Nhận định: 20. Trong trường hợp có nhiều bản án, thời gian thực tế mà người bị kết án phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn có thể trên 30 năm........................1 22. Có thể quyết định mức hình phạt 12 năm tù cho người phạm tội giết người chưa đạt thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 123 BLHS. ... 1 37. Chấp hành bản án là chấp hành hình phạt. .............................................. 1 39. Án treo là một loại hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn............. 2 43. Án treo chỉ áp dụng cho người phạm tội ít nghiêm trọng........................ 2 II. Bài tập ............................................................................................................... 2 Bài tập 12............................................................................................................2 Bài tập 17............................................................................................................4 Bài tập 18............................................................................................................6 Bài tập 19............................................................................................................6
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT HÌNH SỰ
MÔN: LUẬT HÌNH SỰ PHẦN CHUNG
BÀI THẢO LUẬN LẦN 8
Trang 2DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLHS Bộ luật Hình sự TNHS Trách nhiệm hình sự
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
MỤC LỤC
I Nhận định sau đây đúng hay sai? Tại sao? 1
20 Trong trường hợp có nhiều bản án, thời gian thực tế mà người bị kết án phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn có thể trên 30 năm 1
22 Có thể quyết định mức hình phạt 12 năm tù cho người phạm tội giết người chưa đạt thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 123 BLHS 1
37 Chấp hành bản án là chấp hành hình phạt 1
39 Án treo là một loại hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn 2
43 Án treo chỉ áp dụng cho người phạm tội ít nghiêm trọng 2
II Bài tập 2
Bài tập 12 2
Bài tập 17 4
Bài tập 18 6
Bài tập 19 6
Trang 4I Nhận định sau đây đúng hay sai? Tại sao?
20 Trong trường hợp có nhiều bản án, thời gian thực tế mà người bị kết án phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn có thể trên 30 năm
Nhận định đúng
Theo khoản 1 Điều 55 BLHS quy định trong một bản án, khi xét xử cùng 01 lần một người phạm nhiều tội, Tòa án quyết định hình phạt đối với từng tội và tổng hợp hình phạt Đối với hình phạt chính là hình phạt tù có thời hạn thì hình phạt chung không quá 30 năm Tuy nhiên, trên thực tế người bị kết án có thể chấp hành hình phạt
tù có thời hạn trên 30 năm nếu người này đang chấp hành một bản án mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới, Tòa án quyết định hình phạt với tội mới Sau đó tổng hợp hình phạt mới với phần hình phạt chưa chấp hành của bản án trước rồi quy định hình phạt chung khoản 2 Điều 56 BLHS
VD: A đang chấp hành bản án 18 năm tù về Tội trộm cắp tài sản theo khoản 4 Điều 173 BLHS, thì bị đưa ra xét xử về tội phạm mới là Tội cố ý gây thương tích (thực hiện trong trại giam), A đã chấp hành bản án về Tội trộm cắp tài sản được 10 năm và bị tòa án tuyên 14 năm tù đối với Tội cố ý gây thương tích theo khoản 4 Điều
134 BLHS Từ ví dụ trên, có thể thấy rằng thời gian thực tế chấp hành hình phạt của
A là trên 30 năm (10 năm đã chấp hành + 22 năm phải chấp hành tiếp = 32 năm)
22 Có thể quyết định mức hình phạt 12 năm tù cho người phạm tội giết người chưa đạt thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 123 BLHS
Nhận định sai
Theo Điều 15 BLHS quy định: “Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội Người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt.”
Do đó, người thực hiện hành vi giết người không thành phải chịu TNHS về tội giết người
Theo khoản 3 Điều 57 BLHS, đối với trường hợp phạm tội chưa đạt, nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá ¾ mức phạt tù mà điều luật quy định
Như vậy, tội giết người chưa đạt thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 123 BLHS có thể bị phạt mức phạt cao nhất bằng ¾ mức phạt mà luật quy định là 11 năm
3 tháng chứ không phải là hình phạt 12 năm tù
37 Chấp hành bản án là chấp hành hình phạt
Nhận định sai
Trang 5Chấp hành bản án là việc người bị kết án phải thực hiện các nghĩa vụ thuộc về nội dung của hình phạt theo quyết định của bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
Chấp hành hình phạt là việc người bị kết án thực hiện các nghĩa vụ thuộc về nội dung của hình phạt được áp dụng đối với họ theo bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của tòa án
Do vậy, có thể nói chấp hành án treo là chấp hành án do Tòa án phán quyết, nhưng án treo lại không phải là hình phạt mà là một biện pháp miễn trách nhiệm hình
sự có điều kiện
39 Án treo là một loại hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn
Nhận định sai Căn cứ theo Điều 32 BLHS thì án treo không phải là một loại hình phạt Án treo là một biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện Vì vậy, án treo là một loại hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn là sai
43 Án treo chỉ áp dụng cho người phạm tội ít nghiêm trọng
Nhận định sai Theo quy định tại khoản 1 Điều 65 BLHS và Điều 1, 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP thì án treo áp dụng đối với người bị phạt tù không quá 03 năm Điều này có nghĩa là mức phạt tù của người phạm tội sẽ do Tòa dựa vào mức độ nghiêm trọng trong khung hình phạt của tội phạm nhưng không được quá 03 năm Dựa vào cách giải thích này thì ta có thể áp dụng án treo cho một người là tội phạm nghiêm trọng nhưng vẫn có thể bị Tòa phạt tù không quá 03 năm dựa vào khung hình phạt của tội phạm phải
VD: Khoản 2 Điều 131 BLHS quy định Tội xúi giục hoặc giúp người khác tự sát:
“Phạm tội làm 02 người trở lên tự sát, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm” có khung hình phạt cao nhất là 07 năm tù nên thuộc vào loại tội phạm nghiêm trọng theo điểm
b khoản 1 Điều 9 BLHS nhưng lại có mức phạt thấp nhất của khung là 02 năm nên vẫn có thể bị Tòa tuyên tù 02 năm và vẫn được hưởng án treo
II Bài tập
Bài tập 12
A 17 tuổi phạm tội cướp tài sản theo khoản 1 Điều 168 BLHS
Anh (chị) hãy xác định:
1 Mức hình phạt tối đa có thể áp dụng đối với A là bao nhiêu? Căn cứ pháp
lý
2 Xác định thời hạn xóa án tích đối với A là bao lâu và tính từ thời điểm nào nếu A bị Tòa án tuyên phạt bốn năm tù
3 Tòa án có thể phạt tiền theo khoản 6 Điều 168 BLHS đối với A được không? Tại sao?
Trang 64 A có bị xem là tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm không nếu trong khi đang chấp hành hình phạt tù về tội cướp tài sản nêu trên A lại phạm tội cố ý gây thương tích theo khoản 5 Điều 134 BLHS
Trả lời:
1 Khoản 1 Điều 168 BLHS quy định: “Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm”
Khoản 1 Điều 101 BLHS quy định: “Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc
tử hình, thì mứchình phạt cao nhất được áp dụng không quá 18 năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức phạt tù
mà điều luật quy định”
Theo khoản 1 Điều 168 BLHS thì mức phạt tối đa của tội trộm cướp tài sản là 10 năm nhưng A phạm tội khi 17 tuổi Căn cứ vào khoản 1 Điều 101 BLHS, đối với người từ 16 đến 18 tuổi mà bị phạt tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định Vậy mức hình phạt tối đa là: 10 năm x ¾ = 7,5 năm = 07 năm 06 tháng tù
2 Điểm c khoản 3 Điều 9 của BLHS quy định: “Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù”
Khoản 2 Điều 107 BLHS quy định: “Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết
án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng đương nhiên được xóa án tích nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án, người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây:
b) 01 năm trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm”
Căn cứ vào khoản 3 Điều 9 BLHS, A là tội phạm rất nghiêm trọng Do A mới 17 tuổi và là tội phạm rất nghiêm trọng nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 107 BLHS, thời hạn xóa án tích đối với A là 01 năm sau khi chấp hành xong hình phạt chính (04 năm tù) và A không được thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn 01 năm trong trường hợp A bị Tòa tuyên 4 năm tù
3 Tòa án không thể phạt tiền theo khoản 6 Điều 168 BLHS đối với A Vì theo quy định tại khoản 6 Điều 168 BLHS, phạt tiền là hình phạt bổ sung mà căn cứ tại khoản 6 Điều 91 BLHS, người dưới 18 tuổi phạm tội không áp dụng hình phạt bổ sung
4 Trước hết, A đã bị kết án về tội cướp tài sản theo khoản 1 Điều 168 BLHS, đây
là tội phạm rất nghiêm trọng và A vẫn đang chấp hành hình phạt tù Sau đó, A lại
Trang 7phạm tội cố ý gây thương tích theo khoản 5 Điều 134 BLHS thì đây là tội đặc biệt nghiêm trọng với khung hình phạt cao nhất là tù chung thân Như vậy, căn cứ theo điểm a khoản 2 Điều 53 BLHS quy định về tái phạm nguy hiểm thì trong trường hợp này A được xem là tái phạm nguy hiểm
Bài tập 17
A phạm hai tội: giết người (khoản 1 Điều 123 BLHS) và trộm cắp tài sản (khoản 2 Điều 173 BLHS) Nay đưa ra xét xử cả hai tội trong một vụ án hình sự
1 Hãy xác định mức tối đa của hình phạt chung của hai tội trên có thể áp dụng với A nếu:
- A phạm tội giết người khi 17 tuổi bị Tòa án tuyên phạt 15 năm tù và phạm tội trộm cắp tài sản khi 19 tuổi bị Tòa án tuyên phạt 4 năm tù;
- A phạm tội trộm cắp tài sản khi 17 tuổi bị Tòa án tuyên phạt 3 năm tù và giết người khi 19 tuổi bị Tòa án tuyên phạt 18 năm tù
2 Trường hợp của A có phải là trường hợp có nhiều bản án không? Tại sao?
Trả lời:
1 - A phạm tội giết người khi 17 tuổi theo khoản 1 Điều 173 bị Tòa án tuyên phạt
15 năm tù và phạm tội trộm cắp tài sản khi 19 tuổi bị Tòa án tuyên phạt 4 năm tù: Trước hết A thực hiện hai hành vi trên khi đã trên 16 tuổi và theo khoản 1 Điều
12 BLHS: “Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.” Vậy A phải chịu TNHS cho cả hai tội trên
A phạm tội giết người khi 17 tuổi bị Tòa án tuyên phạt 15 năm tù là hợp lý căn
cứ theo Điều 123 BLHS mức cao nhất khung hình phạt là 20 năm Tuy nhiên, khoản
1 Điều 101 Bộ luật này quy định: “Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội… nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá
ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định” Do đó tội của A bị tòa tuyên phạt bằng ¾ của 20 năm là 15 năm hợp lý
A phạm tội trộm cắp tài sản khi 19 tuổi vi phạm khoản 2 Điều 173 BLHS bị Tòa tuyên phạt tù 4 năm
Xét thấy cả hai hình phạt này đều là hình phạt tù nên áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 BLHS để gộp chung hình phạt, thực hiện phương pháp cộng dồn: 15 năm +
4 năm = 19 năm tù
Tuy nhiên, căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 103 BLHS quy định: “Đối với người phạm nhiều tội, có tội được thực hiện trước khi đủ 18 tuổi, có tội được thực hiện sau khi đủ 18 tuổi, thì việc tổng hợp hình phạt áp dụng như sau: a) Nếu mức hình phạt Tòa án tuyên đối với tội được thực hiện khi người đó chưa đủ 18 tuổi nặng hơn hoặc
Trang 8bằng mức hình phạt áp dụng đối với tội được thực hiện khi người đó đã đủ 18 tuổi, thì hình phạt chung không được vượt quá mức hình phạt cao nhất quy định tại khoản
1 Điều này” Xét thấy trong trường hợp này mức hình phạt Tòa án đối với tội lúc A
17 tuổi nặng hơn hình phạt đối với tội của A lúc A 19 tuổi do đó dẫn chiếu theo quy định tại khoản 1 Điều 103 BLHS, mức hình phạt cao nhất được áp dụng không được vượt quá 18 năm tù đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi
Từ đó có thể kết luận mức tối đa của hình phạt chung của hai tội trên có thể áp dụng đối với A là 18 năm tù
- A phạm tội trộm cắp tài sản khi 17 tuổi bị Tòa án tuyên phạt 3 năm tù và giết người khi 19 tuổi bị Tòa án tuyên phạt 18 năm tù:
A đều đã trên 16 tuổi khi thực hiện hai hành vi trên căn cứ theo khoản 1 Điều 12 BLHS quy định: “Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác”
Vì thế, A phải chịu TNHS về mọi tội phạm
A phạm tội giết người khi 19 tuổi vi phạm khoản 1 Điều 123 BLHS, mức phạt tù cao nhất của hình phạt này là 20 năm tù A bị Tòa án tuyên phạt tù 18 năm
A phạm tội trộm cắp tài sản khi 17 tuổi, hình phạt 3 năm tù không quá ba phần
tư mức hình phạt cao nhất được áp dụng theo khoản 2 Điều 173 BLHS
Xét thấy cả hai hình phạt này đều là hình phạt tù nên áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 BLHS gộp chung hình phạt, thực hiện phương pháp cộng dồn: 18 năm + 3 năm = 21 năm tù
Theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 103 BLHS quy định: “Nếu mức hình phạt Tòa án tuyên đối với tội được thực hiện khi người đó đã đủ 18 tuổi nặng hơn mức hình phạt áp dụng đối với tội thực hiện khi người đó chưa đủ 18 tuổi thì hình phạt chung áp dụng như đối với người đủ 18 tuổi trở lên phạm tội” Hình phạt của A sau khi A đủ 18 tuổi nặng hơn hình phạt đối với tội của A khi A 17 tuổi do đó hình phạt chung áp dụng như hình phạt như người từ đủ 18 tuổi trở lên
Từ đó có thể kết luận mức tối đa hình phạt chung của A trong trường hợp này là
21 năm tù
2 Theo quy định Điều 56 BLHS ta có thể kết luận: Có nhiều bản án là trường hợp một người đang chấp hành một bản án lại bị đưa ra xét xử về một tội phạm khác hoặc một người cùng lúc có nhiều bản án khác nhau đang có hiệu lực
A đang bị xét xử cả hai tội bao gồm tội giết người theo khoản 1 Điều 123 BLHS
và tội trộm cắp tài sản theo khoản 2 Điều 173 Bộ luật này trong một vụ án hình sự Trường hợp này là trường hợp phạm nhiều tội, gộp chung hình phạt theo Điều 55 BLHS, bởi A đã phạm nhiều tội khác nhau được quy định trong BLHS mà những tội này chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS , chưa bị kết án
Trang 9Do vậy trường hợp này của A là trường hợp phạm nhiều tội chứ không phải là trường hợp có nhiều bản án
Bài tập 18
Theo quy định của pháp luật, hành khách khi qua cửa khẩu biên giới không phải khai báo hải quan nếu chỉ mang số ngoại tệ tiền mặt trong giới hạn 5.000 USD X (25 tuổi) đã mang 20.000 USD qua cửa khẩu mà không khai báo theo quy định của thủ tục hải quan và bị bắt quả tang Do vậy, X bị truy tố và xét xử
về “tội vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới” theo khoản 1 Điều 189 BLHS
Anh (chị) hãy xác định:
1 Nếu áp dụng Điều 54 BLHS thì có bao nhiêu phương án lựa chọn hình phạt nhẹ hơn và mức hình phạt tối thiểu có thể áp dụng trong mỗi phương án?
2 Những hình phạt bổ sung nào có thể áp dụng đối với X?
3 Số tiền được coi là mang trái phép qua biên giới là bao nhiêu? Chỉ rõ căn
cứ pháp lý và hướng xử lý đối với số tiền mà X mang trái phép qua biên giới
Trả lời:
1 Theo khoản 1 Điều 189 BLHS, X bị truy tố và xét xử về tội vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới, đây là khung hình phạt nhẹ nhất Căn cứ vào khoản 3 Điều
54 BLHS, Tòa án có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn Cụ thể toà có thể áp dụng:
Phương án 1: Theo khoản 1 Điều 189 thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là 1.000.000 đồng
Phương án 2: Theo khoản 1 Điều 189 phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm thì ta thấy hình phạt cải tạo không giam giữ ở đây không quy định mức tối thiểu nên ta có thể chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn là cảnh cáo
2 Những hình phạt bổ sung có thể áp dụng đối với X là: có thể áp dụng hình phạt phạt tiền (nếu không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính), cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định trong khoảng thời gian từ 01 năm đến 05 năm theo quy định tại khoản 4 Điều 189 BLHS 2015
3 Số tiền được coi là mang trái phép qua biên giới là 15.000 USD trong số 20.000 USD mà X mang theo
Căn cứ theo điểm b Khoản 1 Điều 47 BLHS, số tiền mang trái phép qua biên giới
sẽ bị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước
Bài tập 19
Trang 10A bị kết án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 3 Điều 174 BLHS
và bị xử phạt 15 năm tù Đang thụ hình trong trại giam được 3 năm thì A lại phạm tội cố ý gây thương tích cho bạn tù Sự việc xảy ra là do có sự khiêu khích của người bị hại trong vụ án này Về tội phạm mới, A bị xét xử theo khoản 5 Điều 134 BLHS và bị xử phạt 12 năm tù Chi phí điều trị cho người bị hại là 50 triệu đồng Gia đình của A đã gởi cho gia đình người bị hại 30 triệu đồng dùng
để điều trị cho người bị hại
Anh (chị) hãy xác định:
1 Trong lần phạm tội mới A có bị coi là tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm không? Nếu là tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm thì tình tiết đó có ý nghĩa là tình tiết tăng nặng TNHS theo Điều 52 BLHS hay là tình tiết định khung tăng nặng của tội phạm mới
2 Trong việc thực hiện tội phạm mới có tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng TNHS nào không? Chỉ rõ căn cứ pháp lý
3 Hãy tổng hợp hình phạt của hai bản án trên? Chỉ rõ căn cứ pháp lý
4 Trong thời gian chấp hành hình phạt chung của 2 bản án, A phải chấp hành hình phạt bao lâu mới được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt lần đầu? Chỉ rõ căn cứ pháp lý
5 Cần áp dụng biện pháp tư pháp nào đối với A? Chỉ rõ căn cứ pháp lý
6 Thời hạn xóa án tích về các tội mà A đã thực hiện là bao lâu và tính từ thời điểm nào? Chỉ rõ căn cứ pháp lý
Trả lời:
1 A đang bị kết án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 3 Điều 174 BLHS
và bị xử phạt 15 năm tù, dựa vào khung hình phạt cao nhất thì A là tội phạm rất nghiêm trọng theo điểm c khoản 1 Điều 9 BLHS
Đang thụ hình trong trại giam được 3 năm thì A lại phạm tội cố ý gây thương tích cho bạn tù, A bị xét xử theo khoản 5 Điều 134 BLHS và bị xử phạt 12 năm tù, dựa vào khung hình phạt cao nhất thì A là tội phạm rất nghiêm trọng theo điểm c khoản
1 Điều 9 BLHS
A đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý khác Do đó, A
bị coi là tái phạm nguy hiểm theo Điều 53 BLHS
Tình tiết tái phạm nguy hiểm có ý nghĩa là tình tiết tăng nặng TNHS theo Điều
52 BLHS