Biện chứng giữa cái chung và cái riêng và vận dụng vào việc xây dựng nền kinh tế thị trường ở nước ta ftu Biện chứng giữa cái chung và cái riêng và vận dụng vào việc xây dựng nền kinh tế thị trường ở nước ta ftu Biện chứng giữa cái chung và cái riêng và vận dụng vào việc xây dựng nền kinh tế thị trường ở nước ta ftu
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA: LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
o0o
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
BIỆN CHỨNG GIỮA CÁI CHUNG VÀ CÁI RIÊNG
VÀ VẬN DỤNG VÀO VIỆC XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ THỊ
TRƯỜNG
Ở NƯỚC TA
Sinh viên thực hiện :Trần Tiến Bằng
Mã sinh viên :2114310011
Số thứ tự :10
Lớp tín chỉ :TRI114.12
Giảng viên hướng dẫn :TS Đào Thị Trang
Trang 2MỤC LỤC
MỤC
LỤC 1
LỜI MỞ
ĐẦU 2
NỘI
DUNG 4
I Biện chứng giữa cái chung và cái
riêng 4
1 Biện chứng là
gì? 4
2 Phép biện chứng duy
vật 4
3 Phạm trù giữa cái riêng và cái
chung 5
3.1 Cái riêng và cái
chung 5 3.2 Quan hệ giữa cái riêng và cái
chung 5
3.3 Ý nghĩa phương pháp
luận 6
II Vận dụng phép biện chứng giữa cái chung và cái riêng trong xây dựng kinh tế thị trường ở nước
ta 7
Trang 31 Nền kinh tế thị
trường 7
2 Nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện
nay 7
3 Cái chung và cái riêng đối với nền kinh tế thị trường Việt Nam 8
III Những giải pháp phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam dựa trên
cơ sở nguyên lý về cái chung và cái riêng 9 KẾT LUẬN 12 TÀI LIỆU THAM KHẢO 13
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Trải qua một thời gian dài vận động và phát triển, con người đã hình thành nên ý thức; đồng thời họ cũng biết nhìn nhận, đánh giá về thế giới xung quanh Và trong quá trình nhận xét, đánh giá về thế giới vật chất xung quanh ấy của con người,
họ đã nhận ra được những điểm chung, điểm khác biệt và điểm đơn nhất của các sự vật, hiện tượng Cái bàn, cái ghế và tủ sách, tuy có hình dáng và kích thước khác nhau, được con người chế tạo ra với mục đích khác nhau Song, lại đều có một điểm chung là được làm từ gỗ thông qua bàn tay chế tác con người
Từ sự phát hiện đó, phạm trù về cái chung và cái riêng của triết học ra đời Nghiên cứu phạm trù giữa cái chung và cái riêng
trong triết học không chỉ giúp con người hiểu rõ được các quy luật của tự nhiên mà nó còn có quan hệ mật thiết đối với việc xây dựng lên nền kinh tế thị trường ở mỗi quốc gia
Nền kinh tế luôn là thước đo để đánh giá sự về phát triển của một đất nước Chính vì thế việc xây dựng nền kinh tế thị trường lại càng trở nên đặc biệt quan trọng Trong những năm
80 của thế kỉ trước, nước ta đã lâm vào khủng hoảng kinh tế -
xã hội do đi theo xây dựng nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp, đối lập, phủ nhận kinh tế thị trường Điều này có nguyên nhân bắt nguồn từ sai lầm trong nhận thức lý luận cho rằng kinh tế thị trường là đặc trưng riêng của chủ nghĩa tư bản, đồng nhất kinh tế thị trường với kinh tế tư bản chủ nghĩa, xóa bỏ chủ nghĩa tư bản là phải xóa bỏ kinh tế thị trường
để xây dựng nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung, bao cấp Lịch
sử đã chứng minh lý tưởng đó là sai lầm và thế giới đã chứng kiến sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông
Âu thời bấy giờ
Nhận thức được tầm quan trọng của việc vận dụng triết học Mác - Lênin và phép biện chứng duy vật trong việc xây
Trang 5dựng nền kinh tế đất nước, tôi quyết định chọn đề tài “Biện
chứng giữa cái chung và cái riêng và vận dụng vào việc xây dựng nền kinh tế thị trường ở nước ta” Qua đó, tôi
mong muốn được tìm hiểu những nét chung và riêng của nền kinh tế Việt Nam với các nền kinh tế lớn mạnh trên thế giới; từ
đó đưa ra những giải pháp thiết thực nhất nhằm góp phần xây dựng nền kinh tế thị trường của nước nhà ngày một lớn mạnh Với mục đích và nhiệm vụ trên, tiểu luận có kết cấu như sau: phần thứ nhất giới thiệu về phép biện chứng giữa cái chung và cái riêng, ý nghĩa phương pháp luận; phần thứ hai liên hệ phép biện chứng với thực trạng kinh tế Việt Nam; và phần thứ ba là các giải pháp đưa ra trong tương lai
Trang 6NỘI DUNG
I Biện chứng giữa cái chung và cái riêng.
1 Biện chứng là gì?
Khái niệm biện chứng trong lịch sử triết học được dùng theo một số nghĩa khác nhau Nhưng trong triết học hiện đại, biện chứng được định nghĩa như sau:
Biện chứng là phương pháp xem xét những sự vật và
những phản ánh của chúng trong tư tưởng, trong mối quan hệ qua lại lẫn nhau của chúng, trong sự ràng buộc, sự vận động, sự phát sinh và tiêu vong của chúng
Biện chứng bao gồm biện chứng khách quan và biện chứng chủ quan Trong đó, biện chứng khách quan là biện chứng của các sự vật, hiện tượng trong thế giới hiện thực khách quan; biện chứng chủ quan là sự phản ánh hiện thực khách quan đến đầu óc con người
2 Phép biện chứng duy vật.
Phép biện chứng là học thuyết nghiên cứu, khát quát biện
chứng của thế giới thành các nguyên lí, quy luật khoa học nhằm xây dựng phương pháp luận khoa học
Trong quá trình phát triển, phép biện chứng có ba hình thức cơ bản là phép biện chứng chất phác cổ đại, phép biện chứng duy tâm (cổ điển Đức) và phép biện chứng duy vật.Phép biện chứng duy vật được xây dựng trên cơ sở một hệ thống những nguyên lý, những phạm trù cơ bản, những quy luật phổ biến phản ánh đúng đắn hiện thực Trong hệ thống đó nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát
triển là hai nguyên lý khái quát nhất Vì thế Ph.Ăng ghen đã định nghĩa: "phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy"
Trang 7Đặc điểm của phép biện chứng duy vật là sự thống nhất
giữa thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng; giữa lý luận nhận thức và logic biện chứng; được chứng minh bằng sự phát triển của khoa học tự nhiên trước đó
Phép biện chứng duy vật có vai trò là phương pháp luận trong nhận thức và thực tiễn để giải thích quá trình phát triển của sự vật và nghiên cứu khoa học
Các cặp phạm trù cơ bản nhất của phép biện chứng duy
vật bao gồm phạm trù giữa cái riêng và cái chung; phạm trù
nguyên nhân và kết quả; tất nhiên và ngẫu nhiên;
3 Phạm trù giữa cái riêng và cái chung.
Phạm trù triết học là hình thức hoạt động trí óc phổ biến
của con người, là những mô hình tư tưởng phản ánh những thuộc tính và mối liên hệ vốn có ở tất cả các đối tượng hiện thực
3.1 Cái riêng và cái chung.
Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta thường bắt gặp những sự vật, hiện tượng tuy khác nhau nhưng lại có một mối quan hệ khăng khít, không thể tách rời Thí dụ, trong thế giới động vật bao gồm các cá thể (mỗi cá thể là đơn nhất); có nhiều loài khác nhau (mỗi loài là một cái riêng); nhưng tất cả đều tuân theo một quy luật chung của sự sống (cái chung) Như vậy:
Cái riêng là phạm trù chỉ một sự vật, hiện tượng, một quá trình nhất định Cái chung là phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính,
yếu tố, quan hệ tồn tại phổ biến trong nhiều sự vật, hiện tượng
Cái đơn nhất là những đặc tính, tính chất chỉ tồn tại ở một sự vật, hiện
tượng mà không lặp lại ở một sự vật hiện tượng khác
Trong thí dụ trên, các cá thể là cái đơn nhất bởi các cá thể tồn tại là không hoàn toàn giống nhau Mỗi loài là một cái riêng do loài (hay giống loài) là một tập hợp của các cá thể, loài này không giống những loài khác Và cái chung để
Trang 8chỉ quy luật tồn tại của các loài luôn tuân theo quy luật của sinh học: đều được sinh ra, vận động phát triển rồi chết đi
3.2 Quan hệ biện chứng giữa cái riêng và cái chung.
Trong lịch sử triết học, đã có hai quan điểm trái ngược nhau về mối quan
hệ giữa cái riêng và cái chung
Phái duy thực cho rằng, cái chung mới là thứ tồn tại vĩnh viễn độc lập với
ý thức của còn người; trong khi đó cái riêng chỉ tồn tại tạm thời, thoáng qua, không tồn tại lâu dài ên cạnh cái cây riêng lẻ, có ý niệm cái cây nói chung; B bên cạnh cái nhà riêng lẻ, có ý niệm cái nhà nói chung, v.v Cái cây, cái nhà riêng lẻ có ra đời, tồn tại tạm thời và mất đi, nhưng ý niệm cái cây, cái nhà nói chung thì tồn tại mãi mãi Từ đó các nhà triết học duy thực cho rằng cái cây, cái nhà riêng lẻ là do ý niệm cái cây, cái nhà nói chung sinh ra, cái riêng do cái chung sinh ra
Trái ngược với quan niệm của các nhà triết học duy thực, các nhà triết học theo trường phái duy danh lại cho rằng, chỉ có cái riêng mới tồn tại thực sự còn cái chung là những tên gọi trống rỗng do con người đặt ra Họ cho rằng khái niệm con người, giai cấp, đấu tranh giai cấp, cách mạng xã hội, chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc, v.v., không có ý nghĩa gì trong cuộc sống của con người, chỉ là những từ trống rỗng, không cần thiết phải bận tâm tìm hiểu Quan điểm này không thừa nhận nội dung khách quan của các khái niệm
Tuy nhiên, cả hai quan niệm của phái duy thực và phái duy danh đều là sai lầm Họ đã tách rời cái riêng với cái chung, họ không thấy sự tồn tại khách quan và mối liên hệ khăng khít giữa chúng Thực chất, cái đơn nhất, cái riêng hay cái chung đều tồn tại khách quan và giữa chúng có mối liên hệ hữu cơ với nhau:
Cái riêng chỉ tồn tại trong mối quan hệ với cái chung, không có cái riêng tách rời cái chung.Thí dụ, mỗi quốc gia đều có lịch sử và quá trình hình thành,
có đặc điểm của nền kinh tế khác nhau, đó là một cái riêng Nhưng nền kinh tế nào cũng đều bị chi phối bởi quy luật cung - cầu, quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đó là cái chung Như vậy sự vật, hiện tượng riêng nào cũng bao hàm cái chung
Trang 9Cái riêng là cái toàn bộ, phong phú hơn cái chung, còn cái chung thì sâu sắc hơn cái riêng Cái riêng phong phú hơn cái chung bởi nó nắm giữ nhiều đặc
điểm khác biệt mà cái chung không có được Ngược lại cái chung lại sâu sắc hơn cái riêng vì nó có nhiều đặc điểm hơn, phản ánh những thuộc tính, mối liên
hệ lặp lại ở nhiều cái riêng cùng loại Người nông dân Việt Nam bên cạnh cái chung với nông dân của các nước trên thế giới là có tư hữu nhỏ, sản xuất nông nghiệp, sống ở nông thôn, v.v., còn có đặc điểm riêng là chịu ảnh hưởng của văn hóa làng xã, của các tập quán lâu đời của dân tộc, của điều kiện tự nhiên của đất nước, nên rất cần cù lao động, có khả năng chịu đựng được những khó khăn trong cuộc sống
3.3 Ý nghĩa phương pháp luận.
Từ ví dụ nếu muốn nhận thức được quy luật của sinh học,
ta phải đi sâu tìm hiểu từng loài vật trong từng thời kì phát triển
của chúng, ta rút ra được kết luận: Muốn nhận thức được cái chung, cái bản chất thì phải xuất phát từ cái riêng Cái chung
chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng để biểu thị sự tồn tại của mình
Cái chung là cái sâu sắc, bản chất chi phối cái riêng nên:
Nhiệm vụ của nhận thức là phải tìm ra cái chung và trong hoạt động thực tiễn phải dựa vào cái chung để tạo cái riêng Nếu
trong thực tiễn, chúng ta không hiểu được cái chung thì khi đi tìm hiểu sâu về cái riêng, rất dễ rơi vào trạng thái mù quáng, hoạt động một cách mò mẫm, thiếu chủ động Tuy nhiên, cái chung biểu hiện thông qua cái riêng, nên khi áp dụng cái chung phải tùy vào từng cái riêng cụ thể để vận dụng cho thích hợp Chẳng hạn, khi áp dụng những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, phải căn cứ vào tình hình cụ thể của từng thời kỳ lịch sử ở mỗi nước để vận dụng những nguyên lý đó cho thích hợp, có vậy mới đưa lại kết quả trong hoạt động thực tiễn
Trong hoạt động thực tiễn, con người cần phải chủ động tác động vào sự chuyển hóa cái mới thành cái chung để phát triển nó và ngược lại, tác động cái
cũ thành cái đơn nhất để xóa bỏ nó nhằm mang lại lợi ích cho con người và xã
hội
Trang 10II Vận dụng phép biện chứng giữa cái chung và cái riêng trong việc xây dựng nền kinh tế thị trường ở nước ta.
1 Nền kinh tế thị trường
Nền kinh tế thị trường là một hệ thống kinh tế trong đó các quyết định
kinh tế và giá cả hàng hóa dịch vụ được dẫn dắt theo sự tác động lẫn nhau giữa người mua và người bán Các nền kinh tế thị trường hoạt động theo cơ chế sử dụng các lực lượng cung và cầu để xác định giá cả cũng như số lượng phù hợp cho các hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế
Trong thế giới hiện đại ngày nay, nền kinh tế thị trường thường là một nền kinh tế hỗn hợp với sự tham gia của thị trường tự do và một số can thiệp của chính phủ
2 Nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay.
Với nền tảng vững chắc của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và việc tham khảo những xu hướng của các nền kinh tế hiện đại trên thế giới, xuất phát từ thực tiễn và yêu cầu của Việt Nam; Đảng và Nhà nước ta đã lựa chọn con đường xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa
Ngày nay nền kinh tế thị trường của đất nước ta có cơ cấu bao gồm bốn thành phần kinh tế cơ bản: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Trong đó, kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo và các thành phần kinh tế khác là bộ phận hợp thành nên nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Cơ chế vận hành của nền kinh tế thị trường là một cơ chế mở, bị điều tiết bởi các quy luật kinh tế cơ bản như: giá cả, quy luật cạnh tranh, cung cầu, Song, tạo ra khả năng kết nối hình thành chuỗi giá trị cho nền sản xuất toàn cầu
3 Cái chung và cái riêng đối với nền kinh tế thị trường ở Việt Nam.
Ngày nay, kinh tế Việt Nam ngày càng chú trọng đến việc hội nhập kinh
tế quốc tế, hiện đại hóa và toàn cầu hóa Trong đó, nền kinh tế của Việt Nam là cái riêng, là bộ phận của nền kinh tế thế giới – cái chung Thị trường trong nước gắn với thị trường thế giới; sự giao lưu về hàng hóa, dịch vụ và đầu tư trực tiếp
Trang 11của người nước ngoài làm cho sự vận động của nền kinh tế nước ta gần gũi hơn với nền kinh tế thị trường thế giới Đồng thời chính điều đó đã tạo nên sự hoàn chỉnh trong nền kinh tế của thế giới
Cái riêng không tách rời cái chung, nền kinh tế Việt Nam không thể tồn tại độc lập với nền kinh tế thế giới mà ngược lại, chúng ta phải học hỏi những tiến bộ khoa học kĩ thuật, nhập khẩu những nguyên liệu từ các nước khác Thực
tế đã chứng minh, thực dân Pháp đến nước ta mang lại bao đau khổ và mất mát, chúng làm suy thoái nòi giống của dân tộc ta, Nhưng nếu không có sự xâm lược của Pháp, Việt Nam sẽ sống mãi trong sự lạc hậu dưới chế độ phong kiến Nếu Pháp không vì muốn đẩy mạnh việc khai thác khoáng sản, dân tộc ta sẽ không hay biết gì đến đường sắt, xe đạp hay các tiến bộ khoa học của thế giới Mặt khác, nếu Bác Hồ không ra đi tìm đường cứu nước, thì có lẽ nước Việt Nam
đã không còn xuất hiện trên bản đồ thế giới
Như vậy, học tập và tiếp thu những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thế giới nhằm hoàn thiện kinh tế thị trường Việt Nam là rất tất yếu Tuy nhiên ta cần chọn lọc ra những đặc điểm sao cho phù hợp với văn hóa, điều kiện phát triển của đất nước Trong lịch sử phát triển hơn 300 năm ở các nước phương Tây, nền kinh tế thị trường của họ là nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa Nền kinh tế này một mặt tạo ra động lực thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ cho nền kinh tế song, liên tục gây ra các cuộc khủng hoảng chu kì, sự phân hóa giàu – nghèo, xung đột giai cấp, Điều này rất cần đến sự can thiệp của chính phủ để ổn định, tạo đà phát triển kinh tế Mặt khác, từ thực tiễn đó và qua việc tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới, Việt Nam đã xây dựng nên nền kinh tế thị trường
xã hội chủ nghĩa – được cho là mô hình kinh tế thị trường mới sáng tạo, phù hợp trong thời đại ngày nay
III Những giải pháp phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam dựa trên cơ sở nguyên lý về cái chung và cái riêng.
Hội nhập quốc tế là con đường tất yếu để phát triển nền kinh tế Kinh tế
thị trường Việt Nam cần có sự quản lý đúng đắn của nhà nước, phát triển vì mục tiêu “ dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Đó là nền kinh thế nhiều thành phần với kinh tế nhà nước làm trụ cột Đẩy mạnh vai trò của nền kinh tế tư nhân trong việc phục vụ đời sống nhân dân, thúc đẩy các doanh