Đơn phương chấm dứt, hủy bỏ do không thực hiện đúng hợp đồngĐiểm giống nhau và khác nhau giữa hợp đồng vô hiệu và hủy bỏ hợp đồng do có vi phạm. Giống nhau: + Hợp đồng vô hiệu và hủy bỏ hợp đồng đều làm hợp đồng không có giá trị pháp lý (coi như chưa có hợp đồng).
Trang 1Buổi thảo luận thứ 3: Vấn đề chung của hợp đồng (tiếp) Vấn đề 1: Hợp đồng vi phạm quy định về hình thức
* Tóm tắt Quyết định số 171/2020/DS-GĐT ngày 24/7/2020 của Toà án nhân dân
cấp cao tại Tp Hồ Chí Minh
- Chủ thể: Ông Quý, bà Thủy – ông Dư, ông Thắng, ông Sĩ
- Tranh chấp: Quyền sử dụng đất
- Lý do:
+ 2002, ông Quý, bà Thủy lập hợp đồng bằng giấy viết tay chuyển nhượng đất thuộc thửa
số 504 cho ông Sĩ, đã nhận đủ tiền và đã giao đất cho ông Sĩ quản lý, sử dụng
+ 2005, ông Lợi được cấp giấy chứng nhận sử dụng đất thửa số 504 và làm thủ tục chuyển nhượng cho ông Quý, bà Thủy
+ 2008, ông Quý, bà Thủy được cấp chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 504
+ 2009, ông Quý, bà Thủy ký 2 hợp đồng bằng giấy viết tay chuyển nhượng đất thuộc thửa số 504 cho ông Dư và ông Thắng
+ 2013, ông Dư và ông Thắng lập hợp đồng bằng giấy viết tay chuyển nhượng cho ông Sĩ
+ 2015, ông Sĩ lập hợp đồng giấy viết tay chuyển nhượng cho ông Dư
- Tòa án:
+ Cấp sơ thẩm: Hủy hợp đồng chuyển nhượng giữa ông Quý, bà Thủy với ông Sĩ, chấp nhận hợp đồng chuyển nhượng ông Quý, bà Thủy với ông Dư và ông Thắng
+ Cấp phúc thẩm: Không công nhận việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Quý, bà Thủy với các ông Sĩ, Dư, Thắng
+ Nhân dân tối cao: Công nhận hợp đồng chuyển nhượng giữa ông Quý, bà Thủy với các ông Sĩ, Dư, Thắng
* Tóm tắt Quyết định số 93/2018/DS-GĐT ngày 29/11/2018 của Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng
- Chủ thể: Ông Mến và bà Nhiễm - ông Cưu và bà Lắm
- Tranh chấp: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Lý do: Vợ chồng ông Cưu, bà Lắm thỏa thuận chuyển nhượng lô B cho vợ chồng ông Mến, bà Nhiễm.Vì không có lô B nên hai bên đã thống nhất là vợ chồng ông Mến, bà Nhiễm đưa thêm 30.000.000 đồng để lấy lô khu A (giao 20.000.000 đồng trước, khi nào
có sổ sang tên trước bạ sẽ giao tiếp 10.000.000 đồng) Ông Cưu, bà Lắm yêu cầu Tòa hủy
Trang 2hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vì tại thời điểm đó chưa có đất và hợp đồng không được công chứng, chứng thực
- Tòa án:
+ Cấp sơ thẩm: Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
+ Cấp phúc thẩm: Xác định hợp đồng này vô hiệu do vi phạm về nội dung và hình thức
1.1 Đoạn nào trong Quyết định số 171 cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập trước ngày BLDS năm 2015 có hiệu lực và chưa được công chứng, chứng thực?
Đoạn trong Quyết định số 171 cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
được xác lập trước ngày BLDS năm 2015 có hiệu lực và chưa được công chứng, chứng
thực: “Xét, năm 2008, ông Quý và bà Thủy đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất nên theo quy định tại điểm b.2 tiểu mục 2.3 mục 2 Phần II của Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa các bến không được coi là vô hiệu
do vi phạm điều kiện (a.4) chưa có quyền sử dụng đất hợp pháp và (a.6) hợp đồng chuyển nhượng không có công chứng, chứng thực của cơ quan có thẩm quyền Mặt khác, toàn bộ 674m 2 đất đã được các bên thống nhất chuyển nhượng cho ông Dư nên không vi phạm điều kiện tách thửa theo Quyết định số 19/2009/QĐ-UB ngày 25/02/2009 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.”.
1.2 Đoạn nào trong Quyết định số 171 cho thấy Toà án đã áp dụng Điều 129 BLDS
2015 cho hợp đồng chuyển nhượng dù hợp đồng được xác lập trước ngày BLDS năm 2015 có hiệu lực?
Đoạn trong Quyết định số 171 cho thấy Toà án đã áp dụng Điều 129 BLDS 2015 cho hợp đồng chuyển nhượng dù hợp đồng được xác lập trước ngày BLDS năm 2015 có hiệu
lực: “Thực tế cho thấy, bên nhận chuyển nhượng là ông Sĩ, ông Dư, ông Thắng đã nhận đất và thanh toán đủ tiền cho ông Quý và bà Thủy, các bên chưa thực hiện công chứng, chứng thực hợp đồng, vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực
Theo quy định tại khoản 2 Điều 129 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định: “Giao dịch dân sự
đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực”.
Trang 31.3 Việc Toà án áp dụng Điều 129 BLDS 2015 trong trường hợp như trên có thuyết phục không? Vì sao?
Theo nhóm em, việc Toà án áp dụng Điều 129 BLDS 2015 trong trường hợp như trên là hoàn toàn thuyết phục vì nếu một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần
ba nghĩa vụ trong giao dịch mà còn tuyên bố hợp đồng vô hiệu thì sẽ không đảm bảo quyền lợi cho các đương sự Đồng thời việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu sẽ gây ra 1 trong
các hậu quả theo khoản 4 Điều 131 BLDS 2015:
“Điều 131 Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu
…4 Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.”
Như Tòa xác định thì các bên đều có lỗi, đều vi phạm về điều kiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất Nên sẽ không xác định được bên nào là bên có lỗi bên nào là bên không có lỗi để phải bồi thường
1 4 Đoạn nào trong Quyết định số 93 cho thấy Toà án đã áp dụng quy định về thời hiệu tại Điều 132 BLDS 2015 để công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/8/2009 dù chưa được công chứng, chứng thực?
Trong Quyết định số 93, Toà án đã áp dụng quy định về thời hiệu tại Điều 132 BLDS
2015 để công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/8/2009 dù chưa
được công chứng, chứng thực ở đoạn:“Như trên đã phân tích, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên không vi phạm về nội dung, về hình thức của hợp đồng tuy không được công chứng hoặc chứng thực nhưng trong thời hạn hai năm kể từ ngày giao dịch được xác lập, ông Cưu, bà Lắm không yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu nên giao dịch này có hiệu lực theo Khoản 2 Điều 132 Bộ luật Dân sự năm 2015”
1 5 Trong quyết định số 93, việc Toà án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất ngày 10/8/2009 dù chưa được công chứng, chứng thực có thuyết phục không? Vì sao?
Trong quyết định số 93, việc Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/08/2009 dù chưa được công chứng, chứng thực là hoàn toàn thuyết phục Vì mặc dù giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/08/2009 không được công chứng, chứng thực là vi phạm về hình thức, nhưng đến ngày 18/04/2017 mới khởi kiện thì đã quá thời hạn 2 năm và bị đơn không yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu
Trang 4theo quy định tại khoản 1 Điều 132 BLDS 2015 Như vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 132 BLDS 2015, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông Nhiễm, bà
Mến và vợ chồng ông Cưu, bà Lắm là có hiệu lực
Ngoài ra, căn cứ vào khoản 2 Điều 129 BLDS 2015 thì giao dịch dân sự đã được xác
lập nhưng chưa được công chứng, chứng thực “…mà một bên hoặc các bên đã thực hiện
ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó” Ở đây, hai bên đã thống nhất
giá trị của mảnh đất là 120.000.000 đồng, trong đó vợ chồng ông Nhiễm, bà Mến đã giao cho vợ chồng ông Cưu, bà Lắm 110.000.000 đồng Đồng thời, ông Cưu, bà Lắm cũng đã giao đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông Nhiễm, bà Mến Như vậy, hai bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch, nên giao dịch này được coi là có hiệu lực
1 6 Đoạn nào trong Quyết định số 93 cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/8/2009 chưa được công chứng, chứng thực?
Đoạn trong Quyết định số 93 cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
ngày 10/8/2019 chưa được công chứng, chứng thực: “Giao dịch chuyển nhượng quyền
sử dụng đất lập ngày 10/08/2009 giữa vợ chồng ông Cưu, bà Lắm với vợ chồng ông Mến, bà Nhiễm không được công chứng, chứng thực là vi phạm về hình thức”.
1.7 Theo BLDS 2015, hệ quả pháp lý của việc hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu về hình thức.
Theo BLDS 2015, thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu về hình thức
là 02 năm được quy định ở điểm đ khoản 1 Điều 132 BLDS 2015 Tuy nhiên không
phải hợp đồng nào vi phạm quy định về hình thức thì cũng đều vô hiệu Trường hợp các bên không yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu thì Tòa sẽ không xem xét, trường hợp các bên yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu trong thời hạn 02 năm kể từ ngày hợp đồng được xác lập trong trường hợp vi phạm về hình thức thì hợp đồng đó vô hiệu nhưng nếu quá hạn yêu cầu thì hợp đồng đó vẫn có hiệu lực
Điểm giống nhau giữa 2 quyết định đó là có liên quan đến hình thức là đều không công chứng chứng thực hợp đồng chuyển nhượng sử dụng đất Điều được xác lập trước khi BLDS 2015 chưa có hiệu lực
Quyết định 171 TA theo hướng công nhận hợp đồng chuyển nhượng viện dẫn điểm b k1 điều 688 để áp dụng điều 129
Trang 5Quyets định số 93 cũng theo hướng công nhận hợp đồng chuyển nhượng viện dãn điểm d khoản 1 điều 688 để áp dụng điều 132
Vấn đề 2: Đơn phương chấm dứt, hủy bỏ do không thực hiện đúng hợp đồng
* Tình huống: Ông Minh ký hợp đồng chuyển nhượng cho ông Cường quyền sử dụng
một mảnh đất Hợp đồng được giao kết hợp pháp và ông Minh đã giao đất cho ông Cường nhưng ông Cường không trả tiền cho ông Minh mặc dù ông Minh đã nhiều lần nhắc nhở Nay ông Minh yêu cầu Tòa án hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng để nhận lại đất
* Tóm tắt Bản án số 06/2017/KDTM-PT ngày 26/5/2017 của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
- Chủ thể: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Đông Phong Cần Thơ (giải thể) –
bà Dệt, ông Liêm
- Tranh chấp: Hợp đồng mua bán
- Lý do: 2012, công ty Đông Phong và công ty TNHH-SX-TM Thành Thảo ký kết hợp đồng mua bán xe Khi ký kết hợp đồng, bà Dệt và ông Liêm đại diện công ty Thành Thảo
ký kết dù hai người không phải là đại diện hợp pháp của công ty
- Tòa án: Hợp đồng mua bán xe bị vô hiệu
2.1 Điểm giống nhau và khác nhau giữa hợp đồng vô hiệu và hủy bỏ hợp đồng do có
vi phạm.
- Giống nhau:
+ Hợp đồng vô hiệu và hủy bỏ hợp đồng đều làm hợp đồng không có giá trị pháp lý (coi như chưa có hợp đồng)
+ Bên có lỗi trong việc hợp đồng bị vô hiệu hoặc hủy bỏ hợp đồng đều phải bồi thường
thiệt hại (khoản 4 Điều 132 và khoản 3 Điều 427 BLDS 2015)
+ Khi hợp đồng vô hiệu hoặc bị hủy bỏ thì các bên phải trả lại cho nhau những gì đã nhận
như ban đầu Nếu không trả được bằng hiện vật thì hoàn tòa trả bằng tiền (khoản 2 Điều
131 và khoản 3 Điều 427 BLDS 2015).
- Khác nhau:
Điều kiện
chấm dứt
hợp đồng
- Hợp đồng dân sự vi phạm một trong các
điều kiện có hiệu lực của hợp đồng (Điều
117 BLDS 2015)
- Một trong các bên trong hợp đồng vi phạm các điều khoản
có trong hợp đồng hoặc một
Trang 6- Hợp đồng vô hiệu do có đối tượng không
thể thực hiện được (Điều 408 BLDS 2015)
bên yêu cầu hủy hợp đồng
(Điều 423 BLDS 2015)
- Hủy bỏ hợp đồng do chậm
thực hiện nghĩa vụ (Điều 424 BLDS 2015)
- Hủy bỏ hợp đồng do không
có khả năng thực hiện (Điều
425 BLDS 2015)
- Hủy bỏ hợp đồng trong trường hợp tài sản bị mất, bị
hư hỏng (Điều 426 BLDS 2015)
Phạm vi
- Hợp đồng dân sự vô hiệu toàn bộ khi vi
phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã
hội (Điều 123 BLDS 2015) ; do người chưa
thành niên, người mất năng lực hành vi dân
sự, người hạn chế năng lực hành vi dân sự
xác lập, thực hiện (Điều 128 BLDS 2015) ;
do giả tạo (Điều 124 BLDS 2015), do bị lừa
dối, đe dọa (Điều 127 BLDS 2015); do
người xác lập không nhận thức và làm chủ
hành vi của mình (Điều 128 BLDS 2015);
do không tuân thủ quy định về hình thức
(Điều 129 BLDS 2015).
- Hợp đồng vô hiệu từng phần khi một phần
của giao dịch vô hiệu nhưng không ảnh
hưởng đến phần còn lại của giao dịch
- Hợp đồng bị hủy bỏ
Trách
nhiệm
bồi
thường
- Khoản 3 Điều 133 BLDS 2015: Bảo vệ
quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi hợp
đồng vô hiệu: “Trường hợp giao dịch dân sự
vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại
cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó
được chuyển giao bằng một giao dịch dân sự
- Khoản 3 Điều 423 BLDS
2015: “Bên hủy bỏ hợp đồng
phải thông báo ngay cho bên kia biết về việc hủy bỏ, nếu không thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.”
Trang 7khác cho người thứ ba ngay tình và người
này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập,
thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị
vô hiệu.”
Hiệu lực
hợp đồng
- Hợp đồng vô hiệu toàn bộ không có hiệu
lực nên không làm phát sinh quyền và nghĩa
vụ pháp lý giữa các bên
- Hợp đồng vô hiệu từng phần thì phần nào
không bị vô hiệu thì vẫn có hiệu lực, vẫn
được giữ nguyên và tiếp tục thực hiện (Điều
130 BLDS 2015)
- Theo khoản 1 Điều 427
BLDS 2015: “Hợp đồng này
có hiệu lực tại thời điểm giao kết nhưng vì phát sinh yếu tố dẫn đến hủy hợp đồng nên hiệu lực này không được công nhận”.
Hậu quả
pháp lý
- Các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu,
hoàn trả cho nhau những gì đã nhận (Điều
131 BLDS 2015)
- Các bên không phải thực hiện nghĩa vụ đã thỏa thuận, trừ thỏa thuận về phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và thỏa thuận về giải quyết tranh chấp
- Các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận
2.2 Theo Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long, hợp đồng vô hiệu hay bị huỷ bỏ?
Theo Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long là hợp đồng vô hiệu: “Xét thấy hợp đồng mua bán xe ngày 26/5/2012 nêu trên là vô hiệu theo quy định tại các Điều 122 của BLDS
2015 nên không có căn cứ tuyên hủy hợp đồng cũng không xét yêu cầu phạt vi phạm hợp đồng của nguyên đơn và bị đơn vì hợp đồng vô hiệu không làm phát sinh quyền sinh nghĩa vụ của các bên đã giao kết trong hợp đồng mà phải tuyên hợp đồng vô hiệu và xử
lý hậu quả theo Điều 131 BLDS”
2.3 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long (về huỷ bỏ hay vô hiệu hợp đồng)
Theo nhóm em hướng giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long về việc tuyên
bố hợp đồng vô hiệu là hợp lý vì:
+ Thứ nhất: Về chủ thể, hợp đồng ghi bên mua là “Trang trí nội thất Thanh Thảo” người đại diện là bà Nguyễn Thị Dệt là không đúng vì bà Dệt không đại diện cho “Trang trí nội
Trang 8thất Thành Thảo” mà thực chất là “Công ty TNHH-SX-TM Thành Thảo” do ông Trương Hoàng Thành làm Giám đốc đại diện (vi phạm điểm b điểu 117 vi phạm về sự tự nguyện hay k3 điều 142 đối với người không có quyền đại diện)
+ Thứ hai: Mặc dù hợp đồng ghi tên đại diện bên mua là bà Dệt nhưng đứng ra kí kết hợp
đồng thì lại là ông Trương Văn Liêm là không đúng theo quy định của pháp luật tại điểm
a khoản 1 Điều 117 BLDS 2015.
Từ đó, có thể thấy đây là hợp đồng vi phạm về chủ thể nên Tòa án tuyên bố hợp đồng
vô hiệu là hoàn toàn hợp lý Đồng thời xét về lỗi dẫn tới vô hiệu hợp đồng của các bên giao dịch là ngang nhau, do đó các bên không phát sinh quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng
mà các bên đã ký cho nên việc hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận là có cơ sở
2.4 Nếu hợp đồng bị vô hiệu thì có áp dụng phạt vi phạm hợp đồng không? Vì sao?
Nếu hợp đồng bị vô hiệu thì không áp dụng phạt vi phạm hợp đồng Bởi vì: Hợp đồng
vô hiệu thì không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao kết, các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu đầu hoàn trả lại cho
nhau những gì đã nhận (khoản 1 Điều 131 BLDS 2015).
Tuy nhiên bên “Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường” (khoản 4 Điều 131 BLDS 2015) do việc hợp đồng bị vô hiệu.
2.5 Hướng giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long đối với câu hỏi trên như thế nào và suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết này của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
Hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long:
Xét hợp đồng mua bán xe ngày 26/5/2012 nêu trên là vô hiệu theo quy định tại Điều
122 của BLDS 2005 nên không có căn cứ tuyên hủy hợp đồng cũng không xét yêu cầu
phạt vi phạm hợp đồng của cả nguyên đơn và bị đơn vì hợp đồng vô hiệu không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên ngay từ thời điểm giao kết, không ràng buộc trách nhiệm các bên đã giao kết trong hợp đồng mà phải tuyên hợp đồng vô hiệu và xử lý hậu
quả theo Điều 131 của BLDS 2005.
Lý do: Hợp đồng ghi bên mua là “Trang trí nội thất Thanh Thảo”, người đại diện Nguyễn Thị Dệt là không đúng vì bà Dệt thực chất không đại diện cho Trang trí nội thất Thanh Thảo mà thực chất là Công ty TNHH-SX-TM Thành Thảo do Trương Hoàng Thành là Giám đốc đại diện Bên cạnh đó, Hợp đồng ghi bên mua là bà Nguyễn Thị Dệt nhưng đứng ra giao kết lai là ông Trương Văn Liêm là không đúng quy định của pháp luật
Trang 9Theo nhóm, hướng giải quyết của Tòa án như trên là hợp lý bởi vì khi có cơ sở hợp đồng là vô hiệu thì không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên kể từ thời điểm
giao kết được xác lập (khoản 1 Điều 137 BLDS 2005).
2.6 Điểm giống nhau và khác nhau giữa đơn phương chấm dứt hợp đồng và hủy bỏ hợp đồng do có vi phạm.
* Giống nhau
- Đều là hành vi pháp lý của một bên trong hợp đồng làm căn cứ chấm dứt hợp đồng khi có những điều kiện do pháp luật quy định hoặc các bên có thỏa thuận
- Bên hủy bỏ, đơn phương chấm dứt phải thông báo ngay cho bên kia biết về việc hủy
bỏ, nếu không thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường
- Đều có hậu quả là kết thúc việc thực hiện hợp đồng
- Do một bên thực hiện
- Chỉ không phải bồi thường khi một bên vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trong hợp đồng Đây cũng là điều kiện để áp dụng việc hủy bỏ hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng
* Khác nhau1
Đơn phương chấm dứt hợp đồng Chấm dứt kể từ thời điểm bên kia nhận được thông báo Những j đã xác lập vân có hiệu lực
Hủy bỏ hợp đồng Căn cứ pháp lý Điều 428 BLDS 2015 Điều 423 BLDS 2015
Các trường hợp
- Khi một bên vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trong hợp đồng;
- Do hai bên thỏa thuận;
- Do pháp luật quy định
- Do chậm thực hiện nghĩa vụ;
- Do không có khả năng làm;
- Do tài sản bị hư hại, bị hỏng, bị mất
Điều kiện áp
dụng
- Một bên vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trong hợp đồng hoặc các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật
có quy định Có nghĩa là, đơn
- Một bên vi phạm hợp đồng là điều kiện hủy bỏ mà các bên đã thỏa thuận;
- Một bên vi phạm nghiêm trọng
1
Nguyễn Hương, “Phân biệt hủy bỏ hợp đồng và đơn phương chấm dứt hợp đồng”,
https://luatvietnam.vn/dan-su/phan-biet-huy-bo-hop-dong-va-don-phuong-cham-dut-hop-dong-568-19633-article.html, truy cập ngày 11/10/2021
Trang 10phương chấm dứt hợp đồng có thể dựa trên sự thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định của pháp luật
mà không cần xuất phát từ sự vi phạm hợp đồng
- Không bắt buộc phải có sự vi phạm hợp đồng bởi hai bên có thể thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định
nghĩa vụ hợp đồng;
- Các trường hợp pháp luật có quy định, như: Chậm thực hiện nghĩa
vụ, hợp đồng không có khả năng thực hiện, tài sản bị mất, hư hỏng
Hậu quả
- Hợp đồng chấm dứt kể từ thời điểm bên kia nhận được thông báo chấm dứt
- Các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ nữa
- Hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết, các bên không phải thực hiện nghĩa vụ đã thỏa thuận
- Hoàn trả cho nhau những gì đã nhận sau khi trừ đi chi phí
2.7 Ông Minh có được quyền hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng nêu trên không? Vì sao? Nếu có, nêu rõ văn bản cho phép hủy bỏ
Căn cứ theo điểm b Khoản 1 và Khoản 2 Điều 423 BLDS 2015, khoản 1 Điều 424 :
“Điều 423 Hủy bỏ hợp đồng
1 Một bên có quyền hủy bỏ hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại trong trường hợp sau đây:
b) Bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng;
2 Vi phạm nghiêm trọng là việc không thực hiện đúng nghĩa vụ của một bên đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng
Điều 424 Hủy bỏ hợp đồng do chậm thực hiện nghĩa vụ
1 Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ mà bên có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trong một thời hạn hợp lý nhưng bên có nghĩa vụ không thực hiện thì bên có quyền có thể hủy bỏ hợp đồng
”
Ông Minh và ông Cường đã kí kết với nhau về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hợp đồng này được giao kết hợp pháp, do vậy hợp đồng này có hiệu lực ràng