1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan hệ giữa cái chung và cái riêng, và vận dụng vào xây dựng nền kinh tế thị trường ở nước ta

28 398 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan hệ giữa cái chung và cái riêng, và vận dụng vào xây dựng nền kinh tế thị trường ở nước ta
Tác giả Đỗ Thị Lương Hà
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Tiểu luận triết học
Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 136,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức được vấn đề cấp bách của kinh tế - xã hội như vậy nên em đã mạnh dạn chọn đề bài: “Quan hệ giữa cái chung và cái riêng, và vận dụng vào xây dựng nền kinh tế thị trường ở nước t

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Ngày nay hầu hết các quốc gia trên thế giới đều nhận thấy rằng, đườnglối phát triển kinh tế là yếu tố đầu tiên quyết định đến sự thành bại trong quátrình phát triển kinh tế - xã hội của một đất nước Thực tế cho thấy rằng,chính phủ các nước NICS Châu Á, sau gần một thập kỷ thực hiện chiến lượcthay thế nhập khẩu, đã nhận ra những mặt hạn chế của nó và ngay đầu thập

kỷ 60 đã có sự chuyển hướng chiến lược Với khoảng thời gian ngắn họ đãđưa đất nước trở thành những con rồng Châu Á Đối với Việt Nam, cácchuyên gia kinh tế đều có nhận xét chung là: Chúng ta đã có bước khởi đầutốt đẹp trong quá trình phát triển mới Nhưng để đạt được tốc độ tăng trưởngcao và liên tục trong thời gian tới còn rất nhiều khó khăn Việt Nam đangtrong quá trình chuyển biến nền kinh tế từ nền kinh tế tự nhiên sang nền kinh

tế thị trường hoạt động theo quy luật khách quan của nó Do vậy mà ViệtNam đang đứng trước những thuận lợi cũng như những thách thức cần đượcgiải quyết

Nhận thức được vấn đề cấp bách của kinh tế - xã hội như vậy nên em

đã mạnh dạn chọn đề bài: “Quan hệ giữa cái chung và cái riêng, và vận dụng vào xây dựng nền kinh tế thị trường ở nước ta”.

Bài tiểu luận này gồm 5 phần:

Phần I: Cái chung và cái riêng theo quan điểm của các nhà duy vật biến

chứng

Phần II: Bước chuyển nền kinh tế giản đơn sang nền kinh tế thị trường.

Phần III: Thị trường và cơ chế thị trường

Phần IV: Những đặc trơng chung của nền kinh tế thị trường và tính định

hướng chủ nghĩa của kinh tế thị trường tại Việt Nam

Phần V: Kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Trang 2

Vì đây là bài tiểu luận đầu tiên của em nên vẫn còn nhiều hạn chế vàthiếu sót Em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy, cô giáo vàcác bạn để bài tiểu luận của em được hoàn thiện hơn.

Trang 3

PHẦN I : CÁI CHUNG VÀ CÁI RIÊNG THEO QUAN ĐIỂM CỦA CÁC NHÀ TRIẾT HỌC DUY VẬT BIỆN CHỨNG.

1 ĐỊNH NGHĨA CÁI CHUNG VÀ CÁI RIÊNG

1.1 Định nghĩa cái riêng.

Cái riêng là một phạm trù triết học để chỉ một sự vật, một hiện tượng,một quá trình riêng lẻ nhất định trong thế giới khách quan Chẳng hạn mộthiện tượng kinh tế, một con người, một giai đoạn xã hội, …

1.2 Định nghĩa cái chung.

Cái chung là một phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, nhữngthuộc tính những mỗi liên hệ, tồn tại không chỉ ở một sự vật mà tồn tại trongnhiều sự vật hiện tượng khác nhau Chẳng hạn, phạm trù triết học Mác – xít

về vật chất vận động, không gian thời gian…

2 MỐI LIÊN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA CÁI CHUNG VÀ CÁI RIÊNG

Phạm trù cái riêng và cái chung đã được bàn đến nhiều trong triết họcphương tây thời trung cổ Phái duy thực đồng nhất Thượng đế với cái chung

(phổ biến ) và nhấn mạnh rằng: Chỉ có cái chung mới tồn tại độc lập, khách

quan, là cội nguồn sản sinh ra cái riêng Đối lập với chủ nghĩa duy thực, cácnhà triết học duy danh như: Đun – xcốt (1265-1308 ), P Abơla( 1079-1142)lại cho rằng chỉ có những sự vật hiện tượng tồn tại riêng biệt với những chất

lượng riêng của chúng mới là có thực, còn các khái niệm chung (cái phổ biến ) là sản phẩm tư duy của con người Mặc dù có một số hạn chế, chủ

nghĩa duy danh có một cái nhìn duy vật về toàn bộ hiện thực

Khắc phục nhược điểm của chủ nghĩa duy danh, tách biệt cái riêng khỏicái chung một cách trìu tượng và tuyệt đối, chủ nghĩa duy vật biện chứng chorằng: Giữa cái riêng và cái chung có mối quan hệ biện chứng với nhau Chúng

là hai mặt đối lập tồn tại trong bản thân một sự vật, hiện tượng bất kỳ và tồntại một cách khách quan

Trang 4

Mối liên hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng:

2.1 Cái riêng chỉ tồn tại trong mồi liên hệ dẫn tới cái chung Không có cáiriêng cô lập tuyệt đối, bất kỳ cái riêng nào cũng đều liên hệ với cái riêng vàliên hệ biện chứng với cái chung

Mặt khác, vừa liên hệ với cái chung sự liên hệ trên mới thoạt nhìn vừamang tính chất song trùng, nhưng thực chất chỉ là một, vì cái chung – xét chocùng là: Sản phẩm được rút ra từ sự khái quát hóa những phẩm chất củanhững cái riêng cùng loại

Chẳng hạn khi khảo sát hiện tượng khủng hoảng kinh tế trong mộtnước nhất định, chúng ta có thể thấy được những đường nét riêng như: Nhữnghoàn cảnh địa lý đặc thù, tình trạng kinh tế của nước đó khi bắt đầu khủnghoảng, các quan hệ xã hội chính trị khác nhau… Đây là những yếu tố riêngbiệt Song đằng sau tất cả những cái riêng đó và những cái chung mang tínhquy luật của hiện tưởng khủng hoảng kinh tế như: tính chu kỳ, hiện tượng thấtnghiệp, các giai đoạn chuyển biến theo hình sóng…

2.2 Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu hiện sựtồn tại Không có cái chung tồn tại độc lập ở đâu đó Cái chung chỉ tồn tạitrong tưng cái riêng

Phép biện chứng của cái chung và cái riêng nói trên chỉ có thể thấy rõtrong vấn đề lợi ích kinh tế

Trong nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta hiện nay, lợi ích kinh tếphải được thể hiện qua từng thành phần kinh tế với những hình thức sở hữukhác nhau, đối lập nhau Vì vậy phải làm thế nào để vừa đảm bảo lợi íchchung của toàn dân, vừa không rơi vào tình trạng triệt tiêu mọi lợi ích chínhđáng của tưng công dân

2.3 Cái chung là cái bộ phận, cái riêng là cái toàn bộ Thật vậy, cái chungchiếm giữ phần bản chất, hình thành nên chiều sâu của sự vật Còn cái riêng

Trang 5

là cái tòan bộ vì nó là một thực thể hoàn chỉnh và sống động Cái riêng tồn tạitrong sự “va chạm” với những cái riêng khác Sự va chạm này vừalàm chocác sự vật xích lại gần nhau bởi cái chung, với tư cách là một bộ phận tồn tạitrong cái chung, vừa làm cho chúng xa nhau bởi cái đơn nhất không lặp lạitrong các sự vật khác.

Như vậy, cái chung và cái đơn nhất cùng tồn tại trong cái riêng, làmphong phú và sâu sắc cho cái riêng

2.4 Cái đơn nhất và cái chung có thể chuyển hóa cho nhau Đây là chuyểnhóa của các mặt đối lập trong một sự vật Sự chuyển hóa này phản ánh quátrình vận động đa dạng của các kết cấu vật chất trong thế giới

Quá trình chuyển hóa cái đơn nhất thành cái chung thể hiện quá trìnhphát triển biện chứng của sự vật Ngược lại sự chuyển hóa cái chung thành cáiđơn nhất chỉ ra sự thoái bộ của một sự vật, hiện tượng trong quá trình tồn tạicủa chúng

3 Một số kết luận có tính chất phương pháp luận.

3.1 Không có cái chung tồn tại cô lập mà nó tồn tại trong cái riêng; nói cáchkhác, thông qua cái riêng mà cái chung biểu hiện sự tồn tại của mình Ý nghĩaphương pháp luận của quan điểm này là trong hoạt động nhận thức và thựctiễn, để phát hiện ra cái chung cần phải thông qua những cái riêng

Mặt khác nói cái chung tồn tại như một bộ phận của cái riêng Thì phải thấyrằng khi áp dụng cái chung vào từng trường hợp riêng thì cần phải cá biệt hóanó

Hiện tượng cá biệt hóa cái chung vào từng trường hợp riêng thườngthấy xuất hiện trong lĩnh vực kinh tế, chẳng hạn, lý thuyết về quản lý kinh tế

(vi mô và vĩ mô) đã được xây dựng từ lâu ở các nước có nền kinh tế thị trường

phát triển Song điều đó không đảm bảo chắc chắn sự thành công, nều như

Trang 6

chúng ta áp dụng nguyên chúng vào thực tiễn kinh tế nước ta mà không có sựđiều chỉnh, cải biến cho phù hợp với những đặc thù ở Việt Nam.

3.2 Từ phép biện chứng giữa cái chung và cái riêng nêu trên, có thể rút ra kếtluận rằng: Khi giải quyết các vấn đề riêng trong thực tế, cần phải đặt nền tảngtrên những nguyên tắc chung Nói cách khác không được lẩn tránh các vấn đềchung khi bắt tay giải quyết các vấn đề riêng Nếu không sẽ rơi vào tình trạng

Trang 7

PHẦN II: BƯỚC CHUYỂN TỪ NỀN KINH TẾ GIẢN ĐƠN

SANG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

2 Điều kiện hình thành kinh tế thị trường

Điều kiện cơ bản để hình thanh KTTT là phải có một nền kinh tế hànghóa phát triển cùng với sự xuất hiện của một số điều kiện sau:

Một là, sự xuất hiện của hàng hóa sức lao động và thị trường sức lao

động Hàng hóa sức lao động là loại hàng hóa đặc biệt, khác hẳn so với hànghóa thông thường bởi ngoài thời gian lao động cần thiết còn có thời gian laođộng thặng dư Khi lực lượng sản xuất phát triển, năng xuất xã hội nâng caothì sức lao động trở thành đối tượng của quan hệ mua bán, kéo theo sự ra đờicủa thị trường sức lao động, và thị trường yếu tố sản xuất

Hai là, phải tích lũy được một số tiền nhất định và số tiền đó phải trở

thành vốn để tiền hành sản xuất kinh doanh nhằm mục đích có lợi nhuận

Ba là, phải có hệ thống tài chính, tín dụng ngân hàng tương đối phát

triển đáp ứng được nhu cầu về vốn cho sản xuất kinh doanh

Bốn là, phải có hệ thống cơ sỏ hạ tầng tương đối phát triển, đảm bảo

cho lưu thông hàng hóa và lưu thông tiền tệ được thuận lợi dễ dàng, tăngphương tiện vật chất nhằm mở rộng quan hệ trao đổi

Trang 8

Năm là, tăng cường vai trò kinh tế nhà nước nhằm tạo ra môi trường và

hành lang pháp lý cho thị trường phát triển lành mạnh, mở rộng hình thứckinh tế, tăng cường sức cạnh tranh, thực hiện chính sách phân phối và đìềutiết trên cơ sở kết hợp nguyên tắc công bằng xã hội và hiệu quả kinh tế, pháthuy ưu thế và hạn chế những mặt tiêu cực của nền KTTT

Trang 9

PHẦN III: THỊ TRƯỜNG VÀ CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG

1 Thị trường

Có nhiều định nghĩa khác nhau về thị trường tuy nhiên có thể hiểu theonghĩa đầy đủ thì nó là lĩnh vực trao đổi hàng hóa thông qua tiền tệ làm môigiới, tại đây người mua và người bán tác động qua lại lẫn nhau để xác địnhgiá cả và số lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường, hình thành các quan hệhàng hóa- tiền tệ, cung – cầu, và giá cả hàng hóa

2 Cơ chế thị trường

Nói tới cơ chế thị trường là nói tới bộ máy tự điều tiết quá trình sảnxuất và lưu thông hàng hóa, điều tiết sự vận động của nền KTTT

Hiện nay còn nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm cơ chế thị trường

Có thể xem xét một vài khái niệm sau:

“ Cơ chế thị trường là tổng thể các nhân tố, quan hệ môi trường, động lực

và quan hệ chi phối sự vận động của thị trường.”

“ Cơ chế thị trường là thiết chế kinh tế chi phối ý chí và hành động chi phối

ý chí và hành động của người sản xuất và người tiêu dùng, người bán và người mua thông qua thị trường và giá cả.”

Sự hoạt động của quy luật giá trị có biểu hiện: Giá cả thị trường lênxuống xoay quanh giá trị của hành hóa, nghĩa là sự hình thành giá cả thịtrườngphải dựa trên cơ sở giá trị trường Ngoài giá trị thị trường, sự hìnhthành giá cả thị trường còn chịu sự tác động của quy luật hàng hóa

Tính quy luật của quan hệ giữa giá cả thị trường với giá trị trong sự tácđộng của quan hệ cung cầu được biểu hiện:

Nếu cung lớn hơn cầu thì giá cả thị trường sẽ nhỏ hơn giá trị thị trườngvsf ngược lại Quan hệ cung cầu hàng hóa trên thị trườnglà biểu hiện của quan

hệ giữa người bán và người mua cũng như quan hệ của người sản xuất và

Trang 10

người tiêu dùng Trên cơ sở giá trị thị trường gía cả thị trường là kết quả của

sự thỏa thuận giữa người mua và người bán Gía cả thị trường điều hòa đượcquan hệ giữa người mua và người bán

Thông qua sự biến động của giá cả thị trường,quy luật giá trị có tácdụng điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa

Điều tiết sản xuất hàng hóa đượ hiểu theo nghĩa là điều tiết tư liệu sảnxuất và sức lao động vào từng ngành kinh tế Điều này tạo ra động lực kinh tếthúc đẩy người sản xuất hàng hóa khai thác những khả năng tiềm tàng, tranhthủ giá cao, mở rộng quan hệ sản xuất và ngược lại

Như vậy, lợi nhuận là động lực thúc đẩy hoạt động của cơ chế thị

trường Theo C.Mác, những nhà kinh doanh dưới CNTB “Ghét cay ghét đắng tình trạng không có lợi nhuận hay lợi nhuận quá ít, chẳng khác gì thế giới tự nhiên chân không.”

2.1 Ưu điểm của cơ chế thị trường:

Một là: KTTT lấy lợi nhuận siêu ngạch làm đông lưc hoạt động Động

lực nay đòi hỏi các doanh nghiệp thường xuyên hạ thấp chi phí lao động chiphí xã hội cần thiết.Điều này phải nâng cao năng suất lao động trên cơ sở ápdụng những thành tựu mới của khoa học kỹ thuật công nghệ

Hai là: Cơ chế thị trường có tính năng động do trong kinh tế thị trường

tồn tại một nguyên tắc ai đưa ra thị trường một loại hàng hóa mới và đưa rasớm nhất sẽ thu được nhiều lợi nhuận nhất

Ba là: Trong nền kinh tế thị trường, hàng hóa rất phong phú và đa

dạng Do vậy, nó có thể đáp ứng mọi nhu cầu người tiêu dùng

2.2 Những khuyết tật mà bản thân cơ chế thị trường không tự giải quyết được.

Trang 11

Căn bệnh nổi bật gắn liền với sự hoạt động của cơ chế thị trường:khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp, lạm phát, phân hóa giàu nghèo và ô nhiễmmôi trường.

Khủng hoảng “thừa” là căn bệnh cố hữu của nền kinh tế thị trường pháttriển Do mức cung hàng hóa vượt quá sức cầu nên dẫn tới tình trạng “dư thừahàng hóa” Xu hướng mở rộng sản xuất vô hạn độ mâu thuẫn với sức mua cóhạn Mâu thuẫn đối kháng giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản

Một khuyết tật khác của cơ chế thị trường là gây ô nhiễm môi trườngsinh thái, tàn phá đất đi, rừng đầu nguồn do chạy theo mục đích lợi nhuận

Tóm lại, cơ chế thị trường có tác dụng điều tiết sản xuất và lưu thônghàng hóa, chi phối sự vận động của KTTT nhưng các chủ thể tham gia thịtrường hoạt động vì lợi ích riêng của mình, cho nên sự vận động của cơ chếthị trường tất yếu dẫn tới những mâu thuẫn và xung đột Cạnh tranh khó tránhkhỏi lừa gạt, phá sản và thất nghiệp… Vì vậy, cần có sự kiểm tra của xã hội,

đó là lý do cần thiết vai trò quản lý của nhà nước Vai trò của nhà nước trongnền kinh tế của nước ta là hướng tới sự ổn định về kinh tế xã hội, sự côngbằng và làm cho nên kinh tế ngày càng tăng trưởng, phát triển với tốc độ cao

Trang 12

PHẦN IV: NHỮNG ĐẶC TRƯNG CHUNG CỦA NỀN KTTT

VÀ TÍNH ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CỦA NỀN

KTTT Ở VIỆT NAM

1 Những đặc trưng chung của nền kinh tế thị trường

Do KTTT là sự phát triển cao của nền kinh tế hàng hóa và mọi yếu tốcủa sản xuất đều được thị trường hóa nên KTTT có những đặc trưng chủ yếusau:

Một là: Tính tự chủ của các chủ thể kinh tế rất cao Các chủ thể kinh tế

tự bù đắp những chi phí và tự chịu trách nhiệm đối với kết quả sản xuất kinhdoanh của mình, được tự do liên kết, tự do liên doanh theo định luật kinh tếhàng hóa không bao dung hành vi bao cấp Nó đối lập với bao cấp và đồngnghĩa với tự chủ năng động

Hai là: Hàng hóa trên thị trường rất phong phú, phản ánh trình độ cao

của năng xuất lao động xã hội, trình độ phân công lao động xã hội, sự pháttriển của sản xuất và thị trường

Ba là: Giá cả được hình thành ngay trên thị trường, vừa chịu sự tác

động của quan hệ cạnh tranh và quan hệ cung cầu hàng hóa và dịch vụ

Bốn là: Cạnh tranh là một tất yếu của KTTT, có nhiều hình thức phong

phú vì mục tiêu lợi nhuận

Năm là: Kinh tế thị trường là hệ thống kinh tế mở.

2 Tính định hướng xã hội chủ nghĩa của kinh tế thị trường ở Việt Nam.

Trang 13

giữa cái chung (KTTT ) với cái đặc thù (định hướng xã hội chủ nghĩa ) Xoayquanh phương pháp luận này, có ý kiến cho rằng KTTT với định hướng xãhội chủ nghĩa như “nước với lửa” làm sao có thể kết hợp được với nhau ?Thực tế KTTT không phải là cái riêng có của chủ nghĩa tư bản, mà là thànhquả chung của văn minh nhân loài tồn tại qua nhiều phương thức sản xuất xã

hội khác nhau Đúng như Đảng ta đã nhận định: “Sản xuất hàng hóa không đối lập với chủ nghĩa xã hội, mà là thành tựu phát triển của nền văn minh nhân loại, tồn tại khách quan, cần thiết cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa

xã hội đã được xây dựng.”(Văn kiện Đại Hội VIII )

Bên cạnh những phạm trù kinh tế và quy luật kinh tế chung, KTTT còn

có những đăc điểm gắn với tính chất và trinh độ phát triển của lực lượng sảnxuất, gắn với bản chất của chế độ xã hội trong đó nó tồn tại qua mỗi giai đoạnlịch sử Đúng là KTTT đã đạt tới đỉnh cao dưới chủ nghĩa tư bản nhưngkhông vì thế mà đồng nhất KTTT là kinh tế TBCN Hơn nữa xét về bản chấtKTTT không chỉ hoàn toàn là tiêu cực như người ta lầm tưởng trước đây nó

mà có những yếu tố tích cực không thể phủ nhận.KTTT tạo ra động lực thúcđẩy sản xuất xã hội phát triển, đẩy nhanh quá trình hóa sản xuất, làm thay đổicung cầu theo hướng có lợi cho sản xuất và cải thiên đời sống Cần ý thứcrằng chỉ có KTTT tư bản chủ nghĩa và KTTT định hướng xã hội chủ nghĩamới khác nhau về mục đích, chế độ sở hữu, tính chất phân phối và tính chấtcủa nhà nước trong quản lý KTTT Nếu giai cấp tư sản có thể lợi dụng đượcKTTT để phát triển chủ nghĩa tư bản, thì không có lý do gì lại cho rằng giaicấp công nhân mà đội tiên phong của nó là Đảng cộng sản không thể vậndụng được KTTT Vì vậy ý kiến coi KTTT và định hướng xã hội chủ nghĩa ‘như nước với lửa’chỉ có giá trị như lời nhắc nhở, phải quan tâm giữ vững địnhhướng xã hội chủ nghĩa khi phát triển KTTT, có không có nghĩa coi chúnghoàn toàn đối lập nhau …

2.2 Định nghĩa về KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt nam.

Trang 14

Từ phương pháp luận nêu trên có thể hiểu được bản chất củaKTTTđịnh hướng xã hội chủ nghĩa là: Kiểu tổ chức kinh tế phản ánh sự kếthợp giữa cái chung là KTTT với cái đặc thù là định hướng xã hội chủ nghĩa,dựa trên nguyên tắc lấy cái đặc thù-định hướng xã hội chủ nghĩa – làm chủđạo.

2.3 Ba khía cạnh chủ yếu về bản chất của KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa

Thứ nhất: Với tư cách là cái chung KTTT đòi hỏi trong quá trình kết

hợp phải tạo lập và vận dụng đồng bộ các yếu tố :a) Cơ sở kinh tế mang tính

đa dạng về sở hữu và thành phần kinh tế có thể có “tự do hóa kinh tế” (tự docạnh tranh, tự do kinh doanh và tự chủ) b) Các phạm trù kinh tế vốn có củaKTTT như hàng hóa , tiền tệ thị trường canh tranh,cung cầu, giá trị thị trường

và lợi nhuận c) các quy luật kinh tế của KTTT ( Quy luật giá trị, quy luật lưuthông tiền tệ, quy luật cạnh tranh và quy luật cung cầu) d) Cơ chế vận hànhnền KTTT –cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước

Thứ hai: Với tư cách là đặc thù – định hướng xã hội chủ nghĩa –trong

quá trình kết hợp đòi hỏi phải tuân theo các mục tiêu,nguyên tắc và nhiệm vụkinh tế cơ bản hướng đến mục tiêu và các đặc trưng của CNXH mà nước tacần xây dựng Định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là một sự lựa chọn tấtyếu một khái niệm khoa học Tuy vậy, vẫn còn một số cách hiểu khác khácnhau thậm chí không phải không có tư tưởng hoài nghi và tính hiện thực củađịnh hướng xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã chọn

Cần ý thức rằng định hướng xã hội chủ nghĩa đã chọn là một tất yếu,vì

sự lựa chọn phù hợp với nội dung thời đại-“ thời đại quá độ từ chủ nghĩa tưbản lên CNXH trên pham vi toàn thế giới”.Đảng ta nhận định: “xã hội chủnghĩa trên thế giới, từ những bài học thành công thất bại cũng như từ khátvọng và sự thức tỉnh của các dân tộc,có điều kiện và khả năng tạo ra bươcphát triển mới Theo quy luât tiến hóa của lịch sử loai người sẽ nhất định tiến

Ngày đăng: 21/12/2013, 00:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w