Biện chứng giữa cái chung và cái riêng và vận dụng vào việc xây dựng kinh tế thị trường ở nước ta Biện chứng giữa cái chung và cái riêng và vận dụng vào việc xây dựng kinh tế thị trường ở nước ta Biện chứng giữa cái chung và cái riêng và vận dụng vào việc xây dựng kinh tế thị trường ở nước ta
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI H C NGOỌ ẠI THƯƠNG
Khoa Luậ t
~~~~~~*~~~~~~
Đề tài: BIỆN CH NG GI A CÁI CHUNG VÀ CÁI RIÊNG VÀ V N D NG Ứ Ữ Ậ Ụ
VÀO VI C XÂY D NG N N KINH T Ệ Ự Ề Ế THỊ RƯỜNG Ở T NƯỚC TA
Sinh viên thực hiện: Trần Hà An
Mã sinh viên: 2114610002
Lớp tín chỉ: TRI114.7
Lớp hành chính: Anh 02 – Luật Thương mại quốc tế - K60
GV hướng dẫn: ThS Nguyễn Thị Tùng Lâm
Hà Nội, ngày 30 tháng 11 năm 2021
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
LỜI MỞ ĐẦU 3
PHẦN NỘI DUNG 4
I Quan điểm triết học Mác Lê nin về cái ch- ung và cái riêng 4
1 Khái niệm cái chung và cái riêng 4
2 Mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng 5
II CÁI CHUNG VÀ CÁI RIÊNG DƯỚI GÓC ĐỘ KINH TẾ VIỆT NAM VÀ KINH T Ế THẾ GIỚI 6
III VẬN DỤNG QUAN H Ệ BIỆN CHỨNG GIỮA CÁI CHUNG VÀ CÁI
RIÊNG VÀO N N KINH TỀ Ế THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM 7
1 Kinh t ế thị trường 7
2 Kinh t ế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam 9
KẾT LU N Ậ 14
TÀI LIỆU THAM KHẢO 15
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Đất nước Việt Nam ta cũng như nhiều quốc gia khác trên thế giới đã phải trải qua biết bao khó khăn trong xây dựng nền kinh tế Đi lên từ nền kinh tế phong kiến lạc hậu, trì trệ, bước ra khỏi hai cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại nhưng vô cùng tàn khốc và đau thương, nền kinh tế nước ta vốn đã lạc hậu lại càng thêm kiệt quệ bởi chiến tranh Bước vào thời bình, khi đất nước còn quá non trẻ, Đảng và Chính phủ
đã vội vàng xây dựng nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp khiến cho đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng Trong khi đó, nhờ sử dụng triệt để kinh tế thị trường mà CNTB đã đạt được những thành tựu về kinh t - ế xã hội, phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất lao động Cũng nhờ kinh tế thị trường, quản lý xã hội đạt được những thành quả về văn minh hành chính, văn minh công cộng; con người nhạy cảm, tinh tế, với khả năng sáng tạo, sự thách thức đua tranh phát triển
Trước tình hình đó, trong Đại hội Đảng VI, Đảng ta kịp thời nhận ra sai lầm
và tiến hành sửa đổi, chuyển sang xây dựng kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, kích thích sản xuất, phát triển kinh tế nhằm mục tiêu dân giàu nước mạnh
xã hội công bằng văn minh Đặc biệt trong những năm gần đây, nền kinh tế nước ta
đã có những bước phát triển vượt bậc, trở nên vững chắc và nhanh chóng hội nhập với nền kinh tế thế giới Điều đó cho thấy những quyết định của Đảng và nhà nước
ta là kịp thời và hoàn toàn đúng đắn
Tuy nhiên, mới chập chững bước vào nền kinh tế thị trường đầy gian khó, phức tạp, nền kinh tế Việt Nam đòi hỏi sự học tập, tiếp thu kinh nghiệm của nhân loại trên cơ sở cân nhắc, chọn lọc sao cho phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của Việt Nam Nội dung tiểu luận “Biện chứng giữa cái chung vàcái riêng và vận
dụng vào việc xây dựng kinh tế thị trường ở nước ta” sẽ phân tích theo quan điểm
của Triết học về mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, từ đó đưa ra những đánh giá, vận dụng trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Trang 4PHẦN NỘI DUNG
I Quan điểm triết học Mác Lê nin về cái ch - ung và cái riêng
1 Khái niệm cái chung và cái riêng
Trong cu c s ng hộ ố ằng ngày, chúng ta thường tiếp xúc với một số sự vật hiện tuợng quá trình khác nhau M i s v t hi n tuỗ ự ậ ệ ợng đó được g i là mọ ột cái riêng, đồng thời chúng ta cũng thấy giữa chúng lại có mặt giống nhau tức là tồn tại cái chung giữa chúng Theo quan điểm triết học Mác-Lê nin thì:
Cái chung là một phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những thuộc
tính chung không những có ở một kết cấu vật chất nhất định, mà còn được
lặp lại trong nhiều sự vật hiện tượng hay quá trình riêng lẻ khác, những
mối liên hệ giống nhau, hay lặp lại ở nhiều cái riêng
Cái chung thường chứa đựng ở trong nó tính quy luật, sự lặp lại Ví dụ như quy luật cung - cầu, quy luật giá trị thăng dư là những đặc điểm chung mà mọi nền kinh tế thị trường bắt buộc phải tuân theo
Cái riêng là phạm trù triết học dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng,
một quá trình riêng lẻ nhất định trong thế giới khách quan
Cái đơn nhất là phạm trù triết học để chỉ những đặc tính, tính chất chỉ
có ở một sự vật, hiện tượng nào đó mà không lặp lại ở các sự vật hiện
tượng khác
Ví dụ: Một hành tinh nào đấy hay một thực vật, động vật nào đấy là cái đơn nhất trong giới tự nhiên Cái riêng trong lịch sử xã hội là một sự kiện riêng lẻ nào
đó, như là cuộc cách mạng tháng Tám của Việt Nam chẳng hạn Một con người nào đó: Huệ, Trang, cũng là cái riêng Cái riêng còn có thể hiểu là một nhóm sự vật gia nhập vào một nhóm các sự vật rộng hơn, phổ b ến hơn Sự tồn tại cá biệt đó của cái i riêng cho thấy nó chứa đựng trong bản thân những thuộc tính không lặp lại ở những cấu trúc sự vật khác Tính chất này được diễn đạt bằng khái niệm cái đơn nhất Cái đơn nhất là một phạm trù triết học dùng để chỉ những thuộc tính, những mặt chỉ có
ở một sự vật nhất định mà không lặp lại ở những sự vật khác Ví dụ chiều cao, cân nặng, vóc dáng của một người là cái đơn nhất Nó cho biết những đặc điểm của chỉ riêng người đó, không lặp lại ở một người nào khác Cần phân biệt “cái riêng” với cái “đơn nhất”
Trang 52 Mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng
Trong l ch s tri t h c, m i liên h ị ử ế ọ ố ệ giữa cái riêng và cái chung được quan niệm khác nhau Phái duy thực đồng nhất thượng đế ớ v i cái chung và cho r ng ch ằ ỉ
có cái chung mới t n tồ ại độ ậc l p khách quan và là ngu n g c sồ ố ản sinh ra cái riêng Đối lập lại chủ nghĩa duy thực, các nhà triết học duy danh như P Abơla (1079-1142), Đumxcot (1265 1308) cho rằng chỉ những sự vật, hiện tượng tồn tại - riêng biệt với những chất lượng riêng của chúng mới là có thực còn khái niệm cái chung chỉ là sản phẩm của tư duy của con người
Thấy được và khắc phục hạn chế của hai quan niệm trên, triết học duy vật biện chứng cho rằng cái chung và cái riêng có mối liên hệ biện chứng mật thiế với nhau, t
và cả hai đều tồn tại một cách khách quan
Cái chung tồn tại bên trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu hiện sự tồn tại Không có cái chung tồn tại độc lập bên ngoài cái riêng Ví dụ quy luật bóc lột giá trị thặng dư của nhà tư bản là một cái chung, không thế thì không phải là nhà
tư bản, nhưng quy luật đó được thể hiện ra ngoài dưới những biểu hiện của các nhà
tư bản (cái riêng)
Cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ với cái chung Nghĩa là không có cái
riêng nào tồn tại tuyệt đối độc lập Ví dụ: mỗi con người là một cái riêng nhưng mỗi con người không thể tồn tại ngoài mối liên hệ với tự nhiên và xã hội Nền kinh tế nào cũng bị chi phối bởi quy luật cung-cầu, quy luật QHSX phù hợp với tính chất
và trình độ của LLSX, đó là cái chung Như vậy sự vật hiện tượng nào cũng bao hàm cái chung
Cái chung là bộ phận, nhưng sâu sắc hơn cái riêng, còn cái riêng là toàn bộ
nhưng phong phú hơn cái chung Cái riêng phong phú hơn cái chung vì ngoài đặc điểm chung cái riêng còn có cái đơn nhất Cái chung sâu sắc hơn cái riêng vì cái , riêng phản ánh những thuộc tính, những mối liên hệ ổn định, tất nhiên, lặp lại ở nhiều cái riêng cùng loại Do vậy cái chung là cái gắn liền với bản chất, quy định phương hướng tồn tại và phát triển của cái chung
Trong những hoàn cảnh khác nhau, cái chung có thể chuyển hoá thành cái đơn nhất và ngược lại Ví dụ: trước Đại hội Đảng VI thì kinh tế thị trường, khoán sản phẩm chỉ là cái đơn nhất, còn cái chung là cơ chế bao cấp; nhưng từ sau Đại hội Đảng VI thì kinh tế thị trường lại dần trở thành cái chung, còn kinh tế tập trung bao cấp thành cái đơn nhất, chỉ còn tồn tại trong một số ngành như an ninh quốc phòng
Sự phân biệt giữa cái chung và cái đơn nhất nhiều khi chỉ mang tính tương đối Có những đặc điểm xét ở trong nhóm sự vật này là cái đơn nhất, nhưng nếu xét
ở trong nhóm sự vật khác lại là cái chung Ví dụ như cây cối là một đặc điểm chung khi xét tập hợp các cây như bạch đàn, phượng vĩ, bàng… nhưng nếu xét trong phạm
Trang 6vi thực vật thì cây cối chỉ là một đặc điểm đơn nhất chỉ các loại cây, mà ngoài ra thực vật còn có cỏ, bụi rậm, nấm
Trên cơ sở nguyên lý về mối liên hệ giữa cái riêng và cái chung, ta đã đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển nền kinh t ế thị trường của Việt Nam một cách thích hợp, cố gắng theo kịp tốc độ tăng trưởng của các nước phát triển trên thế giới, tăng cường cơ sở vật chất cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội
II CÁI CHUNG VÀ CÁI RIÊNG DƯỚI GÓC ĐỘ KINH TẾ VIỆT NAM
VÀ KINH T Ế THẾ GIỚI
Xét v m i quan h kinh tề ố ệ ế đối ngo i, có thạ ể thấy n n kinh tề ế nước ta đang hoà nh p v i n n kinh t ậ ớ ề ế thị trường th ế giới, s ự giao lưu về hàng hoá, d ch vị ụ và đầu
tư trực ti p cế ủa nước ngoài làm cho s vự ận động c a nủ ền kinh t ế nước ta gần gũi hơn
với n n kinh tề ế thị trường toàn cầ Tương quan giá cả của các lo i hàng hoá trong u ạ nước gần gũi hơn với tương quan giá cả hàng hoá quốc tế Thị trường trong nước gắn li n v i thề ớ ị trường thế giới N n kinh tề ế Việt Nam trở thành một bộ phận của nền kinh tế thế giới Chính điều này tạo nên một chỉnh thể hoàn chỉnh của nền kinh
tế thế giới
Xu hướng chung phát tri n kinh t c a th ể ế ủ ế giới là s phát tri n kinh t c a mự ể ế ủ ỗi nước không thể tách r i s phát tri n và hoà nh p qu c t , s c nh tranh gi a các ờ ự ể ậ ố ế ự ạ ữ quốc gia đã thay đổi hẳn về chất, không còn là dân số đông, vũ khí nhiều, quân đội mạnh mà là ti m l c kinh t Mề ự ế ục đích của các chính sách, c a các qu c gia là tủ ố ạo được nhi u c a c i v t ch t trong qu c gia c a mình, là tề ủ ả ậ ấ ố ủ ốc độ phát tri n kinh t cao, ể ế
đờ ối s ng nhân dân được c i thi n, th t nghi p thả ệ ấ ệ ấp Tiềm l c kinh tự ế đã trở thành thước đo chủ yếu, vai trò và sức mạnh của mỗi dân tộc, là công cụ ch yủ ếu để bảo
vệ uy tín và duy trì s c mứ ạnh của các đảng c m quyầ ền
Như vậy với tư cách là một bộ phận c a n n kinh tủ ề ế thế giới thì vi c ti p thu ệ ế những đặc trưng cơ bản những nét chung trong tổng thể đó để hoàn thiện nền kinh
tế Việt Nam là t t yấ ếu Chủ trương phát triển kinh t là s ế ự tiếp thu có ch n l c thành ọ ọ
tựu của văn minh nhân loạ , phát huy vai trò tích c c c a kinh ti ự ủ ế thị trường trong việc thúc đẩy phát triển sức sản xuất, xã hội hóa lao động, cải tiến kỹ thuật – công nghệ, nâng cao chất lượng s n ph m, t o ra nhi u c a c i, góp ph n làm giàu cho xã ả ẩ ạ ề ủ ả ầ hội và c i thiả ện đờ ối s ng nhân dân.Tuy nhiên ta không được phép chỉ tiếp thu một cách hình th c mà ph i ti p thu có ch n l c cho phù h p vứ ả ế ọ ọ ợ ới điều kiện đất nước Phải gi ữ được nhưng nét đặc trưng riêng tức là ph i b o tả ả ồn cái đơn nhất c a kinh tủ ế Việt Nam từ đó còn phải xây d ng m t n n kinh tự ộ ề ế thị trường m i vớ ề chất, thể hiện
sự phát tri n, ph nh bi n chể ủ đị ệ ứng đố ớ ềi v i n n kinh t ế thị trường TBCN
Trang 7III V ẬN D NG QUAN H Ụ Ệ BIỆ N CH NG GI A CÁI CHUNG VÀ CÁI Ứ Ữ RIÊNG VÀO NỀ N KINH T THỊ Ế TRƯỜNG VIỆT NAM Ở
1 Kinh t ế thị trường
Trên góc độ vĩ mô, thị trường là m t ph m trù kinh t t n t i mộ ạ ế ồ ạ ột cách khách quan cùng v i s t n t i và phát tri n c a s n xuớ ự ồ ạ ể ủ ả ất hàng hoá, và lưu thông hàng hoá
Ở đâu và khi nào có sản xuất hàng hoá thì ở đó và khi ấy có thị trường Khi th ị trường, nghĩa là lĩnh vực trao đổi mở rộng ra thì quy mô s n ả xuất cũng tăng lên, sự phân công s n xuả ất cũng trở nên sâu sắc hơn Theo David Begg, thị trường "là s ự biểu hi n thu g n cệ ọ ủa quá trình mà thông qua đó các quyết định của các gia đình về tiêu dùng các m t hàng nào, các quyặ ết định ủ c a các công ty v s n xu t cái gì, sề ả ấ ản xuất như thế nào và cái quyết định của người công nhân về việc làm bao lâu, cho ai đều được dung hòa b ng s ằ ự điều ch nh giá cả" Ta cũng có thể định nghĩa thị trường ỉ
là nơi diễn ra hoạt động mua bán hàng hóa, nơi cung gặp cầu
Kinh tế thị trường là m t hộ ệ thống tự điều ch nh n n kinh t , bỉ ề ế ảo đảm có năng suất, chất lượng và hi u qu ệ ả cao; dư thừa và phong phú hàng hoá; d ch v ị ụ được
mở rộng và coi như hàng hoá thị trường; năng động, luôn luôn đổi m i m t hàng, ớ ặ công ngh và th ệ ị trường Đó là một n n kinh t ề ế hoạt động theo cơ chế thị trường, với những đặc trưng cơ bản như: phát triển kinh tế hàng hoá, mở rộng thị trường, tự do kinh doanh, t ự do thương mại, t ự định giá cả, đa dạng hoá s h u, phân ph i do quan ở ữ ố
hệ cung- c u ầ
Trong thời kì quá độ lên CNXH, Vi t Nam có nhệ ững điều kiện chung để kinh t hàng hóa xu t hi n v n còn t n tế ấ ệ ẫ ồ ại Do đó, sự tồn t i c a kinh t hàng hóa, ạ ủ ế kinh t ế thị trường ở nước ta là một tất yếu khách quan
Phân công lao động xã hội là cơ sở ất y u c a n n s n xu t hàng hóa v t ế ủ ề ả ấ ẫn tồn t i và ngày càng phát tri n c v chi u r ng l n chi u sâu ạ ể ả ề ề ộ ẫ ề ở nước ta hi n nay ệ
Nó th ể hiện ở chỗ các ngành ngh ề ở nước ta ngày càng đa dạng, phong phú, chuyên môn hóa sâu Phân công lao động góp phần phá v tính ch t t cung t cỡ ấ ự ự ấp của nền kinh t t ế ự nhiên trước đây và thúc đẩy kinh tế hàng hóa phát tri n mể ạnh
mẽ hơn; là cơ sở và là động lực để nâng cao năng suất lao động, nghĩa là làm cho nền kinh t ngày càng có nhi u s n ph m thế ề ả ẩ ặng dư dùng để trao đổi, mua bán, t ừ
đó các hoạt động trao đổi mua bán hàng hóa trên th ị trường ngày càng phát triển hơn
Do t n t i nhi u hình th c s h u (s h u toàn dân, s h u t p thồ ạ ề ứ ở ữ ở ữ ở ữ ậ ể, sở ữu h
tư nhân, sở hữu hỗn h p) nên ợ cũng tồn tại nhiều chủ thể kinh t c l p, l i ích ế độ ậ ợ
Trang 8riêng, b i v y quan h kinh t ở ậ ệ ế giữa h ọ chỉ có th ể thực hi n b ng quan h hàng hóa-ệ ằ ệ tiền tệ Thành ph n kinh t ầ ế nhà nước và kinh t t p th , tuy cùng d a trên ch ế ậ ể ự ế độ công h u v ữ ề tư liệu s n xuả ất, nhưng các đơn vị kinh t v n có s khác bi t nhế ẫ ự ệ ất
định, có quyền t ch trong s n xu t kinh doanh Mự ủ ả ấ ặt khác các đơn vị kinh t còn ế
có s khác nhau v ự ề trình độ ỹ thuật – công ngh k ệ, về trình độ quản lý, nên chi phí sản xu t và hi u qu ấ ệ ả cũng khác nhau, quan hệ kinh tế giữa họ phải thực hiện b ng ằ quan h hàng hóa ti n t ệ ề ệ
Thực tiễn những năm đổi mới cũng chỉ ra rằng, vi c chuyệ ển đổi sang mô hình kinh t ế thị trường của Đảng là hoàn toàn đúng đắn
Sau khi giành độc lập, giải phóng mi n Nam th ng nhề ố ất đất nước, đất nước
ta t n t i cùng mồ ạ ột lúc ba gam màu kinh tế Sự không hài hòa gi a các n n kinh t ữ ề ế cùng v i s ớ ự chủ quan, duy ý chí, c ng nhứ ắc trong đường lối lãnh đạo của Đảng và Nhà nước lúc bấy giờ, hơn nữa đất nước ta đang trong thời kỳ bị c t gi m vi n tr ắ ả ệ ợ
từ các nước XHCN anh em, đã dẫn đến việc nền kinh t ế nước ta trong những năm cuối th p k 80 lâm vào kh ng ho ng tr m trậ ỷ ủ ả ầ ọng, đờ ống nhân dân b i s ị giảm sút, thậm chí mở ộ ốt s nơi còn bị ạn đói đe doạ Chính những sai l n ầm đó đã chỉ ra rằng, vi c phát tri n kinh t ệ ể ế theo định hướng XHCN ở nước ta không th p tể tiế ục việc kế hoạch hóa tập trung như trước Với tinh th n tích c c sầ ự ửa đổi, sau khi đã nhận ra nh ng sai l m, tữ ầ ại đạ ội h i VI, Đảng đã chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành ph n và th c hiầ ự ện chuyển đổi cơ chế quản lý kinh t t ế ừ cơ chế ế k hoạch hoá sang cơ chế hạch toán kinh doanh XHCN Đến đạ ội VII Đảng ta xác i h định việc đổi mới cơ chế kinh tế ở nước ta là m t t t yộ ấ ếu khách quan và trên thực
tế đang diễn ra việc đó, tức là chuy n t n n kinh t k ể ừ ề ế ế hoạch hoá tập trung sang nền kinh t ế thị trường có s ự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN Đây là một sự thay đổi về nhận thức có ý nghĩa rất quan trọng trong lý luận cũng như trong th c t ự ế
Đảng ta còn chỉ rõ rằng nền kinh t ế thị trường có sự phù hợp với thực tế nước
ta, phù hợp với các qui luật kinh tế và với xu thế của thời đại:
Nếu không thay đổi cơ chế kinh tế, vẫn giữ cơ chế kinh tế cũ thì không thể nào có đủ sản phẩm để tiêu dùng chứ chưa muốn nói đến tích luỹ vốn để mở rộng sản xuất
Do đặc trưng của nền kinh t ế tập trung là rất cứng nhắc nên nó chỉ có tác dụng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn ngắn và chỉ có tác dụng phát triển kinh t theo chiế ều rộng Nền kinh tế chỉ huy ở nước ta tồn tại quá dài nên nó không những không còn tác dụng đáng kể trong việc thúc đẩy sản xuất phát
Trang 9triển mà nó còn sinh ra nhiều hiện tượng tiêu cực làm giảm năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất
Xu hướng chung phát triển kinh tế của thế giới là sự phát triển kinh tế của mỗi nước không thể tách rời sự phát triển và hoà nhập quốc tế chính là tiềm lực kinh tế Mục đích của các chính sách, của các quốc gia là tạo được tốc độ phát triển kinh tế cao, đời sống nhân dân được cải thiện, thất nghiệp thấp Kinh tế
đã trở thành thước đo chủ yếu, vai trò và sức mạnh của mỗi dân tộc, là công
cụ chủ yếu để bảo vệ uy tín và duy trì sức mạnh của các đảng cầm quyền Như vậy việc chuyển sang kinh tế thị trường là điều kiện không thể thiếu để phát triển kinh tế Tuy nhiên, ta không được phép tiếp thu một cách dập khuôn nền kinh tế thị trường chế độ TBCN mà phải xây dựng một nền kinh tế thị trường mới
về chất, thể hiện sự phát triển hơn so với nền kinh tế thị trường TBCN
2 Kinh t ế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
Trước h t, nế ền kinh t ế nước ta là n n kinh t ề ế thị trường, nên nó tuân theo mọi quy lu t c a n n kinh t ậ ủ ề ế thị trường: quy lu t cung c u, quy lu t giá tr ậ – ầ ậ ị thặng
dư, quy luật lưu thông tiền tệ,…
Các loại th ịtrường, các mối quan h ệ thị trường được phát tri n phong ể phú, đa dạng, thể hiện trình độ cao trong việc phân công lao động thành nhiều ngành nghề
Sự khác biệt v s hề ở ữu tài sản đã được chấp nh n (không còn chậ ỉ chấp nh n hình ậ thức sở hữu nhà nước, t p th ậ ể như trước) và l i nhu n tr thành ợ ậ ở động l c phát tri n ự ể Theo đó, đã hình thành mộ ớp ngườt l i mới năng động hơn, bám sát thị trường hơn
và "bi t làm kinh tế ế hơn" ở nước ta hiện nay cũng hình thành và tồn tại cả những khuyết tật của kinh tế thị trường: tâm lý quá coi trọng đồng tiền, chạy theo lợi nhuận,
sự phân cực giàu nghèo quá mức, kinh tế phát triển mất cân đối… Kinh tế thị trường nước ta cũng có sự quản lý của nhà nước để khống chế, giảm bớt những khuyết tật
đó cùng những tác hại của nó Nhưng tuy nhiên, những khuyết tật đó vẫn còn tồn tại
âm ỉ trong xã hội và trong suy nghĩ của một số người
N n kinh tề ế thị trường nước ta hiện nay cũng tuân theo xu hướng chung phát triển kinh tế thế giới là sự phát triển kinh tế của mỗi nước không thể tách rời sự phát triển và hoà nhập quốc tế, tiến tới hoà nhập thành một thị trường chung trên toàn th ế giới Tương quan giá cả của các loại hàng hoá trong nước cũng ngày càng gần gũi hơn với tương quan giá cả hàng hoá quốc tế
b) Thực trạng kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
Nếu trong CNTB hiện đại, kinh tế thị trường đặt dưới sự quản lý của nhà nước tư sản độc quyền vì l i ích c a giai cợ ủ ấp tư sản, thì trong n n kinh t ề ế thị trường
Trang 10nằm dưới sự quản lý của nhà nước XHCN nh m ph c v l i ích c a nhân dân, góp ằ ụ ụ ợ ủ phần th c hi n m c tiêu giự ệ ụ ải phóng con người, và vì con người Để thực hi n mệ ục tiêu đó, phải tìm ki m nhi u gi i pháp, không giế ề ả ản đơn chỉ xem xét quan h s hệ ở ữu
mà là gi i quyả ết đồng b t vộ ừ ấn đề ở ữ s h u, qu n lý, phân ả phối; tìm động l c cho s ự ự phát triển trên cơ sở xây d ng v t ch t- kự ậ ấ ỹ thuật cho xã h i m i, là quá trình công ộ ớ nghiệp hoá, hiện đại hoá, biến nước ta từ một nước nông nghiệp l c hạ ậu thành một nước có nền kinh tế phát triển Đường lối phát triển đó đã được Đảng ta ch rõ: Xây ỉ dựng kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN; luôn giữ vững định hướng XHCN trong quả trình đổi mới, kết hợp với sự kiên định về mục tiêu, nguyên t c và linh ho t trong giắ ạ ải pháp
Chúng ta không coi kinh t ế thị trường là mục tiêu mà ch là mỉ ột công c , ụ giải pháp, phương tiện để phát tri n lể ực lượng s n xu t, phát tri n kinh t ả ấ ể ế phục v l i ích ụ ợ của đa số nhân dân lao động, nh m mằ ục tiêu dân giàu, nước m nh, xã hạ ội công b ng, ằ văn minh Cùng với vi c s dệ ử ụng động l c c a kinh t ự ủ ế thị trường, ngay t ừ đầu, Đảng
ta chủ trương phát triể ực lượn l ng sản xuất phải đi đôi với xây dựng quan h sệ ản
xuất, đặc biệt là những yếu kém về ản lý và phân ph xây dqu ối, ựng quan hệ con người với con người, một xã hội giàu tình thương và lòng nhân ái; tăng trưởng kinh
tế phải đi đôi với xoá đói giảm nghèo, làm cho th ịtrường mang tính nhân văn hơn Dưới CNTB, kinh t ế thị trường mang tính c nh tranh theo ki u cá l n ạ ể ớ nuốt cá
bé, bất bình đẳng ất công; nhưng nề, b n kinh tế thị trường trong xã h i XHCN vộ ẫn mang tính c nh tranh, s d ng cạ ử ụ ạnh tranh làm động l c phát tri n ự ể nhưng không cạnh tranh dã man; tăng trưởng kinh tế đi đôi với công bằng xã hội, khuyến khích làm giàu g n vắ ới xoá đói giảm nghèo và kh c ph c s phân cắ ụ ự ực giàu nghèo, gia tăng về mức sống nhưng vẫn giữ gìn được đạo đức, bản sắc văn hoá dân tộc
Trong quá trình phát tri n, kinh t ể ế nhà nước được ch n l c, s p x p l i, khọ ọ ắ ế ạ ẳng
định h p lý phạm vi cần nắm gi , nắm l y nh ng m ch máu ch yợ ữ ấ ữ ạ ủ ếu làm đội quân chủ l c trong xây dự ựng và điều ti t kinh tế ế, làm nòng cốt hướng d n các thành phẫ ần kinh t khác hoế ạt động đúng hướng
Quan h phân ph i trong kinh t ệ ố ế thị trường TBCN là nhà tư bản n m gi phân ắ ữ lớn s n phả ẩm Ta chủ trương phân phối theo lao ng, theo vđộ ốn trên cơ sở khuyến khích mọi người t do s n xu t kinh doanh công khai hự ả ấ ợp pháp, đồng thời th c hiự ện chính sách công b ng xã h i Ta chằ ộ ủ trương chống bóc lột, bất công, chăm lo sự nghiệp y t , giáo dế ục, đấu tranh cho m t nộ ền đạo đức m i, m t l i sớ ộ ố ống lành m nh ạ Chỉ có k t h p mế ợ ục tiêu kinh tế v i mớ ục tiêu xã h i mộ ới thểhiện được b n chả ất của chế độ mới Tuy nhiên, để có động l c cho s phát tri n ự ự ể phải khuy n khích tích tế ụ, tích lu , sáng ki n cá nhân, ch p nh n phân hoá do ỹ ế ấ ậ lao động sáng tạo (nhưng kiên quyết xoá b phân hoá do b t công) ỏ ấ