1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN (TRIẾT học MAC LÊNIN 1) biện chứng về cái CHUNG cái RIÊNG và vận DỤNG vào VIỆC xây DỰNG nền KINH tế THỊ TRƯỜNG ở nước TA

21 1,4K 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 169,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tìm hiểu, nghiên cứu đề tài “Biện chứng về cái chung và cái riêng và vận dụng vào việc xây dựng nền kinh tế thị trường ở nước ta” với ý nghĩa ứng dụng triết học vào thực tiễn sẽ giúp chú

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

Khoa lý luận chính trị

TIỂU LUẬN

Môn: Nguyên lý chủ nghĩa Mác – Lê-nin

BIỆN CHỨNG VỀ CÁI CHUNG VÀ CÁI RIÊNG VÀ VẬN DỤNG VÀO

VIỆC XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ THỊ

TRƯỜNG Ở NƯỚC TA

Họ và tên:

Lớp : Giáo viên hướng dẫn:

Trang 2

MỤC LỤC

Lời nói đầu……… 3

Phần 1:

Cặp phạm trù “cái riêng” và “cái chung” trong phép biện chứng……4

1.1 Các khái niệm cơ bản……….4

1.2 Mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng……….5

1.3 Ý nghĩa cái chung và cái riêng trong hoạt động thực tiễn……… 7

Phần 2:

Cái chung, cái riêng và nền kinh tế thị trường……… 8

2,1 Khái niệm nền kinh tế thị trường………8

2.2 Tính tất yếu phải chuyển sang nền kinh té thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa……….8

2.3 Những đặc điểm riêng-chung, thành tựu và phương hướng phát triển trong công cuộc xây dựng nền kinh tế thị trường ở nước ta………… 9

Kết luận……….13Tài liệu tham khảo………14

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Khi đánh giá tầm quan trọng của việc phát triển nền kinh tế đối với sựtồn tại, phát triển của thế giới nói chung và của từng quốc gia nói riêng, Ph Ăng-ghen cho rằng: “Sự phát triển của chính trị, luật pháp, triết học, tôn giáo, văn họcnghệ thuật đều dựa trên sự phát triển về kinh tế” Ý thức được vai trò quan trọngmang ý nghĩa nền tảng của việc phát triển kinh tế đối với sự đi lên của đất nước,nhà nước Việt Nam ta đã không ngừng đổi mới tư duy và hoàn thiện lý luận để

đề ra đường lối phát triển kinh tế đúng đắn, phù hợp nhất

Trước thực trạng kinh tế lạc hậu, bị tàn phá bởi chiến tranh, năm 1986,tại Đại hội Đảng VI, Đảng ta đã đề ra đường lối Đổi Mới, chuyển nền kinh tế tậptrung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủnghĩa Đây là một bước ngoặt quan trọng, có ý nghĩa thúc đẩy sản xuất, xây dựngđất nước giàu mạnh, công bằng và văn minh Hơn 20 năm đổi mới, nước ta đã đạtđược những bước tiến đáng kể, dần khẳng định được vị thế “riêng” của mình trêntrường quốc tế

Tuy nhiên, trong bối cảnh bắt đầu hội nhập ra “biển lớn” này, vấn đềcần quan tâm là làm sao đất nước vừa tận dụng được những điều kiện vốn có, vừatiếp thu, học hỏi, vận dụng những thành tựu của thế giới; vừa khẳng định nétriêng, bản sắc nền kinh tế của mình, vừa tiếp cận những quy luật chung của nềnkinh tế thị trường Với những yêu cầu đó, việc vận dụng cặp phạm trù “cáichung” và “cái riêng” trong triết học Mác-Lênin có vai trò vô cùng thiết thân và

là định hướng cho nhận thức về nền kinh tế thị trường

Tìm hiểu, nghiên cứu đề tài “Biện chứng về cái chung và cái riêng và vận dụng vào việc xây dựng nền kinh tế thị trường ở nước ta” với ý nghĩa ứng

dụng triết học vào thực tiễn sẽ giúp chúng ta có cái nhìn tổng quát hơn, đồng thờicũng sâu sắc, bản chất hơn về những vấn đề xoay quanh đường lối phát triển nềnkinh tế thị trường ở nước ta

Trang 4

Với tri thức và kinh nghiệm còn hạn chế, em thực hiện bài tiểu luận này

hy vọng đóng góp một cách nhìn về nền kinh tế mới, đồng thời sẽ nhận đượcnhững nhận xét, góp ý từ phía thầy cô để hoàn thiện bản thân hơn trên con đườnghọc tập

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

1 Cặp phạm trù “cái riêng” và “cái chung” trong phép biện chứng:

Với tư cách là một bộ môn khoa học, phép biện chứng có một hệ thốngphạm trù riêng Một trong những cặp phạm trù có ý nghĩa xuyên suốt trong mọilĩnh vực, đóng vai trò làm cơ sở để hiểu rõ các phạm trù khác chính là “cái riêng”

và “cái chung”

1.1Các khái niệm cơ bản:

Cái riêng là một phạm trù triết học dùng để chỉ một sự vật, hiện tượng,

một quá trình riêng lẻ nhất định Với tư cách là một sự vật, cái riêng không lặplại

Ví dụ: Hà Nội, sao Thủy, thuyết tiến hóa của Đác-uyn, Liên minh ChâuÂu…được gọi là cái riêng Mặc dù một sự vật, hiện tượng có thể bao gồm những

sự vật, hiện tượng nhỏ hẹp hơn nhưng nó vẫn được gọi là cái riêng nếu có tínhkhông lặp lại Tính chất đó được gọi là cái đơn nhất Cái đơn nhất là phạm trùtriết học chỉ những đặc tính, tính chất… chỉ có ở một sự vật, hiện tượng riêng lẻ

Ví dụ: vân tay, giọng nói, hình dáng…cụ thể của một ai đó là cái đơn nhất, thểhiện đặc tính riêng chỉ có ở một người, giúp ta phân biệt được người này vớingười kia

Giữa những cái riêng vẫn có thể có những nét tương đồng, có thểchuyển hóa cho nhau Những đặc điểm giống nhau ấy gọi là cái chung

Cái chung là một phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những

thuộc tính, yếu tố, quan hệ… được lặp lại trong một số hay nhiều sự vật, hiệntượng, quá trình

Ví dụ: chanh, khế, cam… đều có vị chua, thì vị chua được gọi là mộtcái chung; đặc điểm tiêu giảm lá thành gai là một cái chung của rất nhiều loại câysống ở sa mạc Trong cái chung có cái phổ biến Cái phổ biến là phạm trù triếthọc chỉ những cái chung nhất, những đặc điểm, thuộc tính lặp lại ở tất cả các sự

Trang 6

vật và hiện tượng Ví dụ, khả năng sinh trưởng, sinh sản, cảm ứng… là những cáiphổ biến của thế giới sống.

Ngoài ra, trong cái riêng còn tồn tại cái đặc thù Cái đặc thù là phạm trùtriết học có thể được hiểu như là hình thức biểu hiện của cái phổ biến trong cáiriêng

Phép biện chứng duy vật khẳng định sự tồn tại khách quan của cái phổbiến, cái đặc thù lẫn và đơn nhất Trong tính hiện thực của nó, chúng không tồntại tách rời mà là ba mặt cấu thành một chỉnh thể thống nhất của sự vật, hiệntượng hay quá trình (cái riêng)

1.2 Mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng:

Trong lịch sử triết học, có những quan điểm khác nhau về sự tồn tại củacái riêng và cái chung

Thuyết duy thực (nổi bật lên là Platon) cho rằng: cái chung tồn tại độclập, không phụ thuộc vào cái riêng và sinh ra cái riêng; cái riêng không tồn tại,nếu có tồn tại thì cũng là do cái chung sinh ra và mang tính tạm thời; cái riêngđược sinh ra và chỉ tồn tại trong một thời gian nhất định rồi mất đi; trong khi đó,cái chung tồn tại vĩnh viễn, “như một ý niệm tuyệt đối” (Platon), không trải quamột biến đổi nào Chẳng hạn, bông hoa, giọt sương…cụ thể là cái riêng, có ra đờinhưng tồn tại tạm thời và rồi mất đi, nhưng ý niệm về bông hoa, giọt sương nóichung là vĩnh viễn, là cái chung

Trang 7

Thuyết duy danh lại cho rằng chỉ có cái riêng là tồn tại thực sự; cáichung chẳng qua chỉ là tên gọi do lý trí đặt ra Ví dụ, theo quan niệm này thì cáckhái niệm con người, nghệ thuật, lịch sử, biện chứng… đều chỉ là những tên gọi

vô nghĩa, không có giá trị thực trong cuộc sống Vì vậy mà theo phái duy danhthì cũng không cần có sự đấu tranh, phân biệt giữa chủ nghĩa duy tâm và chủnghĩa duy vật

Cả hai thuyết trên đều sai lầm ở chỗ khẳng định sự tồn tại của cái riêng

và cái chung một cách độc lập, đã tách rời cái riêng ra khỏi cái chung, hoặc làtuyệt đối hoá cái riêng, phủ nhận cái chung, hoặc ngược lại, mà không nhận ramối quan hệ biện chứng giữa chúng Khắc phục sai lầm này, quan điểm duy vậtbiện chứng cho rằng, cả cái riêng và cái chung đều tồn tại một cách thực tế,không hề biệt lập tách rời nhau, ngược lại, chúng có mối liên hệ hữu cơ chặt chẽvới nhau Mối quan hệ ấy được biểu hiện ở:

Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu hiện

sự tồn tại của mình Nghĩa là không có cái chung thuần tuý tồn tại biệt lập, lơlửng bên ngoài cái riêng, cụ thể như không có một con người nói chung tồn tạibên cạnh những người cụ thể tên Lan, Trung, Hòa…Rõ ràng khái niệm con người

là cái chung được biểu hiện thông qua những con người cụ thể

Cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ đưa đến cái chung (V.I.Lê-nin),

vì bất cứ cái riêng nào cũng đều tồn tại trong muôn vàn mối liên hệ qua lại vớicác sự vật, hiện tượng, quá trình khác chung quanh mình Có sự liên hệ ấy là vìgiữa chúng có những điểm giống nhau (cái chung) Đồng thời, bất kỳ cái riêngnào cũng chỉ là hình thức tồn tại của một lớp sự vật cùng loại, trong cái riêngluôn chứa đựng cái chung của loại đó Chẳng hạn, bất cứ nền kinh tế cụ thể nàocũng tuân theo quy luật chung quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất, trình độcủa lực lượng sản xuất, các quần thể sinh vật khác nhau vẫn cùng chịu chi phốibởi quy luật chọn lọc tự nhiên…

Trang 8

Cái chung là cái bộ phận, cái riêng là cái toàn thể; cái chung sâu sắc hơn cái riêng còn cái riêng phong phú hơn cái chung Sở dĩ như vậy vì bên cạnh

những thuộc tính lặp lại ở các sự vật khác (cái chung), bất cứ cái riêng nào cũngcòn chưa những cái vốn chỉ có ở nó (cái đơn nhất) Do đó, cái riêng phong phúhơn cái chung Nhưng nếu đó là cái chung mang tính quy luật, thể hiện bản chất

sự vật (cái chung tất nhiên), phản ánh những thuộc tính, những mối liên hệ ổnđịnh, tất nhiên, lặp lại ở nhiều cái riêng cùng loại thì nó là cái sâu sắc hơn cáiriêng, quy định sự tồn tại, vận động và phát triển của cái riêng Ví dụ: giá trị nhânđạo và giá trị hiện thực là đặc điểm chung, đồng thời phản ánh đặc điểm cần có ởcác tác phẩm văn học chân chính, nên nó mang tính bản chất sâu sắc hơn so vớinhững tác phẩm cụ thể Cần phân biệt cái chung tất nhiên với cái chung ngẫunhiên, trong đó cái chung ngẫu nhiên không quyết định đến sự tồn tại bản chấtcủa sự vật

Trong những điều kiện nhất định, cái chung và cái đơn nhát có thể chuyển hóa lẫn nhau Một sự vật, hiện tượng mới ra đời có tính đơn nhất, qua

quá trình vận động, phát triển trở thành cái chung, cái chung ấy trở nên “lạc hậu”chỉ còn biểu hiện ở một cái riêng thì nó lại trở thành cái đơn nhất Ví dụ Mộtchương trình cứu trợ lương thực ra đời vào cuối những năm 60 của thế kỷ 20 cótên là Ngân hàng lương thực hiện đang hoạt động rất hiệu quả tại Hoa Kỳ, khimới ra đời, nó là hiện tượng đơn nhất, nhưng hiện nay khi chương trình này đãphổ biến rộng ra Canada, Brazil…thì nó trở thành cái chung; hoặc ngày trước,nghề làm đàn dân tộc vốn phổ biến rất rộng rãi ở các làng nghề trong Nam ngoàiBắc của nước ta, nó trở thành cái chung, nhưng hiện nay trên cả nước có lẽ chỉcòn duy nhất làng Đào Xá, xã Đông Lỗ, huyện Ứng Hòa là còn giữ được nghềlàm đàn dân tộc, nó lại trở thành cái đơn nhất

Tuy nhiên giữa các phạm trù này cũng có sự giao thoa, ranh giới phânbiệt chỉ mang tính tương đối tùy vào hệ quy chiếu mà ta xét đến Ví dụ quy luật

Trang 9

giá trị thặng dư là một cái chung trong nền kinh tế thị trường, nhưng nó trở thànhcái đơn nhất khi xét giữa các nền kinh tế khác vì tính chất đặc trưng, chỉ tồn tại ởnền kinh tế thị trường của quy luật này

1.3 Ý nghĩa cái chung và cái riêng trong hoạt động thực tiễn:

Cái chung chỉ tồn tại như một bộ phận của cái riêng, bộ phận đó nằmtrong sự tác động qua lại với những mặt còn lại của cái riêng, làm cho cái chungkhông tồn tại thuần túy mà ở dưới dạng cải biến trong cái riêng Vì vậy, mọi luậnđiểm chung khi áp dụng vào từng trường hợp cũng cần có sự cá biệt hóa Nếu ápđặt cái chung một cách tuyệt đối thì sẽ vấp phải những sai lầm có tính giáo điều.Nếu không chú trọng cái chung mà chỉ quan tâm đến cái đơn nhất thì dễ xảy đến

sự vô nguyên tắc

Cái riêng không tồn tại ở bên ngoài mối liên hệ đến cái chung, cho nên

để giải quyết vấn đề riêng một cách hiệu quả, cần phải đối mặt giải quyết nhữngvấn đề lý luận liên quan với các vấn đề riêng đó Nếu không giải quyết những

Trang 10

vấn đề lý luận chung thì sẽ không tránh khỏi sa vào kinh nghiệm chủ nghĩa, sựtùy ý và dễ đi đến thất bại.

Trong quá trình phát triển của sự vật, ở những điều kiện nhất định, cáiđơn nhất và cái chung có thể chuyền hóa lẫn nhau Vì thế, tùy những mục đíchriêng, cần tạo điều kiện thích hợp để cái đơn nhất tiêu biểu cho quy luật phát triểnchuyển thành cái chung, hoặc ngược lại, chuyển cái chung thành cái đơn nhất,nếu sự tồn tại của cái chung không còn phù hợp với quy luật phát triển

Vận dụng mối liên hệ biện chứng giữa cái riêng và cái chung, nhà nước

ta đã đề ra nhiều giải pháp nhằm phát triển con đường mới về mặt kinh tế, đưanước ta thoát khỏi tình trạng lạc hậu và theo kịp đà tăng trưởng của thế giới Đóchính là con đường phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN

Trang 11

2 Cái chung, cái riêng với vấn đề xây dựng nền kinh tế thị trường: 2.1 Khái niệm nền kinh tế thị trường:

Thị trường là một phạm trù kinh tế, tồn tại một cách khách quan, độclập cùng với sự tồn tại và phát triển của nền kinh tế hàng hóa, lưu thông hànghóa, ở đâu có trao đổi hàng hóa ở đó có thị trường

Một nền kinh tế trong đó các vấn đề cơ bản của nó do thị trường chiphối, quyết định được gọi là nền kinh tế thị trường Đây là hình thức phát triểncao của nền kinh tế hàng hóa, các quan hệ kinh tế đều được tiền tệ hóa Các đặctrưng cơ bản là: phát triển kinh tế hàng hóa, mở rộng thị trường, tự do kinhdoanh, thương mại, tự định giá cả, đa dạng hóa quan hệ phân phối, sở hữu doquan hệ cung-cầu

2.2 Tính tất yếu phải chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa:

Trước đây, khi đất nước đang xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa và nềnkinh tế còn ở trong tình trạng lạc hậu, trì trệ, bị chiến tranh tàn phá nặng nề, đã cóquan điểm kinh tế cho rằng: Kinh tế hàng hóa là sản phẩm riêng của chủ nghĩa tưbản Vì vậy, nền kinh tế xã hội chủ nghĩa lúc bấy giờ là nền kinh tế tập trungquan liêu bao cấp Lúc bấy giờ, nền kinh tế này đã giúp đất nước huy động đượckhối lượng lớn người và của, đáp ứng được những đòi hỏi bức thiết của chiếntranh

Tuy nhiên trong gần 70 năm tồn tại, mô hình kinh tế kế hoạch tập trungnày đã ngày càng bộc lộ những khuyết điểm của mình, tỏ ra không còn phù hợp

và không đủ nội lực để thúc đẩy sự phát triển của đất nước nữa Trong khi GDP

Trang 12

còn thấp thì việc phân phối bình quân theo lao động đã làm tiêu giảm động lựcphát triển xã hội Hình thức sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất đã làm cho đấtnước không tận dụng được nguồn lực còn đang hạn chế của mình Sự quan liêubao cấp cũng hạn chế sự tự do trao đổi hàng hóa, tự do cạnh tranh và sáng tạo.

Trong khi đó, chủ nghĩa tư bản lấy lợi nhuận làm đầu, đi theo nền kinh

tế thị trường để tạo ra động lực phát triển dựa vào cạnh tranh vì lợi ích Tuy điềunày đồng nghĩa với việc đối mặt với nguy cơ rủi ro cao hơn, tình trạng bất ổn vàphân hóa giàu-nghèo sẽ gia tăng nhưng phát triển kinh tế thị trường thực sự đãđem lại những thành tựu dáng kể, thúc đẩy mạnh mẽ tính năng động sang tạo củacon người và là cơ hội cho nền kinh tế có bước phát triển vượt bậc

Hơn thế nữa, trong bối cảnh toàn cầu hóa mà không làm mất đi đặc thùcủa những giá trị truyền thống ở mỗi quốc gia, việc vận dụng nền kinh tế thịtrường cũng có sự linh hoạt Mỗi thể chế chính trị có thể dựa vào kinh nghiệmcủa các nước đi trước và hoàn cảnh thực tại của đât nước mình mà có sự cải biến,thích hợp hóa nền kinh tế thị trường, khắc phục những hạn chế cố hữu xảy ra ởthể chế chính trị khác Vì vậy việc gắn liền xã hội XHCN với nền kinh tế thịtrường đang trên hành trình tự phủ định và tiến hóa ở nước ta hoàn toàn có thểkhắc phục được hạn chế xảy ra ở các nước TBCN nếu nhà nước cân nhắc để raphương hướng phát triển phù hợp

Vì vậy có thể nói kinh tế thị trường là một phương thức sản xuất mangtính lịch sử, là thành quả của văn minh nhân loại, không chỉ là “sản phẩm riêngcủa chủ nghĩa tư bản” Khi vượt qua giới hạn về mục đích chỉ làm giàu cho tưbản thì nền kinh tế này có động lực để phát huy thế mạnh của mình trong việclàm lợi cho toàn xã hội

Sự lựa chọn chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN

ở nước ta là một sự lựa chọn sáng tạo, đúng đắn, đáp ứng được nguyện vọng củangười dân,vừa phù hợp với xu thế tất yếu của các nước trong thời đại mới, vừa kế

Ngày đăng: 23/03/2021, 21:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w