và tất yếu ảnh hưởng đến tình hình Việt Nam cuối thế kỷ XIX

Về kinh tế, từ khi chủ nghĩa tư bản hình thành đã tạo ra lực lượng sản xuất lớn Trong quá trình lịch sử nhân loại có thể nói theo cách đánh giá của C.Mác và

Ăng-ghen: “giai cấp tư sản đã đóng một vai trò hết sức cách mạng trong lịch sử”,

“giai cấp tư sản, trong quá trình thống trị giai cấp trong vòng một thế kỷ, đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả thế

hệ trước kia gộp lại”[19, tr 599,603] Việc nắm giữ trong tay lực lượng sản xuất

tiên tiến đã làm cho của cải của nhân loại dư thừa ra, thúc đẩy sự trao đổi các giá trị hàng hóa Tạo tiền đề cho sự chuyển biến sang chủ nghĩa tư bản độc quyền

Sự phát triển nhanh mạnh với khối lượng của cải khổng lồ của chủ nghĩa tư bản nhờ vào sự phát triển của khoa học kĩ thuật Việc áp dụng khoa học kỹ thuật không chỉ dừng lại ở những công trình nghiên cứu khám phá thế giới, mà nay đã áp dụng sâu rộng vào quá trình sản xuất

Mở rộng thị trường và thu được lợi nhuận nhiều hơn khi sự phát triển tư bản

ở các nước xã hội Phương Tây đã trở nên ngột ngạt thì các nước Anh, Pháp, Tây Ban Nha… đã tiến về phương Đông nhằm biến phương Đông thành cỗ máy trục lợi cho đế quốc Điều đó đã làm cho xã hội phương Đông thay đổi sâu sắc về mọi mặt

từ kinh tế đến chính trị-xã hội

Trang 19

Đánh giá tình hình thế giới lúc này Đặng Huy Trứ cho rằng vào thời điểm

hiện tại để thoát khỏi hiện thực khắc khổ của nhân dân Việt Nam cần: “Tự cường,

tự trị, dần dần khôi phục” đó là thượng sách [17, tr.435-436]

Về mặt xã hội, xã hội bị phân hóa rõ rệt giữa giàu nghèo Trong thời kì này

xã hội đã phân chia thành nhiều giai cấp Ngoài giai cấp tư sản, địa chủ quý tộc, nông dân thì xuất hiện thêm giai cấp công nhân Giai cấp công nhân được sinh ra trực tiếp từ quá trình sản xuất tư bản ngày càng chiếm số lượng đông đảo, phải chịu

sự bóc lột nặng nề của giải cấp tư sản, mâu thuẫn của giai cấp công nhân đối với giai cấp tư bản càng ngày càng không thể điều hòa

Mâu thuẫn giai cấp quyết liệt dẫn đến hàng loạt cuộc đấu tranh giai cấp đã bùng nổ khắp nơi trên thế giới Kết hợp với các phong trào đấu tranh là nhiều luồng

tư tưởng đã được hình thành và phát triển, trong đó hệ tư tưởng Mác như là một ánh sáng chân lí đã được giai cấp công nhân tiến bộ giác ngộ và phát triển gắn liền với các cuộc đấu tranh thực hiện sứ mệnh vĩ đại của giai cấp công nhân, vì mục tiêu hướng về độc lập, tự do, bình đẳng, bác ái cho dân tộc mình

Về chính trị, kinh tế chủ nghĩa tư bản đã phát triển đến tầm cao mới, tác động mạnh mẽ đến chính trị thế giới Cùng với quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa trong chính trị chế độ quân chủ càng ngày bị đánh mất đi quyền lực chính trị của mình Đây là thời kì đánh dấu sự chuyển biến rõ nét từ chế độ quân chủ sang chế độ dân chủ Quân chủ chuyển dần sang dân chủ, khoa học kỹ thuật thực nghiệm thay thế niềm tin tôn giáo Nền dân chủ mà giai cấp tư sản xây dựng có giá trị văn hóa khi

nó dùng để chống lại chế độ phong kiến cường quyền ở các nước tư bản, nhưng trong cuộc bành trướng của chủ nghĩa đế quốc đến các nước thuộc địa của thực dân thì dân chủ là không tồn tại

Về khoa học kỹ thuật, sự phát triển của khoa học kĩ thuật thời kì này là vượt trội nhất so với các thời đại trước đó Công trình nổi bật nhất của thế kỷ XIX phải nói đến là học thuyết tiến hóa của Đác uyn Đây được xem như là một cuộc cách mạng trong ngành công nghệ sinh học và thậm chí ảnh hưởng sang đến khoa học xã hội Nội dung căn bản của học thuyết đã làm rõ quy luật đấu tranh sinh tồn của các

Trang 20

loài Vì phải tồn tại nên tất cả các loài phải biến hóa để thích nghi, nếu không tiến hóa thì sẽ bị tự nhiên đào thải

Tiếp nối thành tựu vượt bậc trong lĩnh vực sinh học thì G Men đen đã phát hiện tiến xa hơn về di truyền học và được gọi là cha đẻ của di truyền học hiện đại Trong lĩnh vực y học Paxtơ cũng đã có phát minh quan trọng là thuốc Vacxin Ngành hóa học Men-Đê-Lép đã lập nên bảng tuần hoàn hệ thống các nguyên tố hóa học Trong lĩnh vực vật lý cũng có nhiều phát hiện, phát minh quan trọng; học thuyết tương đối của Anhxtanh, bóng đèn và nhà máy điện Edison, tia Rơnghen Sự phát triển mà có tác động đến quá trình phát triển của tư bản cũng như hệ tư tưởng

đó là những thành tựu trong lĩnh vực điện báo, sóng vô tuyến phát thanh truyền hình…

C.Mác đã từng viết về sự phát triển khoa học kĩ thuật trong nửa cuối thế kỷ

XIX như sau: “sự chinh phục những lực lượng thiên nhiên bằng máy móc, việc áp

dụng hóa học vào công nghiệp và nông nghiệp, việc dùng tàu chạy bằng hơi nước, đường sắt, máy điện báo, việc khai phá từng lục địa nguyên vẹn, việc khai thông các tàu bè đi lại được, hàng khối dân cư tựa hồ như từ dưới đất trồi lên, - có thể kỷ nào trước đây ngờ được rằng có những lực lượng sản xuất như thế vẫn nằm tiềm tàng trong lòng lực lượng xã hội!” [19, tr 603]

Chính Đặng Huy Trứ cũng đã ngỡ ngàng và tự nhận tài học của mình còn kém cỏi, thua thiệt: thiên văn, toán số không giỏi thì làm sao lo được cho nhân dân.Ông so sánh tài cán mình với Chim Ô Thước, chim Viên cơ chúng nó còn hay

hơn cả mình khi có thể lắng nghe được thiên nhiên mà dời tổ “Trải qua việc, mới

biết tài học ta nông cạn Văn chương có bao giờ chống được gió bão” [17, tr 271]

Từ đó ông nung nấu tư tưởng cần sang Phương Tây để học hỏi trau dồi

những tri thức hiện đại của nhân loại Trong tác phẩm Đề bức ảnh mặc triều phục

ông cũng đã bình phẩm về sự hiện đại của chiếc máy ảnh đến từ văn minh Phương

Tây và thổ lộ cái lòng tôi trung sâu xa của mình“Nhưng cái lo, cái nhục của lòng

người bề tôi là quyết tiêu diệt giặc Một điểm trong tim tôi, anh có biết không? Muốn sang Tây vực để vẽ bức tranh toàn cảnh” [17, tr 343]

Trang 21

Về văn học- nghệ thuật, nội dung các tác phẩm văn học hiện tại thường miêu

tả sự tác động của cuộc cách mạng tư sản và quá trình quá trình công nghiệp hóa Nhờ sự tiến bộ nhanh chóng của khoa học kĩ thuật mà các tác phẩm được in ấn với

số lượng lớn hơn và truyền đi nhanh lan rộng mạnh mẽ, góp phần nâng cao tri thức nhân loại và tình hình thế giới Các thể loại văn học nghệ thuật cũng đa dạng phong phú hơn: tạp chí, nhật báo, luận cổ điển đến tiểu thuyết hiện đại

Về mặt tư tưởng, sự phát triển của khoa học kĩ thuật cũng như hiện thực xã hội trong nền kinh tế tư bản đã làm xuất hiện sôi nổi các trào lưu tư tưởng Trong đó đáng đề cập đến là phong trào khai sáng Pháp với các đại biểu Thomas Paine, Voltaire, Jean-Jacques Rousseau, Immanuel Kant và David Hume với tư tưởng tấn công vào cái niềm tin tôn giáo đã mục rỗng và lỗi thời Nội dung tư tưởng

ở thời kì này thường là tư tưởng về hiện thực xã hội, không chỉ thế các nhà tư tưởng

đề ra cả những phương pháp cải tạo xã hội hiện thực ấy phải kể đến như: “Thuyết Mantut” về qui luật phát triển dân số nhân loại, “thuyết Trực giác” về nhận thức thế giới không cần thông qua thần linh hay tri thức khoa học mà thông qua “ linh tính”;

“ thuyết hành vi Páp lốp” về quy luật của hành động là một khoa học Không những thế những câu hỏi bâng khuâng, trăn trở làm thế nào để giải phóng dân tộc, con đường nào cho lối đi đất nước đã được suy tư rất nhiều ở các nước bị xâm lược như phương Đông

Ở Nhật Bản, triều đình Mạc phủ thi hành chính sách “ tỏa quốc” nhằm ngăn chặn sự xâm nhập của chủ nghĩa đế quốc Chính sách cấm đoán người truyền đạo Thiên chúa giáo và người nước ngoài vào Nhật để buôn bán Điều này làm cho tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội suy kiệt dần Đất nước Nhật Bản đứng trước nguy cơ bị xâm lược bởi các nước thực dân lớn mạnh: Bồ Đào Nha, Hà Lan, Mỹ, Anh Ngày càng nhiều phong trào trong nước muốn Duy Tân đất nước, lật đổ triều Mạc đi theo con đường âu hóa, thống nhất quốc gia và tôn vua trở lại địa vị tối cao

có thực quyền bằng khẩu hiệu: “tôn quân, diệt di, phản Mạc” [15, tr.143] Năm

1868 Thiên Hoàng Minh Trị Mutsuhito lên ngôi dời đô Từ Kyoto về Edo, phế bỏ chế độ lãnh chúa và võ sĩ, các lãnh chúa Đai-mi-ô và các võ sĩ Samurai về làm

Trang 22

thường dân Thiên hoàng lãnh đạo phong trào Duy tân, thâu tóm tập trung quyền lực, phát triển giáo dục, mời các nhà khoa học về nước dạy, hoặc đưa người sang

Tây du học “Trong thời gian rất ngắn, ba chục năm Các sĩ phu đều hăng hái học

tập Phương Tây, dịch sách Âu mỹ, nghiên cứu chính thể kỹ nghệ Chính phủ đón thầy Âu dạy học cho dân: Kỹ sư Anh dạy cách cất đường xe lửa và đóng tàu, người Pháp dạy về luật và binh bị, giáo sư Đức dạy về y học và hóa học, nhà chuyên môn Hoa Kỳ tổ chức giáo dục, các nghị sĩ Ý thì dạy âm nhạc và điêu khắc” [15, tr.143]

Đánh giá về con đường canh tân đất nước của Nhật bản Đặng Huy Trứ rất

hào hứng: “Nước Nhật Bản ở biển Đông là nước nhỏ không đáng kể cũng vì biết

căm phẫn mà trở thành hùng cường” [17, tr 437-438] Đó là bài học bổ ích, một sự

hy vọng dẫn đường cho con đường giải phóng dân tộc Việt Nam khỏi tình thế xâm lăng mạnh mẽ của thực dân

Ở Trung quốc, cuối đại Mãn Thanh Trung Quốc bị các nước thực dân dòm ngó xâu xé Về kinh tế, Trung Quốc dần rơi vào tình trạng lạc hậu, bị tư bản nước ngoài thao túng với hàng loạt chính sách khai thác thuộc địa, phát triển mạnh mẽ số lượng xí nghiệp hầm mỏ, nhằm vơ vét tài nguyên khoáng sản đưa về chính quốc Trong cùng lúc đó thì nền nông nghiệp phong kiến lạc hậu vẫn được duy trì, thủ công nghiệp truyền thống phát triển nhưng bị chèn ép trên thị trường kinh tế rồi què quặt rơi vào sự lệ thuộc mà phục vụ cho thực dân Về chính trị: triều đình phong kiến vẫn khư khư mang tư tưởng bảo thủ, lỗi thời, lạc hậu coi Trung Quốc là trung

tâm của thế giới, khiến nhân dân rơi vào cảnh khổ “một cổ hai tròng” Với hiện

thực trên, các nhà yêu nước đã đứng lên bằng nhiều phong trào đấu tranh, bằng nhiều con đường và cách thức khác nhau: Phong trào thái bình thiên quốc của Hồng

Tú Toàn (phong trào nông dân) Tiếp đến là cuộc chính biến 100 ngày “biến Pháp”

của Khang Hữu Vi Nội dung các phong trào Duy Tân ở Trung Quốc tập trung chủ yếu vào sự phát triển khoa học kĩ thuật, đề cao dân chủ phế bỏ quan lại, nhất thiết phải cải cách phát triển giáo dục Các phong trào Duy Tân cải cách ở thời kì này đã đóng vai trò dẫn dắt đấu tranh bài trừ chế độ phong kiến cũ nát, thổi một luồng sinh khí mới về tư tưởng vào trong đời sống xã hội của Trung Quốc

Trang 23

Đặng Huy Trứ đã nhận xét về các phong trào Duy Tân và ý nghĩa của những phong trào này của Trung Quốc ở thời điểm cuộc chiến chống thực dân xâm lăng

của Việt Nam đang hết sức gay gắt rằng: “Bọn quỷ trắng đâu chịu nghe những lời

thiện, mà ta cũng đâu thể để mất nhân dân và đất đai được Trong triều không thiếu những vị quan to, áo xanh, áo tía, thực là một sự giúp dân lớn, ấy là chưa kể đến văn thân của ba tỉnh thì chưa biết được” [17, tr 390] Trước những thành tựu to

lớn của Nhật Bản Duy Tân và những trắc trở của Trung Quốc trên con đường Duy Tân, Đặng Huy Trứ cũng trăn trở tìm kiếm con đường nào, cách thức nào, mô hình nào mới là phù hợp với thực tiễn đấu tranh cho Việt Nam Ông băn khoăn phải đi theo nước nào, hay học hỏi, gửi gắm niềm tin vào đâu để đánh đuổi giặc xâm lăng đem về sự ấm no cho dân tộc

Tóm lại, sự phát triển của chủ nghĩa tư bản trên thế giới đã biến chuyển hình thái từ chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh sang tư bản độc quyền với 5 đặc trưng cơ bản: Một là, hình thành các tổ chức lũng đoạn kinh tế xuyên quốc gia; Hai là, tư bản tài chính được hình thành dựa trên sự kết hợp của tư bản ngân hàng và tư bản công nghiệp; Ba là, xuất khẩu tư bản là vấn đề sống còn trong nền kinh tế tư bản; Bốn là, hình thành các khối liên minh tư bản độc quyền tự ý phân chia tranh giành thị trường thế giới; Năm là, việc phân chia đất đai trên thế giới căn bản đã được hoàn thành

Sự biến chuyển này dẫn tới sự phát triển nhanh chóng của chủ nghĩa đế quốc

đã làm cho thế giới thay đổi các trật tự trước đó Phần lớn các nước phương Đông, các nước kém phát triển ở Châu Phi, Mỹ Latinh bị xâm chiếm thành thuộc địa của các nước đế quốc như Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha

Với việc bắt tay thực hiện các cuộc khai thác thuộc địa bóc lột giai cấp của các nước chủ nghĩa đế quốc với các nước thực dân đã làm cho mâu thuẫn chính trị,

xã hội ngày càng gay gắt Các phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc thực dân diễn ra sôi nổi, mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản càng sâu rộng, cùng theo đó là sự phát triển của những phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa phong kiến lạc hậu lỗi thời ở khắp nơi trên thế giới Đi đầu là các phong trào canh

Trang 24

tân, cải cách tự lực, tự cường, tự trị ở Nhật Bản, Trung Quốc, Ba Tư, Cao Ly và Việt Nam

Chính hiện thực xã hội, tình hình thế giới như thế đã tác động định hướng các nhà yêu nước ở Việt Nam tiếp nhận và suy tư Trong đó tư tưởng cải cách của Đặng Huy Trứ được đánh giá là tiến bộ một bậc khi các tư tưởng ấy được Ông thực thi hóa vào đời sống kinh tế, xã hội, quân sự…

1.2 Bối cảnh Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX

Tình hình kinh tế xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX là một trong những điều kiện hết sức quan trọng cho sự hình thành, phát triển tư tưởng cải cách của Đặng Huy Trứ

Vào thế kỷ XIX, xã hội Việt Nam có nhiều biến động to lớn Đặc biệt, từ khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta (1858), vận mệnh đất nước bị đe dọa làm cho đời sống nhân dân vốn đã khổ cực, lầm than nay càng thêm bế tắc Xã hội ngày

càng đứng trước nguy cơ bị khủng hoảng Theo GS Trần Văn Giàu: “Đất nước và

dân tộc Việt Nam đứng trước hai nhiệm vụ lịch sử rất trọng đại, rất khẩn cấp: Một

là nhiệm vụ Duy Tân, nghĩa là từ bỏ sự đình trệ phong kiến Châu Á để phát triển theo hướng tư bản chủ nghĩa như Âu Mỹ; hai là bảo vệ nền độc lập dân tộc chống thực dân xâm lược; hai nhiệm vụ liên quan mật thiết với nhau” [8, tr.54] Trước

những đòi hỏi của lịch sử, từ kinh tế, chính trị đến văn hóa - xã hội, tư tưởng đều đặt ra yêu cầu phải cải cách, đổi mới Về kinh tế, nước ta là một nước có nền kinh tế lạc hậu, phát triển nông nghiệp là chủ yếu Đến thế kỷ XIX, dưới triều Nguyễn,

nông nghiệp càng được đề cao bởi chính sách “Trọng nông ức thương” do nhà

nước ban hành Triều đình chú trọng đến việc khai hoang, mở rộng diện tích canh tác bằng nhiều chủ trương khác nhau như: cho tư nhân tự do tổ chức việc khai hoang, hoặc làng xã đứng ra tổ chức, hoặc thiết lập đồn điền hoặc dinh điền Đến năm 1847 tổng diện tích đất nông nghiệp tăng lên 4.278.013 mẫu (so với năm 1836 tăng 214.119 mẫu) Riêng ở Nam Định, qua mấy đợt chính phủ tổ chức khai hoang các nơi đất sa bồi, đến năm 1864 vẫn còn khoảng 30.000 mẫu bị bỏ hoang Ở Nam phần, những vùng đất hoang còn rất rộng, vào năm 1870, diện tích đất khai phá mới

Trang 25

được 522.000 ha, trên tổng diện tích là 5.600.000 ha [1, tr 95] Việc thực hiện chính sách này đã khiến nhà Nguyễn phục hồi lại phần nào nền nông nghiệp nước nhà Nhưng nó không đủ sức để đưa nền nông nghiệp ấy phát triển lên trình độ cao hơn Diện tích đất được khai phá quá ít và tốc độ khẩn hoang còn chậm chạp Công cuộc khai hoang, lập ấp chủ yếu dựa vào sức người là chính, triều đình nhà Nguyễn không đưa ra một biện pháp nào hoặc một chính sách nào nhằm cải tiến kỹ thuật

phát triển nông nghiệp Tác giả Đỗ Bang nhận xét: “Cái bền vững của sự thịnh

vượng nền văn minh lúa nước thời vua Hùng đã làm thỏa mãn người nông dân trong kinh tế tiểu nông, tự cấp và nhà nước cũng bằng lòng với chính sách trọng nông tự túc nên đã không chịu cải tiến phương thức canh tác nông nghiệp kể cả nhu cầu thiết yếu như phân giống…cho đồng ruộng” [2, tr 22] Do vậy dù diện tích

canh tác có tăng lên nhưng năng suất và sản lượng lương thực làm ra không đáng

kể

Những kết quả phát triển nông nghiệp của triều Nguyễn đạt được cuối cùng cũng rơi vào tay bọn địa chủ, phong kiến, người nông dân ít được hưởng lợi từ những chính sách khuyến nông đó Từ đó làm cho chế độ sở hữu ruộng đất công ngày càng bị thu hẹp Ruộng tư ngày càng lấn chiếm vào ruộng công Trong khi đó,

để đảm bảo cho nhu cầu vật chất nhà nước, triều đình nhà Nguyễn thực hiện chế độ thuế khóa nặng nề đối với nông dân nghèo Thực tế đất đai của dân bị triều đình Nguyễn bắt buộc đóng nhiều thứ thuế vô lí, ruộng đất không đủ cấp cho quan lại

nên Triều đình phải vơ vét bòn rút của nhân dân với hàng trăm thứ thuế má “Ngoài

thuế ruộng, thuế thân, nông dân còn phải đóng vô số các khoản phụ thu như: tiền thu theo đầu người (thuế đinh), tiền điệu (tạp dịch), cước mễ (tô) (thóc thu theo đầu người), tiền chi vặt, tiền khoán thố (giấy tờ, giữ kho), tiền sai dư (sai phái), tiền trước bạ, tiền dầu đèn…” [3, tr 4]

Ruộng đất không đủ nuôi sống người dân, lại thêm nợ nần, thuế khóa chồng chất Trước tình cảnh đó, nhân dân đã đứng lên khởi nghĩa chống lại triều đình Và

“cuộc đấu tranh vì ruộng đất, cơm áo nhanh chóng chuyển thành cuộc đấu tranh chính trị Vì kẻ thù chung của họ là giai cấp phong kiến vừa nắm thế quyền vừa là

Trang 26

chủ điền sản, nên họ vừa bị chịu áp bức, lại vừa bị bóc lột Đánh đổ chính quyền là xóa được nạn áp bức và triệt được bọn bóc lột” [2, tr 25] Đây là một trong những

mâu thuẫn cơ bản của thời kì này, buộc nhà nước phải kịp thời giải quyết

Chính cuộc sống xa hoa, phù phiếm của bọn quan lại với đồng lương ít ỏi do

triều đình cấp không đủ đáp ứng yêu cầu chi tiêu của họ, vì vậy, nạn “quan lại tham

nhũng” hoành hành Đất nước lúc này đang trong cảnh bên trong là nỗi khổ của dân

và tệ lậu quan lại, bên ngoài là tình hình Tây Dương âm mưu xâm lược và mối lợi tàu buôn, tất cả đều phải kịp thời chỉnh đốn

Với chính sách “trọng nông ức thương”, làm cho thương nghiệp nước ta gặp

không ít khó khăn, việc buôn bán chểnh mảng Nhà nước thi hành độc quyền ngoại thương, “bế quan tỏa cảng” không giao dịch với Phương Tây Bên cạnh việc tu chỉnh mạng lưới giao thông thủy bộ thúc đẩy giao lưu kinh tế giữa các vùng trong nước, nhà nước kiểm soát chặt chẽ và giữ độc quyền buôn bán những sản phẩm quan trọng như gạo, muối

Đối với ngoại thương, nhà nước thực hiện nhiều chuyến buôn bán, trao đổi hàng hóa với các nước trong khu vực: Xiêm, Malaysia, Trung Quốc… Và nhiều tàu buôn của Anh, Pháp, Mỹ cũng từng có mặt ở Việt Nam nhưng không được vào các bến cảng So với các nước khác, nền ngoại thương của nước ta còn rất dè dặt Thương nhân trong nước rất khó có điều kiện hoạt động trên lĩnh vực này Với những chính sách hạn chế thương mại của triều đình phần vì cảnh giác, phần vì bảo thủ, tự thủ trong dinh, lũy cũ kỹ, lỗi thời đã bóp nghẹt ngành thương nghiệp nước nhà Điều đó đã làm ảnh hưởng rất lớn không chỉ đối với nền kinh tế mà cả quân sự, ngoại giao của đất nước

Về công nghiệp, nhà nước độc quyền trong lĩnh vực khai mỏ Dưới triều Nguyễn, cả nước trước sau chỉ có khoảng 140 mỏ được khai thác giao cho một số quan lại và một số người Hoa kiều làm, sản phẩm khai thác được nhà nước thu gom tất cả Nhưng thực tế, các hầm mõ người Hoa làm chủ thầu cũng tạo nên năng suất nhất định, làm quan hệ sản xuất cũng chuyển biến, nhưng để lại hậu quả và bài học làm thất thoát tài nguyên quốc gia ra nước ngoài mà ngay cả triều đình Nguyễn

Trang 27

cũng không có cách thức nào để giám sát , quản lí Những hầm mõ mà do các quan lại triều đình đứng ra quản lí thì đều mang lại năng suất kém, do trình độ tổ chức quản lí và biện pháp kỹ thuật thấp kém của triều Nguyễn [22, tr.78]

Ở giai đoạn này triều Nguyễn lập ra nhiều “tượng cục” quan trọng, các

xưởng đúc tiền, đúc súng, đóng tàu tập trung ở kinh đô Huế, Hà Nội và Gia Định Các vua nhà Nguyễn triệu tập các thợ thủ công giỏi trong cả nước về kinh đô để xây dựng các lăng tẩm cho vua chúa Từ đó, làm cho nghề thủ công ở địa phương không phát triển được do không có thợ giỏi

Kinh tế bất ổn, đất nước đang chìm trong tăm tối, đời sống nhân dân cùng quẫn Thêm vào đó, tình hình chính trị - xã hội ngày càng phức tạp Về chính trị, đất nước sau nhiều năm loạn lạc, chia cắt nay thống nhất dưới triều Nguyễn được đánh dấu bằng sự thất bại của triều Tây Sơn (năm 1802) Khi lên ngôi, Gia Long thiết lập ngay bộ máy nhà nước quan liêu, độc tôn ngôi vị nhà vua, lấy Nho giáo làm nền

tảng tư tưởng cho đường lối thống trị của mình với chính sách “Ngoại Nho, nội

Pháp”

Đến đời Minh Mệnh, tính chất chuyên chế phát triển cao, quyền hành của các cấp địa phương ngày càng bị hạn chế Với định hướng chính trị Nho giáo, triều Nguyễn đã toàn tâm xây dựng nhà nước quân chủ tập trung như Trung Quốc Nhưng bộ máy nhà nước quân chủ chuyên chế ngày càng lại bộc lộ sự bất lực của mình so với thời cuộc, sự bất lực đó dấy lên bởi các phong trào đấu tranh của nông dân và phong trào canh tân đất nước vào nửa sau thế kỷ XIX

Đất nước thống nhất chưa được bao lâu thì lại bị đặt dưới sự xâm lược của thực dân Pháp Lúc đầu, chúng tiến hành những cuộc giao thương, trao đổi hàng hóa đối với nước ta rồi dần dần chúng chiếm lĩnh một số nơi trên đất nước Năm

1862, ba Tỉnh miền Đông Nam Kì (Gia Định, Định Tường, Biên Hòa) rơi vào tay Pháp; tiếp theo năm 1867, là ba tỉnh miền Tây nam kì (Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên) Đằng sau những lợi ích về kinh tế là mưu đồ chính trị đã được thực dân Pháp nung nấu từ lâu Bằng con đường ấy, thực dân Pháp thôn tính toàn bộ nước ta Từ hiệp ước Nhâm Tuất (1862) đến hiệp ước Giáp Tuất (1874) và thương ước tháng

Trang 28

8/1874 chứng tỏ sự yếu hèn của triều đình trước thời cuộc Một số quần thần và cả nhà vua phải chăng không thấy được dã tâm của kẻ thù hay cố tình chấp nhận sự sắp đặt do chúng đề ra (?!) Sự lấn lướt của thực dân Pháp càng khơi gợi lòng căm thù và tinh thần đấu tranh của nhân dân ta Nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra nhằm chống lại sự xâm lược đó Song, chính sự bất cập của triều đình đã đưa phong trào kháng chiến của nhân dân rơi vào tình cảnh khó khăn hơn Những phong trào đó vừa mất chỗ dựa ở triều đình vừa bị phản kích mạnh mẽ từ phía kẻ thù

Trong khi đó, triều đình lại tiếp tục thực thi các chính sách bế quan tỏa cảng, cấm đạo với việc duy trì hệ tư tưởng Nho giáo đã lỗi thời làm cho khủng hoảng kinh

tế - xã hội càng thêm trầm trọng Song, thực tiễn thời cuộc lúc ấy chưa cấp bách phải phát triển dân tộc theo tư bản chủ nghĩa, nhưng công cuộc duy tân, cải cách đất nước theo con đường tự cường, tự trị là rất cần thiết Đây chính là tiền đề khách quan để hình thành tư tưởng canh tân của Đặng Huy Trứ nói riêng và tư tưởng canh tân của những nhà tư tưởng đương thời nói chung

Mặc khác, khi nhà Nguyễn được thiết lập, ý thức hệ Khổng giáo trở thành hệ

tư tưởng của giai cấp cầm quyền Nó chi phối toàn bộ đời sống tinh thần của xã hội Chính sách giáo dục của triều Nguyễn cũng dựa trên nền tảng ý thức hệ đó

Dưới triều Nguyễn việc đào tạo quan lại, giáo dục khoa cử được khôi phục

và được các vua coi trọng Khi vua Gia Long lên ngôi cũng từng nói: “Khoa mục là

con đường bằng phẳng của học trò, thực không thiếu được, nên phải giáo dục thành tài, rồi sau thi hương, thi hội lần lượt cử hành, thì người hiền tài sẽ nối nhau lên giúp việc” [10, tr.54]

Để có nhiều quan lại phụng sự cho triều đình, nhà Nguyễn đã dùng chế độ khoa cử làm công cụ tuyển chọn Thời Minh Mệnh mở khoa thi Hội đầu tiên để lấy học vị tiến sĩ các loại Suốt thời Minh Mệnh có tất cả là sáu khoa thi Hội được tổ chức với 969 người dự thi có 77 người đỗ Vua Thiệu Trị mở được năm khoa thi Hội (trong bảy năm trị vì) lấy trúng cách 48 người trên 995 người dự thi Đến thời

Tự Đức, vào những năm 1848 – 1853 quy định cụ thể về phép thi Hội và trong các năm 1848, 1849, 1851 đã mở các khoa thi Hội có 990 người dự thi, có 30 người đỗ

Trang 29

trúng cách, 36 người được xếp hạng phó bảng [10, tr.69-70] Trên phương diện này, nhà Nguyễn tiếp thu mô hình giáo dục, đào tạo của những triều đại đi trước, đặc biệt

là nền giáo dục hoàn thiện của nhà Lê (thời Hồng Đức) Nội dung của nền giáo dục chủ yếu dựa vào Nho giáo, lấy học thuyết Khổng, Mạnh làm cơ sở để dạy dỗ luân

lý, đạo đức, bồi dưỡng kiến thức, rèn luyện nhân cách theo khuôn mẫu người “quân tử” – mẫu người “trị nước” So với thời đại, nội dung ấy đã trở nên quá bất cập Vì sao lại có hiện tượng quá bi đát ấy? Mẫu người được đào tạo xa rời thực tiễn, quay lưng với những biến động của thời đại, những tiến bộ của khoa học – kĩ thuật Số người đỗ đạt nhiều, quan lại đông, song, không phát huy được hết tác dụng Điều đó chứng tỏ hệ ý thức phong kiến Nho giáo tỏ ra hoàn toàn bất lực, hoàn toàn thất bại trước yêu cầu của thời cuộc Tư tưởng của họ bị chìm đắm hoàn toàn trong những

nguyên lý “Pháp tiên vương”, “nội hạ”, “ngoại di” của Nho giáo và của bọn thống

trị phong kiến Trung Quốc Chính tình hình đó đòi hỏi phải có một hệ tư tưởng mới Hàng loạt những tư tưởng cải cách của những người yêu nước được hình thành như một tất yếu khách quan, tư tưởng cải cách của Đặng Huy Trứ được ra đời dựa trên

cơ sở đó

1.3 Sự hình thành tư tưởng cải cách của Đặng Huy Trứ

1.3.1 Điều Kiện, Tiền Đề Hình Thành Tư Tưởng Cải Cách Đặng Huy Trứ

1.3.1.1 Điều Kiện Hình Thành Tư Tưởng Cải Cách Đặng Huy Trứ

Điều kiện trước hết chính là từ kẻ thù xa lạ uy lực chưa từng thấy đã nổ súng chiếm đóng bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng vào 1858 Thực xâm Pháp chính thức xâm lược nước ta, sau những tháng ngày âm thầm âm mưu che đậy bằng sứ mệnh khai hóa văn minh Sự chính thức ấy cũng bắt đầu chấm dứt sự dây dưa, trì trệ trong đời sống tư tưởng Việt Nam thời kỳ này Tư tưởng cải cách của những nhà Duy Tân, tỏ tường nhất về âm mưu của kẻ thù Tây phương đã xuất hiện Đây cũng là điều kiện tiên quyết để tư tưởng cải cách của Đặng Huy trứ được chắc chắn, không thể chủ hòa để cải cách

Ngày 5-6-1862 Hiệp ước “Hòa bình và hữu nghị” buộc phải cho cho Pháp 3

tỉnh Đông Nam Kì và đảo Côn Lôn “đã thế còn phải bồi thường chiến phí

Trang 30

4.000.000 đô la (tương đương 2.880.000 lạng bạc) rồi mở các cửa biển Đà Nẵng, Ba Lạt, Quảng Yên cho Pháp và Tây Ban Nha để chúng tự do mua bán Đất nước đứng trước nguy cơ xâm lược của giặp pháp [23, tr 293] Sau khi mất 3 tỉnh Đông Nam

Bộ triều đình nhà Nguyễn lại tỏ ra yếu đuối và luôn sẵn sàng nhượng bộ mọi yêu sách oái oăm của địch, cấm tụ tập, cấm mộ binh chống giặc Tất cả sự nhượng bộ hèn nhát ấy là do đâu? Sự tham lam ngôi vị muốn dâng hiến nền độc lập của vua Nguyễn để được sự bảo hộ cho ngôi vị, hay là sự bảo thủ tư tưởng của hệ tư tưởng phong kiến đã ngấm ngầm, cắm rễ sâu trong da thịt quân thần

Tình cảnh đất nước ngày càng lâm nguy, vào năm 1863 xuất hiện các tư

tưởng cải cách, canh tân đất nước của Nguyễn Trường Tộ “bàn về những tình thế

lớn trong thiên hạ” (3-4/1863), của Phạm Phú Thứ là những ghi chép về các điều

mắt thấy tai nghe khi đi cùng Phan Thanh Giản đi chuộc lấy 3 tỉnh Đông Nam Kỳ (1863); của Trần Đình Túc đơn tâu xin khai khẩn đất hoang ở Thừa Thiên và Quảng Trị (1863-1864), và xin khai mỏ sắt Hương Trà và Thừa Thiên (1867); của Đặng Huy Trứ là tài liệu viết về đóng tàu chạy bằng hơi nước (1865) và lời tâu xin và điều hành hoạt động của Ty Bình Chuẩn (1865,1866) Với Đinh Văn Điền - một giáo dân bình thường ở Yên Mô, Ninh Bình- là đề nghị nha Dinh Điền lãnh đạo việc khai hoang, khai thác một số mỏ mới, đóng hỏa thuyền, dựa vào chuyên gia phương Tây, lập các kho Bình Chuẩn để lưu thông hàng hóa, cho nhân dân được tự

do học binh thư, binh pháp luyện tập quân sĩ, thưởng phạt nghiêm minh, ưu đãi thương binh và gia đình liệt sỹ (1866) [23, tr.294]

Có thể thấy đánh dấu sự ra đời của tư tưởng cải cách của Đặng Huy Trứ cũng cùng thời điểm 1863 khi đất nước đã mất một phần đất đai về tay giặc

Điều kiện thứ hai cũng góp phần không nhỏ vào sự hình thành tư tưởng của Đặng Huy trứ là cơ hội đi sang những vùng nước ngoài chịu ảnh hưởng của văn minh phương Tây Khi đóng vai trò là sứ giả đi cùng Phan Thanh Giản sang nghị hòa chính sự, lần đầu tiên Đặng Huy Trứ được mở mang tầm mắt nhìn thấy những nét sống Tây phương của những người Hoa kiều, những người mắt xanh mắt đỏ sang trọng và sành điệu sử dụng những phương tiện kĩ thuật phát triển Trong giai

Trang 31

đoạn hiện tại thì rất ít quan thần được ra ngoại quốc nên việc tiếp thu các tư tưởng bằng ngoại ngữ cũng bị hạn chế, mãi sau này khi quá trình Âu hóa đi từ Trung Quốc

thì “Tân Thư” mới được biên soạn bằng chữ Hán, nhờ đó tư tưởng cải cách canh

tân mới được các thần quan văn võ tiếp cận Đấy cũng là điều kiện quan trọng để hình thành tư tưởng cải cách của Đặng Huy Trứ

Điều kiện cuối cùng là bên trong đất nước, văn minh phương Tây thực ra đã sớm du nhập vào Việt Nam từ các thế kỷ trước, qua con đường thông thương buôn bán và truyền đạo của các giáo sĩ Kitô Các giáo sĩ Kitô lại có quan hệ mật thiết với các binh đoàn viễn chinh phương Tây Điều này cũng hiểu được vì sao vua quan

triều Nguyễn e dè và cấm đoán giao thương ngoại quốc thực hiện chính sách “bế

quan tỏa cảng” Nhưng cùng với sự du nhập đó cũng là sự xuất hiện của những

luồng gió mới mẻ về tri thức, tư tưởng và thực tiễn văn minh phương Tây khi các

sĩ phu cấp tiến được tiếp thu trực quan những điều khoa học phát triển Đi cùng với các giáo sĩ Kitô là bộ kinh thánh, cùng với muôn vàn tri thức khoa học, các thương nhân và lối sống cởi mở của họ và các binh đoàn viễn chinh là khí giới, súng ống hiện đại Luồng gió mới đó sớm cập cảng và chiếm đóng, bén rễ, ăn mầm vào lòng

ba tỉnh và rồi sáu tỉnh Nam Kỳ, khiến cho tư tưởng Việt Nam phải thức tỉnh Tư tưởng cải cách, canh tân cũng từ điều kiện ấy mà ra Tư tưởng cải cách của Đặng Huy Trứ lại có thêm điều kiện để hình thành

1.3.1.2 Tiền Đề Hình Thành Tư tưởng cải cách của Đặng Huy Trứ

Tư tưởng cải cách Đặng Huy Trứ không chỉ phản ánh điều kiện lịch sử - xã hội mà còn bắt nguồn từ truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam, nổi bậc là chủ nghĩa yêu nước, tinh thần nhân ái, cố kết cộng đồng dân tộc đã được hun đúc qua hàng ngàn năm đấu tranh kiên cường, bất khuất, tự lực tự cường, sáng tạo chống giặc ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập dân tộc, chống lại âm mưu đồng hóa của ngoại bang

Trước hết, tư tưởng cải cách Đặng Huy Trứ là sự kế thừa từ truyền thống yêu nước của dân tộc, đây là giá trị rất quan trọng, là hạt nhân, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam Có thể thấy rằng Việt Nam là một

Trang 32

quốc gia được hình thành từ rất sớm, trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước Tinh thần yêu nước trở thành đạo lý sống, niềm tự hào và là một nhân tố đứng đầu trong bảng giá trị tinh thần của con người Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh đã

tổng kết: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu

của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi tổ Quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cũng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm khó khăn, nó nhấn chìm tất cả bè lũ bán nước và lũ cướp nước…” [13, tr.171] Truyền

thống yêu nước đó được Đặng Huy Trứ thể hiện một cách sinh động không chỉ trong tư tưởng mà nó còn là kim chỉ nam trong suốt cuộc đời hoạt động phụng sự triều đình, phụng sự Tổ quốc nhằm mục chống lại sự xâm lược của thực dân Pháp của ông Truyền thống đó trước hết là sự xót thương trước cảnh nước mất, nhà tan, hoàn cảnh túng quẫn của nhân dân Quan điểm yêu nước trong ông còn biểu hiện qua lòng căm thù giặc, sẵn sàng hy sinh, chịu vất vả

Tư tưởng cải cách Đặng Huy Trứ còn là sự kế thừa truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam Đất nước ta do những điều kiện địa lý, nằm trong vùng cận nhiệt gió mùa, bờ biển dài, nhiều sông ngòi, bão, lũ thường xuyên xảy ra, lại là một dân tộc có nền nông nghiệp lúa nước, nên vấn đề trị thủy được đặt lên hàng đầu Nhưng việc trị thủy đòi hỏi sức mạnh của một cộng đồng, nên để làm được mọi người phải đoàn kết với nhau Mặt khác, là đất nước có vị trí địa lý thuận lợi nên luôn luôn bị các thế lực ngoại xâm to lớn hơn mình đe dọa và xâm lược, muốn chiến thắng đòi hỏi phải có sức mạnh của một cộng đồng bằng sự đoàn kết Như vậy, đoàn kết tạo nên sức mạnh to lớn, trong công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam

Những giá trị đó luôn được Đặng Huy Trứ quan tâm, trân trọng, nó đã trở thành tư tưởng và những hành động cụ thể của ông Trong điều kiện lịch sử - xã hội Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX, ông đã đưa ra tư tưởng làm đồn điền, mọi người cùng nhau khai hoang đất đai, làm đồn điền kết hợp thông thương

Tư tưởng của Đặng Huy Trứ cũng kế thừa tư tưởng nhân ái, thương người như thể thương thân hết sức sâu sắc của dân tộc Việt Nam Dân tộc Việt Nam là

Trang 33

một dân tộc giàu lòng nhân ái Điều này thể hiện rất rõ qua thơ ca, tục ngữ Việt

Nam như: “Bầu ơi thương lấy bí cùng; tuy rằng khác giống nhưng chung một

giàn”, “Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”, “Lá lành đùm lá rách”… Hay trong lịch

sử dân tộc Nguyễn Trãi từng tha cho 10 vạn quân Minh, đóng thuyền, cấp ngựa, lương thực cho quân này về nước Tiếp thu truyền thống nhân ái ấy của dân tộc trong suốt cuộc đời của mình, Đặng Huy Trứ đã thể hiện một tình yêu bao la đối với con người, từ cha mẹ, người thân đến những người lao động nghèo khổ, nhân dân bị

áp bức bóc lột, đến những người quân sĩ Chính bản sắc văn hóa sâu đậm, những nền tảng truyền thống quý báu của dân tộc đã tạo nên sức mạnh tinh thần để chống lại âm mưu đồng hóa của kẻ thù xâm lược Những truyền thống quý báu đó đã được Đặng Huy Trứ nâng niu, nuôi dưỡng và phát triển, trở thành cơ sở, niềm tự hào, khắc sâu vào tâm trí, vun đắp trở thành hành động, triết lý sống là một trong những tiền đề quan trọng trong việc hình thành tư tưởng cải cách của ông

Tư tưởng Đặng Huy Trứ là sự kế thừa các giá trị tư tưởng Nho giáo từ truyền thống gia đình, đây là tiền đề tư tưởng quan trọng nhất đối với sự hình thành tư tưởng của ông Xuất thân từ gia đình nho giáo, Ông nội là Đặng Quang Tuấn (1752-1825), một nhà Nho nổi tiếng suốt đời làm thầy dạy thành đạt ba người con đều

thông hanh lời hay ý đẹp của người xưa để lại “Truyền thống của gia đình đúng là:

cha dạy con, anh bảo em, chú bác dìu dắt con cháu cùng nhau trau dồi đức hạnh và kiến thức” Ta rõ điều này qua cuốn sách “ Đặng Dịch Trai ngôn hành lục” của

Đặng Huy Trứ ghi lại những lời nói và việc làm của cha mình.”[21, tr.17] Nên “từ

năm 12 tuổi thì biết sơ cách ngắt câu khi đọc Ngũ kinh, Tứ truyện và Tam sử”, đến

năm “14 tuổi đã thông hiểu thể văn tam trường” Có thể thấy rằng chính vì xuất

thân này nên tư tưởng của Đặng Huy Trứ ảnh hưởng sâu sắc nền tảng tư tưởng của

Nho giáo Về con người “quân tử” về đạo làm tôi trung, đạo làm con hiếu thảo, học

theo các bậc thánh hiền Nghiêu, Thuấn Phân biệt kẻ kiểu nhân và người quân tử

Ông viết trong bài “Quân tử bất tố san” nghĩa là “Quân tử không ăn không”:

Sao kẻ tiểu nhân thích ăn không

Để cho ngày tháng cứ trôi uổng?

Trang 34

Ta là ai? Chẳng gieo gặt,

Ăn của người, không chút công lao.[17, tr.169]

Ông chỉ ra rằng những kẻ tiểu nhân thường thích ngồi chức vị cao, thích người chức vị cao nhưng chỉ ăn không ngồi rồi vác cái xác đi qua lại uổng ngày đoạn tháng Suốt ngày tính chuyện ăn của dân làm nông, ăn của người mà chẳng chút công lao gì với dân chúng Người quân tử là người dũng cảm sửa sai lỗi lầm của mình

Các tư tưởng về Đạo làm con hiếu Ông cho rằng đạo làm con phải làm “rạng rỡ” cho cha mẹ, phải sống sao không thổ thẹn khi cha mẹ đã về với đất Hay trong

bài “Lui lại ngày đi Quảng Đông gặp đúng ngày giỗ Thái Nghi Nhân” Ông viết:

Ở đâu cũng lòng thành lễ mọn

Đây Nhị Hà nghĩ tưởng Châu Giang

Một ngày giỗ, suốt đời tang

Sắp sang đất khách, chân con chưa dời [17, tr.408]

Mỗi lần đi xứ, làm quan xa nhà là mỗi lòng ông trĩu nặng âu sầu vì thương cho mẹ lo cho cha đã già không ai chăm sóc Cũng như thấy lỗi với đạo người mà tư

tưởng Khổng giáo đã đề “Phụ mẫu tại bất viễn du” Thế rồi vì thương nước lo dân,

cái đạo tôi trung ông lên đường chăm lo cho dân chúng, đi xứ ắt chỉ mong cầu dân

no ấm, bờ cõi đất nước được bình yên

Nói về đạo làm tôi trung, người làm quân tử, đạo làm con hiếu ông còn viết viết khi Ông đi thi đỗ đạt thi cử, lúc lấy tự hiệu là Tĩnh Trai vào Năm Đinh Mùi khi

đỗ đạt làm quan, ông muốn rời bỏ nơi “ mê muội” sống những ngày tu tỉnh

Tư tưởng Đặng Huy Trứ chịu sự tác động của triết lý Phật giáo Nhiều tựa đề

tác phẩm của ông có chủ đề về Phật, chùa chiền, lòng bác ái, từ bi: “Chùa chiền,

lăng tẩm Chiêm Sơn”, “Cáo Thần, Phật”, “Tượng Phật”, “Đến chùa bái Phật xin cạo đầu” Ông nhận định rằng “tâm” của Phật là “từ bi” là cứu rỗi chúng sinh đến

niết bàn an lạc Không vướng bận, không đau buồn từ bỏ cái ác, cứu giúp loài người vượt qua khổ não

Trang 35

“Thuyết nhân quả” gieo nhân nào gặp quả đấy, ta bà là cõi tạm trần gian

Lấy lòng nhân ái làm tâm của Phật Đừng gieo nhân ác, lừa dối mọi người, bám víu vào Phật để nuôi béo mình, xuất gia đi tu nấp sau cửa phật làm điều gian trá lừa gạt

bao người khờ dại Muốn chứng minh lòng thiện hãy đem lòng từ bi, nhân ái mà

cứu giúp những người bên cạnh, Phật đạo xuất từ tâm chứ không phải nằm ở lễ Phật

cúng bái “Nhân tâm tức thị Phật Phật tại tâm Xin chớ ngờ gì tôi Muốn chứng

minh cái hay của đạo Bồ đề hay đem lòng nhân ái mà làm điều thiện Chớ để bọn này mê hoặc mới tránh được bậc thức giả chê cười” [17, tr.210]

Tư tưởng của Đặng Huy Trứ cũng chịu sự tác động của Đạo giáo mạnh mẽ

Đó là tư tưởng hòa mình với thiên nhiên vạn vật Con người được “dẫn” vào thiên nhiên được tự tay mình làm tất cả gắn bó ruộng vườn, gánh nước tưới tiêu, vui với hoa bầu bạn cùng trúc là quý báu

Ông lão, rau xuân, một mảnh vườn

Tự tay xách nước tưới chăm luôn

Thay mưa móc, thấm đều cành gốc,

Dốc lực tâm vào sớm lẫn hôm

Vui với hoa bầu cùng trúc bạn, [17, tr.77]

Thuận mình theo thiên lý tuần hoàn của đạo, mọi sự tùy duyên đến đi theo cái lẽ của trời đất càn khôn Con người sống là hư không, chết cũng về hư không liêm khiết giữ mình trong sạch với bản thân, với dân chúng, vạn vật, mọi sự ắt hẳn

“vô vi” có có lại không, lòng người như là nước vừa đục lại vừa tròn, cứ xoay

chuyển tạo dời biến đổi theo vòng lặp luẩn quẩn:

Nước có trong trong, đục đục trong

Lòng người như nước, đục và trong

Nước, lòng, lòng, nước trong trong đục,

Gạn đục khơi trong, đục đục trong [17, tr.469]

Sự ảnh hưởng Tân Thư trong tư tưởng cải cách Đặng Huy Trứ sâu sắc nhất

là tư tưởng tự cường, tự trị, giải phóng dân tộc bằng con đường tự cường, tự trị Đến

Trang 36

khi Trung Quốc đã bị đế quốc xâu xé thì tư tưởng canh tân đổi mới ở Trung Quốc

đã là một làn sóng mạnh mẽ, họ ăn mặc kiểu Tây, hút thuốc phiện của Tây và cắt cả sam tóc truyền thống của mình Tư tưởng trong Tân Thư được viết bằng chữ Hán và được truyền về nước Lần này những cái mới mẻ được Tân Thư ghi chép lại đã làm cho triều đình nhà Nguyễn mở mang tầm mắt về văn minh Phương Tây Cũng trong Tân Thư hàng loạt tư tưởng canh tân đất nước cũng được cái văn võ sĩ phu chiêm nghiệm và học hỏi Trong đó có các sĩ phu yêu nước tiếp thu mạnh mẽ luồng gió mới này như: Đặng Huy Trứ ,Nguyễn Trường Tộ, Phạm Phú Thứ, Trần Đình Túc, Nguyễn Lộ Trạch Tất cả những tư tưởng tự cường, tự trị canh tân đất nước hầu hết được viết bằng tiếng nước ngoài và tiếng Quảng Châu nên nên Đặng Huy Trứ phải

ghi chép lại, tấu trình với vua trước triều đình với tinh thần Cái gì dùng được thì

dùng Trải qua hàng loạt biến động trong nước dưới sự lụi tàn của triều Nguyễn, cũng như nhiều lần mở mang đi sứ, thì tư tưởng tự lực, tự cường, tự trị trong Tân Thư như đã nhóm lên ngọn lửa con đường cứu dân, cứu nước giải phóng dân tộc trong Đặng Huy Trứ

Tư tưởng cải cách đất nước trên lập trường tự cường tự trị được xem là trào lưu điển hình trọng yếu nhất, được các nước đề ra thực hiện và là con đường tốt nhất để giúp các quốc gia phương Đông tránh khỏi sự xâm lược của thực dân Phương Tây

Nhận định của Đặng Huy Trứ về con đường cải cách đất nước ví như là một

liều thuốc hữu hiệu “chữa căn bệnh” bế tắc con đường giải phóng dân tộc: “quả

thật trước đây, tôi không tính toán được như vầy, chỉ tính việc nhỏ nhặt đã cho là tận tâm với phần việc của mình” [17, tr.438] Chính những nhận định như thế có thể

nói Tân Thư có sức ảnh hưởng sâu sắc góp phần tạo cơ sở tiền đề cho sự hình thành

tư tưởng cải cách của Đặng Huy Trứ

Trang 37

1.3.2 Cuộc Đời, Sự Nghiệp Và Sự Hình Thành Tư Tưởng Cải Cách Của Đặng Huy Trứ

1.3.2.1 Cuộc đời và sự nghiệp của Đặng Huy Trứ

Đặng Huy Trứ sinh 1825 trong gia đình có nhiều đời Nho học và nhận được

sự ân sủng của nhiều đời vua Nguyễn

Năm 1843, khi ông 18 tuổi ông đã thi đỗ cử nhân Năm 1847, Ông đi thi Hội, thi Đình được đỗ cả tiến sĩ, nhưng vi phạm húy ông đã bị tước cả cử nhân có tư cách tiến sỹ, bị phạt 100 roi và cấm thi trọn đời Sau này ông dạy dỗ được nhiều con

em của các quan lại trong Triều đỗ đạt, các quan lại đã tâu xin cùng vua Nguyễn để Ông được tư cách thi cử Ông đã thi đỗ đạt và làm quan

Năm 1856, năm ông 31 tuổi, ông được cử đi kiểm tra tàu thuyền, trong khi Giặc chưa kịp nổ súng xâm lăng thì Ông đã nêu rõ thái độ chủ chiến để chống giặc

trong bài “Vãng quân thứ Đà Nẵng tức sự”

Năm 1857- 1862, ông lần lượt giữ các chức quan ở tỉnh huyện và làm việc ở Nội các, với chức vụ Ngự sử

Năm 1865, Ông được cử làm Bố Chánh ở Quảng Nam nhận trách nhiệm cứu đói cho dân Cũng cùng năm này Ông nhận nhiệm vụ lên đường sang Trung Quốc thám thính dương tình Cũng trong dịp này mà ông đã tận mắt chứng kiến sự phát triển của khoa học kĩ thuật hiện đại của Tây phương khi nó vào Trung Hoa, Ông đã ngạc nhiên và viết tài liệu về việc đóng tàu chạy bằng hơi nước Có thể khẳng định rằng Ông là người đầu tiên khai hóa đem kỹ thuật đóng tàu của Đông Dương về Việt Nam

Năm 1866 ông được cử làm biện lý Bộ Hộ, nhân cơ hội này Ông đã xin thành lập Ty Bình Chuẩn ở Hà Nội lo cho việc lưu thông hàng hóa, kinh doanh gây dựng tài chính cho quốc gia

Năm 1867, Ông được cử làm Bố tránh Nam Định, do không nhịn được nổi trước nạn tham nhũng nên ông đã nhiều lần chống trả và bị cách chức và điều đi thứ Bắc Ninh Cũng trong năm này Ông lại được cử sang Quảng Châu, lại còn lập thành tích khi mua về được 239 khẩu đại pháo gửi về phục vụ cho quân sự nước nhà

Trang 38

Nhân dịp này ông đã viết bài “Trong khi ốm được Dã Trì chủ nhân chỉ giáo” nêu rõ

tinh thần tự cường đất nước, cải cách đất nước để cứu dân tình, quốc gia Ngoài ra ông còn viết một số tác phẩm khác để trình bày về tư tưởng cải cách và mua tân thư, binh thư, máy móc, vật liệu chụp ảnh để đem về nước

1868, khi 6 tỉnh Nam kì đã rơi vào tay Pháp, ông ở lại miền Bắc thực hiện công tác quân sự Viết binh thư và kinh doanh Về sau kinh doanh gặp khó khăn và cấm đoán của vua quan triều Nguyễn nên đóng cửa

1873, ông theo quân đội của Hoàng kế viêm đánh dẹp biên giới Khi quân của Hoàng kế viêm rút về Đồn Vàng để chống Pháp Tại đây ông lâm trọng bệnh và

sống những ngày cuối đời trong day dứt Ông viết: “Phong trần không nhuốm thế là

tiên rồi Đã giữ lòng chính đính và tốt, sao lại buồn thần tuổi già” Ông từ trần

ngày 7-8-1874 Tự Đức ngờ là ông “lập mưu khác”, ra chiếu vụ có đoạn: “hơi có

học vấn một chút, cũng không phải là vô dụng, gia ân cấp cho 100 quan tiền; lại chuẩn cho quan tỉnh ấy (Hà Nội) đưa linh cữu về chôn cất ở nguyên quán” Bắt

đem thi hài ông về Huế, còn cho người mở nắp quan tài ra xem là ông có chết thật hay không Mộ phần của Ông hiện đang chôn cất ở huyện Hương Điền thuộc tỉnh Thừa Thiên (Theo kết quả nghiên cứu của Gs Lê Sỹ Thắng )[23, tr 334]

1885, cháu của Đặng Huy Trứ là Đặng Huy Phổ đem quân đánh kinh thành Huế lúc quân Pháp đang chiếm đóng kinh thành Cuộc khởi nghĩa thất bại, Đặng Huy Phổ bị xử tử và giặc Pháp đã đốt hết thư viện nhà họ Đặng Rất nhiều tác phẩm của Đặng Huy Trứ đã chôn vùi với lửa nhưng tư tưởng của Ông đã được truyền tụng trong nhân dân

1.3.2.2 Sự hình thành tư tưởng cải cách của Đặng Huy Trứ

Theo công trình nghiên cứu của PGS.TS Cao Xuân Long thì sự hình thành tư tưởng của Đặng Huy trứ được phân chia theo hai giai đoạn, căn cứ vào nội dung, quan điểm của các tác phẩm đánh giá sự biến đổi trong tư tưởng của Ông:

Giai đoạn thứ nhất - Trước khi thực dân Pháp Xâm lược (từ năm 1858 về trước)

Trang 39

“Chủ đề tiêu biểu, xuyên suốt trong các tác phẩm của Đặng Huy Trứ ở giai đoạn này là tình yêu quê hương, đất nước trên nền tảng của hệ tư tưởng Nho giáo.”[18, tr 67] Giai đoạn này thể hiện tập trung tư tưởng ở các nội dung:

Thứ nhất, tự hào về các cảnh đẹp của quê hương đất nước và truyền thống quý báu của dân tộc Bằng thơ ca Đặng Huy Trứ đã vẽ lại bức tranh quê hương xứ

sở trong thanh bình, gần gũi, mộc mạc mà êm đềm trong những năm tháng mà thực dân Pháp chưa tiến đánh: con trâu, con cá, bến nước, ánh trăng khuya

Thứ hai, tư tưởng yêu thương con người, dân tộc, đồng cảm, thấu hiểu nỗi

vất vả của người lao động Như các tác phẩm: “Ông già đan đồ trẻ”, “Thợ cày vực

nghé”, “ người đàn bà chăn tằm”, “Bà vú nuôi tre”,

Thứ ba, phê phán những hủ tục mê tín dị đoan, những thói hư tật xấu của nhân dân, khi đất nước còn yếu kém thì lại sà đà trông chờ vào những đấng siêu nhiên ma mị, suy đồi Tư tưởng này được ông thể hiện rõ ràng và thẳng thắng trong

2 bài Hịch được viết năm 1857: “Hịch hủy miếu thờ nhảm”, “Hịch cấm đền thờ

nhảm”

Bọn tà ma ấy

Gần lỵ sở ta!

Hồn nương miếu nát, luôn gây họa cho con trẻ đàn bà,

Giấu cõi trần, chuyển thành tai cho lũ người ngu xuẫn

Có vài hào lợi nhỏ nhoi,

Đều trút vào lọ hương hỏa

Đâu từng cứu nước giúp dân?

Chỉ luống nhiễu người hại vật [17, tr.156]

Giai đoạn hai- Từ khi thực dân Pháp Xâm lược nước ta (từ năm 1858 về sau)

Chủ đề xuyên suốt của giai đoạn này vẫn là tinh thần yêu nước Tình yêu quê hương đất nước nồng nàn thể hiện qua sự căm thù quân giặc sâu sắc, cũng như là sự suy tư con đường nào cho dân tộc thoát khỏi giặc man di đang ngày đêm lăm le bờ

cõi Trong bài viết “Đi quân thứ Đà Nẵng, ghi lại” Ông viết:

Trang 40

Một vùng Đà nẵng rợ tây Dương

Giữ nước, quân dân mệt lạ thường

Cuối tiết tàn thu cơn lũ lụt,

Muôn nhà thiếu bữa cảnh thê lương

Diệt thù, sương gió thương quân sĩ,

Lo nước, đêm ngày bận đế vương

Ăn lộc, ví cùng lo việc nước,

Tính sao? Hòa, chiến, giữ hay nhường? [13, tr.151]

Cũng trong chính giai đoạn này điều kiện lịch sử đã tạo ra các tiền đề cho phép Đặng Huy Trứ hình thành tư tưởng cải cải mạnh mẽ Nếu giai đoạn trước tinh thần yêu nước ấy thể hiện sâu sắc qua việc miêu tả chân thực hiện thực bức tranh quê hương, người lao động và phê phán các thói hư tật xấu hủ tục trong truyền thống văn hóa, thì nay tư tưởng của Đặng Huy Trứ là yêu quê hương nên tìm kiếm đường lối bảo vệ đất nước bằng chiến đấu chống kẻ thù bằng tư tưởng tự lực tự cường, áp dụng thành tựu của khoa học kĩ thuật Lúc làm quan thì kiên quyết chống

tệ nạn tham nhũng, bòn rút xương máu nhân dân như “Nguyên tắc chủ yếu của việc

không nhận và nhận biếu”, “Quân tử không ăn không”, “Sắp làm sớ tố giác”,

“Cáo thần, phật”, “Sung làm Phó Đổng Lý Thanh tra Vũ Khố” Lúc đi xứ thì hứng

thú, tìm tòi cái hay cái phát triển của văn minh Tây phương mà mang về nước, hết

lòng trung thành tâu xin, bàn luận thực thi việc cải cách như: “mong tin vui sứ bộ đi

tây”, “mong người hiền như khát nước”,“đi lĩnh chức Bố Chánh Quảng Nam”,“nước ta mới đóng chiếc tàu lớn chạy bằng hơi nước”, “khai trương công việc Bình Chuẩn” Dù là giỗ cha, xa mẹ xa quê hương, hay lúc ốm đau bệnh tật

cũng đều nhận trách nhiệm lên đường theo lệnh của triều Nguyễn

Tiểu Kết Chương 1

Trong bối cảnh chủ nghĩa đế quốc bành trướng xâm chiếm thị trường thuộc địa trên thế giới thì nhiều quốc gia dân tộc phương Đông vì yếu thế trong sự phát triển khoa học kĩ thuật đã dễ dàng bị xâm lược Việt Nam sau bao biến cố cũng thống nhất được nền tự trị của dân tộc nhưng từ khi vua Nguyễn Ánh lên ngôi sự

Ngày đăng: 21/06/2021, 01:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w