1 BÀI TẬP THÁNG THỨ NHẤT Vấn đề 1 Được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật Tóm tắt bán án số 192017DS ST ngày 0352017 của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ tỉnh Vĩnh Long Chủ thể Ngân hàng NN PTNT VN (nguyên đơn) – anh Đặng Trường T (bị đơn) Tranh chấp Tranh chấp đòi lại tài sản Lí do Chị Huỳnh Diệu T nộp số tiền mặt 5 000 000 đồng tại Phòng giao dịch xã TB thuộc Chi nhánh NN PTNT để chuyển cho anh Đặng Trường T nhưng chị Trương Thị V là kế toán trưởng do bất cẩn đã chuyển nhầm số tiền.
Trang 1BÀI TẬP THÁNG THỨ NHẤT Vấn đề 1: Được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật
Tóm tắt bán án số 19/2017/DS-ST ngày 03/5/2017 của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ tỉnh Vĩnh Long
- Chủ thể: Ngân hàng NN & PTNT VN (nguyên đơn) – anh Đặng Trường T (bị đơn)
- Tranh chấp: Tranh chấp đòi lại tài sản
- Lí do: Chị Huỳnh Diệu T nộp số tiền mặt 5.000.000 đồng tại Phòng giao dịch
xã TB thuộc Chi nhánh NN & PTNT để chuyển cho anh Đặng Trường T nhưng chị Trương Thị V là kế toán trưởng do bất cẩn đã chuyển nhầm số tiền là 50.000.000 đồng
- Tòa án: Buộc bị đơn Đặng Trường T có trách nhiệm trả cho nguyên đơn NN & PTNT VN số tiền 40.000.000 đồng Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa hoàn trả đủ số tiền trên thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 BLDS 2015
Câu 1: Thế nào lào được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật?
- Được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật là việc sử dụng, khai thác, chiếm hữu tài sản của người chủ sở hữu mà không dựa trên bất kỳ cơ sơ pháp lý nào của pháp luật Và khi chiếm hữu, sử dụng tài sản người chủ sở hữu không biết
là tài sản của người khác nên mặc nhiên coi đó là tài sản của mình Trường hợp này xảy ra rất nhiều trên thực tiễn (tài sản nhặt được nhưng không tìm được
chủ sở hữu,…) Những trường hợp không phù hợp với khoản 1 Điều 165 BLDS 2015 quy định về “chiếm hữu có căn cứ pháp luật” thì được xem là
chiếm hữu không có căn cứ pháp luật Hay quy định về chiếm hữu ngay tình tại
Điều 180 BLDS 2015: “Chiếm hữu ngay tình là việc chiếm hữu mà người
chiếm hữu có căn cứ để tin rằng mình có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu.”
- VD: Ông T vô tình nhìn thấy đàn heo bị lạc không có người chăn nuôi nên mặc nhiên nghĩ tài sản vô chủ và đưa đàn heo về nhà nuôi Đồng thời, ông T coi đàn heo là tài sản thuộc quyền sở hữu của mình
Câu 2: Vì sao được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật là căn cứ phát sinh nghĩa vụ?
Được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật là căn cứ phát sinh nghĩa vụ vì không có bất kỳ một điều luật nào bảo vệ cho người không phải chủ sở hữu thật sự
Trang 2của tài sản (người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật) Và dù biết hay không thì việc chủ sở hữu đã sử dụng tài sản của người khác cũng được xem là hành vi trái pháp luật Chính vì thế, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật luôn luôn phải có nghĩa vụ hoàn trả lại tài sản, thậm chí là bồi thường nếu gây
thiệt hại tài sản cho chủ sở hữu Tại khoản 4 Điều 275 BLDS 2015 quy định về
căn cứ phát sinh nghĩa vụ:
Điều 275 Căn cứ phát sinh nghĩa vụ
Nghĩa vụ phát sinh từ căn cứ sau đây:
…4 “Chiếm hữu, sử dụng tài sản hoặc được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.”
Câu 3: Trong điều kiện nào người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật có trách nhiệm hoàn trả?
Người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật đều phải có trách nhiệm hoàn
trả theo quy định tại Điều 579 và khoản 1 Điều 580 BLDS 2015:
Điều 579 Nghĩa vụ hoàn trả
1 Người chiếm hữu, người sử dụng tài sản của người khác mà không có căn cứ pháp luật thì phải hoàn trả cho chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản đó; nếu không tìm được chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản thì phải giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp quy định tại Điều 236 của Bộ luật này.
2 Người được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật làm cho người khác bị thiệt hại thì phải hoàn trả khoản lợi đó cho người bị thiệt hại, trừ trường hợp quy định tại Điều 236 của Bộ luật này.
=> Người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật kể cả trường hợp chiếm hữu ngay tình hoặc không ngay tình đều phải có trách nhiệm hoàn trả tài sản Khi người được lợi này chiếm hữu, khai thác tài sản của người khác mà không có căn
cứ pháp luật Đồng thời trong quá trình sử dụng tài sản gây thiệt hại (hư hỏng tài sản) hoặc không gây thiệt hại mà tạo ra lợi nhuận (không phát sinh từ tài sản của mình) Trong những điều kiện trên đều phát sinh nghĩa vụ hoàn trả từ người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật
Câu 4: Trong vụ việc được bình luận, đây có là trường hợp được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật không? Vì sao?
Trong vụ việc trên, anh Đặng Trường T không là người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật Để là người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật cần được hiểu là sự phát sinh quyền chiếm hữu, sử dụng tài sản của một chủ thể đối với một tài
Trang 3sản nhưng không dựa trên những căn cứ pháp luật quy định Người được lợi về tài sản không biết tài sản đó là của người khác, mà coi tài sản đó là của mình Vì tài khoản của anh T đột nhiên nhận một số tiền thì anh T có thể phải biết được rằng đây không phải là tài sản của mình mà do có sự nhầm lẫn nào đó nhưng anh vẫn sử dụng như tiền của mình thì theo nhóm, dựa vào vụ việc trên, anh T hoàn toàn có khả năng để nhận biết rằng tài sản đó không phải là của mình nên anh T không là người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật
Câu 5: Nếu ngân hàng không rút yêu cầu tính lãi chậm trả thì phải xử lý như thế nào? Cụ thể, anh T có phải chịu lãi không? Nếu chịu lãi thì chịu lãi từ thời điểm nào, đến thời điểm nào và mức lãi là bao nhiêu?
Nếu ngân hàng không rút yêu cầu tính lãi chậm trả thì anh T vẫn có trách nhiệm hoàn trả lại số tiền 40.000.000 đồng và có chịu lãi Cụ thể chịu lãi từ thời điểm kể từ ngày
có đơn yêu cầu thi hành án với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo
quy định tại Điều 357 BLDS 2015.
Vấn đề 2: Giao kết hợp đồng có diều kiện phát sinh
Tóm tắt Quyết định số 14/2015/DS-GĐT ngày 18/5/2015 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
- Chủ thể tranh chấp:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh Tao;
Bị đơn: Bà Dương Thị Bạch Diệp; chị Nguyễn Thị Châu Hà
- Giao dịch tranh chấp: Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà ở
- Lý do tranh chấp: Bà Tao đang làm thủ tục mua một căn nhà hóa giá của nhà nước Ngày 02/9/1999, Bà Tao lập hợp đồng mua bán nhà với bà Diệp Sau đó ngày 28/8/2000, bà Tao lập hợp đồng chuyển nhượng cho ông Phương (có điều kiện) Nguyên nhân phát sinh tranh chấp là do anh Lê Sơn Hải (con của bà Tao) phản đối việc mua nhà hóa giá và bán lại cho bà Diệp Nên bà Tao yêu cầu hủy hợp đồng giữa bà với bà Diệp và giữa bà với ông Phương
- Tòa án quyết định: Tòa sơ thẩm và phúc thẩm tuyên hủy hai hợp đồng giữa bà Tao với bà Diệp và bà Tao với ông Phương Tòa Giám đốc thẩm xét thấy đây
là hợp đồng có điều kiện, nên hủy Bản án sơ thẩm và phúc thẩm để xét xử lại
Câu 1: BLDS có cho biết thế nào là hợp đồng giao kết có điều kiện phát sinh không?
- Tại khoản 1 Điều 120 BLDS 2015 quy định về giao dịch dân sự có điều kiện
như sau: “1 Trường hợp các bên có thỏa thuận về điều kiện phát sinh hoặc
Trang 4hủy bỏ giao dịch dân sự thì khi điều kiện đó xảy ra, giao dịch dân sự phát sinh hoặc hủy bỏ”.
- Tại khoản 6 Điều 402 BLDS 2015 quy định: “Hợp đồng có điều kiện là hợp
đồng mà việc thực hiện phụ thuộc vào việc phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt một sự kiện nhất định”.
Như vậy, hợp đồng có điều kiện là hợp đồng chỉ phát sinh hay chấm dứt hiệu lực khi sự kiện nhất định mà các bên đã thỏa thuận phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt Ví dụ: Anh I thỏa thuận với anh A rằng F sẽ mua chiếc váy do A thiết kế với giá 500.000.000 đồng nếu chiếc váy đó đạt giải nhất trong cuộc thi thiết kế
- BLDS hiện hành có quy định về hợp đồng có điều kiện nhưng chưa có quy định cụ thể về loại hợp đồng này mà chỉ nêu chung chung khái niệm giao dịch
có điều kiện, hợp đồng có điều kiện1
Câu 2: Trong trường hợp bên chuyển nhượng tài sản chưa có quyền sở hữu tại thời điểm giao kết nhưng đang làm thủ tục hợp thức hóa quyền sở hữu, có quy định nào của BLDS coi đây là hợp đồng giao kết có điều kiện không?
- Theo quy định tại khoản 6 Điều 402 BLDS 2015 về hợp đồng có điều kiện thì
hợp đồng sẽ phát sinh hiệu lực khi sự kiện mà các bên đã thỏa thuận phát sinh
- Xét trường hợp bên chuyển nhượng tài sản chưa có quyền sở hữu tại thời điểm giao kết nhưng đang làm thủ tục hợp thức hóa quyền sở hữu thì đây là sự kiện
để xác định hợp đồng có phát sinh hiệu lực hay không Nếu thủ tục hợp thức hóa quyền sở hữu hoàn thành thì hợp đồng chuyển nhượng tài sản sẽ phát sinh hiệu lực Ngược lại, nếu thủ tục hợp thức hóa quyền sở hữu không hoàn thành thì hợp đồng chuyển nhượng tài sản sẽ chấm dứt hiệu lực
Do đó, trong trường hợp bên chuyển nhượng tài sản chưa có quyền sở hữu tại thời điểm giao kết nhưng đang làm thủ tục hợp thức hóa quyền sở hữu theo quy
định tại Điều 102 và khoản 6 Điều 402 BLDS 2015 thì đây là hợp đồng giao
kết có điều kiện
Câu 3: Trong quyết định số 14, Tòa án nhân dân tối cao có coi hợp đồng trên
là hợp đồng giao kết có điều kiện hay không?
1Lê Thị Diễm Phương, “Khái niệm về điều kiện trong hợp đồng có điều kiện”,
Trang 5
Trong quyết định trên TAND tối cao coi hợp đồng trên là hợp đồng giao kết có điều kiện
Bởi vì theo quyết định: “…tại hợp đồng ngày 27/8/2000 hai bên thỏa thuận tất cả những hợp đồng trước đây giữa bà Nguyễn Thị Thanh Tao và bà Dương Thị Bạch Diệp đã được hủy bỏ và không còn giá trị pháp lý sau khi bà Tao hoàn thành các thủ tục mua hóa giá nhà và được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà số 36 Nguyễn Thị Diệu thì hai bên sẽ làm thủ tục mua bán nhà tại Phòng Công Chứng nhà nước và tiếp tục thực hiện việc mua bán nhà.”
- Như vậy, có căn cứ xác định hợp đồng mua bán nhà 36 Nguyễn Thị Diệu giữa
bà Tao và vợ chồng ông Phương, bà Thanh là hợp đồng có điều kiện
Câu 4: Ngoài bản án này còn có quyết định nào khác đề cập đến vấn đề này không? 2
- Ngoài bản án trên còn có quyết định số 403/2011/DS-GĐT ngày 25/5/2011 của Tòa án nhân dân tối cao đề cập đến vấn đề về hợp đồng có điều kiện
- Cụ thể: “Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thấy ngày 18/5/2007 tại Phòng công chứng số 3 thành phố Hồ Chí Minh, bà Thu và bà Ngọc có kí hợp đồng đặt cọc để bảo đảm cho việc chuyển nhượng quyền sử dụng 138m2 đất tại
ấp Bình Đường 2 Theo nội dung hợp đồng thì bên A (bà Ngọc) hứa sau khi hoàn tất thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng diện tích đất nêu trên sẽ chuyển nhượng cho bên B (bà Thu) với giá 400.000.000đ bên B nhận chuyển nhượng đất sau khi bên A làm xong thủ tục chuyển nhượng Như vậy, đây là hợp đồng
có điều kiện là khi nào hoàn tất thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì
sẽ chuyển nhượng.”
Câu 5: Cho đến khi Ủy ban nhân dân bán hóa giá nhà và cấp giấy chứng nhận cho bà Tao, hợp đồng chuyển nhượng có tranh chấp đã tồn tại chưa? Vì sao?
Cho đến khi Uỷ ban nhân dân bán hoá giá nhà và cấp giấy chứng nhận cho bà Tao, hợp đồng chuyển nhượng tranh chấp trên chưa tồn tại Vì:
- Hợp đồng chuyển nhượng trên đã được Toà xác định là hợp đồng giao kết có điều kiện, nội dung cụ thể của điều kiện là “khi bà Tao đã hoàn thành các thủ tục mua hoá giá nhà và được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ”
- Chưa thoả mãn điều kiện hay nói cách khác là điều kiện chưa xảy ra
2 “Bài tập tháng môn dân sự 2”,
Trang 6- Khi đó, giao dịch (hợp đồng) không phát sinh (tồn tại) Chỉ khi nào điều kiện xảy ra, cụ thể là bà Tao hoàn thành xong thủ tục bán hoá giá nhà và được cấp giấy chứng nhận thì mới được xem là có tồn tại hợp đồng
Câu 6: Hệ quả pháp lý khi bà Tao có chủ quyền sở hữu nhà có tranh chấp?
Khi bà Tao có chủ quyền sở hữu nhà có tranh chấp thì điều kiện trong hợp đồng đã xảy ra, hợp đồng chuyển nhượng sẽ phát sinh, tức là sẽ thực sự hình thành và tồn tại Vậy khi đó, bà Tao phải tiếp tục thực hiện việc mua bán nhà theo thoả thuận giữa hai bên:
- Bà Tao phải làm thủ tục công chứng hợp đồng chuyển nhượng nhà cho ông Phương, bà Thanh để hợp đồng chuyển nhượng có hiệu lực Sau đó, bà Tao có nghĩa vụ giao nhà cho ông Phương, bà Thanh theo thoả thuận
- Ông Phương, bà Thanh có nghĩa vụ thanh toán đầy đủ giá trị căn nhà có thỏa thuận trong hợp đồng cho bà Tao
Câu 7: Suy nghĩ của anh/chị về việc vận dụng các quy định liên quan đến giao kết hợp đồng có điều kiện.
- Theo quan điểm của nhóm, việc vận dụng các quy định liên quan đến giao kết hợp đồng có điều kiện là cần thiết Vì trong thực tiễn, không phải hợp đồng nào cũng phát sinh hiệu lực khi có sự thống nhất giữa các bên mà cần có thêm điều kiện nào đó thì hợp đồng mới phát sinh hiệu lực Hiện nay, chế định về hợp
đồng có điều kiện được pháp luật nước ta (quy định tại Điều 120 và khoản 6 Điều 402 BLDS 2015) và pháp luật nhiều nước công nhận.
- Trong thực tiễn xét xử, Tòa án đã công nhận nhiều hợp đồng giao kết có điều kiện Cụ thể, tại Quyết định số 14/2015/DS-GĐT ngày 18/5/2015 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì các bên đã thống nhất về việc bán nhà nhưng hợp đồng chưa tồn tại, hợp đồng sẽ tồn tại khi có sự kiện xảy ra trong tương lai Cụ thể là sau khi bà Tao hoàn thành các thủ tục mua hóa giá và được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà thì hai bên sẽ làm thủ tục mua bán nhà
Có thể xem đây là điều kiện để hợp đồng phát sinh hiệu lực và Tòa án đã chấp nhận đây là hợp đồng có điều kiện Toà án đã vận dụng linh hoạt, khéo léo chế định hợp đồng có điều kiện trong việc xác định các bên có thoả thuận về điều kiện phát sinh hợp đồng hay không Từ đó, giúp Tòa án xác định đúng bản chất của hợp đồng có phải là hợp đồng có điều kiện hay không Đây là hướng giải quyết thuyết phục và cần được duy trì, phát triển trong các vụ án trong tương lai
Vấn đề 3: Hợp đồng chính/phụ vô hiệu
Trang 7Tình huống: Ngân hàng cho Công ty Thiên Minh vay một số tiền Việc vay
này được bà Quế đứng ra bảo lãnh bằng một bất động sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng bà Quế Việc bảo lãnh bằng bất động sản đã được công chứng nhưng không có sự đồng ý của chồng bà Quế Khi xảy ra tranh chấp, Tòa án xét rằng “hợp đồng thế chấp trên bị vô hiệu” và “không có cơ sở để buộc bà Quế phải chịu trách nhiệm dân sự đối với các khoản nợ nêu trên”
Câu 1: Thế nào là hợp đồng chính và hợp đồng phụ? Cho ví dụ minh họa đối với mỗi loại hợp đồng.
- Hợp đồng chính:
Hợp đồng chính là hợp đồng mà hiệu lực không phụ thuộc vào hợp đồng phụ (khoản
3 Điều 402 BLDS 2015).
Hợp đồng chính là một hợp đồng tồn tại độc lập và được công nhận là có hiệu lực không lệ thuộc vào sự tồn tại của hợp đồng phụ, cũng như hiệu lực của hợp đồng phụ, trừ trường hợp các bên rõ ràng có những thảo luận và ngược lại
- Hợp đồng phụ:
Hợp đồng phụ là hợp đồng mà hiệu lực phụ thuộc vào hợp đồng chính (khoản 4 Điều
402 BLDS 2015).
Hợp đồng phụ chỉ có thể xác lập tồn tại cùng hợp đồng chính và có hiệu lực lệ thuộc vào hiệu lực của hợp đồng chính
Ví dụ: Ví dụ A mua của B 100 chiếc máy tính và thuê B bảo dưỡng cho số máy tính
đó trong thời gian sử dụng; hợp đồng chính giữa A với B là mua bán, hợp đồng phụ là việc bảo dưỡng máy tính
Câu 2: Trong vụ việc trên, ai là người (chủ thể) có nghĩa vụ trả tiền cho Ngân hàng?
Trong vụ việc trên, công ty Thiên Minh là chủ thể có nghĩa vụ trả tiền ngân hàng vì công ty Thiên Minh là bên vay trong hợp đồng vay tiền với ngân hàng Bà Quế chỉ là người đứng ra bảo lãnh cho công ty Thiên Minh vay tiền Ngân hàng
Câu 3: Bà Quế tham gia quan hệ trên với tư cách gì? Vì sao?
Bà Quế tham gia quan hệ trên với tư cách là bên bảo lãnh, vì bà Quế đã đứng ra bảo lãnh cho công ty Thiên Minh bằng một bất động sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng
bà Quế
Câu 4: Việc Tòa án tuyên bố hợp đồng thế chấp trên vô hiệu có thuyết phục không? Vì sao?
Việc Tòa án tuyên bố hợp đồng thế chấp trên vô hiệu là thuyết phục
Trang 8Vì khi muốn thế chấp tài sản, thì tài sản phải thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp cụ thể trong tình huống tài sản thế chấp là tài sản chung của vợ chồng bà Quế Trường hợp này bà Quế đã thế chấp tài sản thuộc sở hữu chung vợ chồng trong thời kì hôn
nhân mà không có sự đồng ý của chồng bà Quế Căn cứ vào khoản 1 Điều 213 BLDS
2015: “Sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất.” và trong sở hữu chung
hợp nhất “phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu chung không được xác định đối với
tài sản chung” (khoản 1 Điều 210) Do đó việc bà Quế một mình đem bất động sản
này đi thế chấp mà không có sự đồng ý của chồng bà là không tuân thủ những quy định của pháp luật về tài sản chung của vợ chồng và tài sản thế chấp Vì vậy, hợp đồng thế chấp này vô hiệu do đã vi phạm điều kiện về nội dung
Câu 5: Theo Tòa án, bà Quế có còn trách nhiệm gì đối với Ngân hàng không?
Theo Tòa án, bà Quế không còn trách nhiệm gì với Ngân hàng Điều này thể hiện ở đoạn “không có cơ sở để buộc bà Quế phải chịu trách nhiệm dân sự đối với các khoản
nợ nêu trên.”
Câu 6: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án trong vụ việc trên liên quan đến trách nhiệm của bà Quế 3
Hướng giải quyết của Tòa án trong vụ việc trên liên quan đến trách nhiệm của bà Quế
là chưa hợp lý
- Vì xét tình tình huống trên, ta thấy đã xảy ra các giao dịch dân sự dẫn đến sự tồn tại của 3 hợp đồng: Hợp đồng thứ nhất là hợp đồng vay của giữa công ty Thiên Minh và ngân hàng, hợp đồng thứ 2 là hợp đồng bảo lãnh giữa bà Quế với ngân hàng (hợp đồng này làm phát sinh nghĩa vụ bảo lãnh), hợp đồng thứ 3
là hợp đồng thế chấp giữa bà Quế với ngân hàng (hợp đồng này là bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh) Như vậy, hợp đồng vay là hợp đồng chính, hợp đồng bảo lãnh là hợp đồng phụ của hợp đồng vay và hợp đồng thế chấp là hợp đồng phụ của hợp đồng bảo lãnh Tương đương với đó nghĩa vụ trả nợ được bảo đảm bởi nghĩa vụ bảo lãnh và nghĩa vụ bảo lãnh được bảo đảm bởi hợp đồng thế chấp
- Trong tình huống trên hợp đồng thế chấp đã bị Toà án tuyên vô hiệu do sản thế chấp là tài sản chung nhưng không có sự đồng ý của chồng bà Quế, thì hợp
đồng bảo lãnh không bị ảnh hưởng căn cứ theo khoản 3 Điều 407 BLDS 2015
có quy định:
3Tham khảo:
Trang 9“3 Sự vô hiệu của hợp đồng phụ không làm chấm dứt hợp đồng chính, trừ trường hợp các bên thỏa thuận hợp đồng phụ là một phần không thể tách rời của hợp đồng chính.”
- Nhưng trong quá trình xét xử Tòa lại tuyên là “không có cơ sở để buộc bà Quế phải chịu trách nhiệm dân sự đối với khoản nợ nêu trên” nghĩa là Tòa công nhận hợp đồng bảo lãnh cũng bị vô hiệu theo hợp đồng phụ là chưa đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật Tuy nhiên, nếu người bảo lãnh là bà Quế vẫn phải trả nợ toàn bộ cho người khác thì có cũng chưa hợp lý, mức thiệt thòi quá lớn Toà có thể đưa ra một vài biện pháp trung hòa ví dụ như người bảo lãnh chỉ chịu trách nhiệm đối với phần nghĩa vụ tương đương với tài sản mà họ sử dụng đề thế chấp Như vậy, nếu xem xét hướng giải quyết của Tòa án liên quan đến trách nhiệm của bà Quế thì chưa thuyết phục, không đảm bảo được quyền lợi của bên cho vay là ngân hàng
Vấn đề 4: Phân biệt thời hiệu khởi kiện tranh chấp về tài sản và về hợp đồng
Tóm tắt Quyết định số 14/2017/QĐ-PT ngày 14/7/2017 của Toà án nhân tỉnh Hưng Yên
- Chủ thể: Vũ Văn V_Tô Văn P
- Tranh chấp: tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Lý do: ngày 26/11/2016 ông Vũ Văn V nộp dơn khởi kiện buộc ông Tô Văn P trả lại 35 triệu đồng tiền đặt cọc và 45 triệu đồng tiền phạt do vi phạm thỏa thuận đặt cọc, theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 7/6/2010
- Tòa án:
+ Tóa án nhân dân huyện V: đã áp dụng điểm e khoản 1 Điều 217 BLTTDS 2005
để đình chỉ vụ án
+ Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên căn cứ Điều 2 của Nghị quyết số 103/2015/QH2013 ngày 25/11/2015 của Quốc hội về việc thi hành BLTTDS 2015
Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 159 BLTTDS 2005, yêu cầu của ông V đòi 45
triều đồng tiền phạt do vi phạm thỏa thuận đặt cọc Tòa án không giải quyết do hết thời hiệu khởi kiện
Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 23 Nghị quyết số 03/2012/ND-HDDTP của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTDS 2005, yêu cầu của ông V đòi ông P trả lại 25 triệu đồng tiền cọc thì thuộc trường hợp đòi lại tài sản nên không áp dụng thời hiệu khỏi kiện, Tòa thụ
lý và giải quyết theo thủ tục chung
Trang 10 Câu 1: Những điểm khác biệt giữa thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng và thời hiệu khởi kiện tranh chấp về quyền sở hữu tài sản.
- Có quy định thời hiệu khởi kiện về hợp đồng là 3 năm kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm
hại (Điều 429, BLDS 2015)
- Về thời hiệu khởi kiên tranh chấp về quyền sở hữu tài sản thì không có quy định thời hiệu, không áp dụng thời hiệu khởi kiện “yêu cầu bảo vệ quyền sở
hữu” (khoản 2, Điều 155 BLDS 2015)
Câu 2: Theo anh/chị, tranh chấp về số tiền 45 triệu đồng là tranh chấp hợp đồng hay tranh chấp về quyền sở hữu tài sản? Vì sao?
- Theo nhóm, tranh chấp về số tiền 45 triệu đồng là tranh chấp về hợp đồng
- Theo đó, số tiền 45 triệu đồng là tiền phạt do vi phạm thỏa thuận đặt cọc, theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất Cho nên nó là tranh chấp hợp đồng do nó phát sinh từ việc vi phạm thỏa thuận đặt cọc trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
Câu 3: Theo anh/chị, tranh chấp về số tiền 25 triệu đồng là tranh chấp hợp đồng hay tranh chấp về quyền sở hữu tài sản? Vì sao?
- Tranh chấp về số tiền 25 triệu đồng là tranh chấp về quyền sở hữu tài sản
Bởi theo quy định tại khoản 2 Điều 328 BLDS 2015 thì tài sản đặt cọc sau khi hợp
đồng được giao kết thì được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu chưa được giao kết mà bên nhận đặt cọc vi phạm thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc Theo đó, số tiền 25 triệu vẫn là tài sản của bên đặt cọc và Tòa đã nhận định đòi trả 25 triệu “thuộc trường hợp đòi lại tài sản” nên bản chất đây là tranh chấp về quyền sở hữu tài sản
Câu 4: Đường lối giải quyết của Toà án về 2 khoản tiền trên có thuyết phục không? Vì sao?
Đường lối giải quyết của Tòa là thuyết phục Bởi số tiền 25 triệu là tài sản của ông
V nên bắt buộc phải trả lại cho chủ sở hữu mà không cần quan tâm thời hiệu
(khoản 2 Điều 155 BLDS 2015) Đối với số tiền 45 triệu thì theo quy định tại Điều
429 BLDS 2015 và Điều 159 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì đã quá thời hiệu
khởi kiện nên Tòa sẽ không giải quyết (vì hợp đồng là vào năm 2010 mà kháng cáo
là vào năm 2016 đã quá thời hiệu 3 năm)
Câu 5: Đường lối giải quyết cho hoàn cảnh như trên có thay đổi không khi áp dụng BLDS 2015? Vì sao?