Do đặc điểm gần gũi với kiến thức trong nhà trường, cùng với mong muốn thể hiện sự ủng hộ đường lối phát triển kinh tế của Đảng và nhà nước, em chọn vấn đề "Mối quan hệ giữa cái riêng và
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
vận dụng vào việc xây dựng nền kinh tế thị trường ở nước ta.
Sinh viên thực hiên
Lớp
Giảng viên hướng dẫn
: : :
ĐỖ QUÍ MINH Anh 2 - khối 1- Quản trị kinh doanh – K50
PGS.TS ĐOÀN VĂN KHÁI
HN- Tháng 11/2011
Trang 2Mục lục Trang
MỞ ĐẦU 3
I TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN VỀ CÁI CHUNG, CÁI RIÊNG: 4
1.1 Các khái niệm : 4
1.2 Mối quan hệ biện chứng giữa cái riêng và cái chung: 5
II CÁI CHUNG VÀ CÁI RIÊNG XÉT TRONG KINH TẾ VIỆT NAM VÀ THẾ GIỚI 7
III NHỮNG GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG DỰA TRÊN CƠ SỞ NGUYÊN LÝ GIỮA CÁI CHUNG VÀ CÁI RIÊNG 8
3.1 Chuyển sang kinh tế thị trường là một tất yếu khách quan: 8
3.1.1 Khái niệm kinh tế thị trường: 8
3.1.2 Chuyển sang kinh tế thị trường là một tất yếu khách quan: 8
3.2 Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta: 9
3.2.1 Nền kinh tế nước ta mang đặc điểm của nền kinh tế thị trường thế giới: 9
3.2.2 Những nét đặc thù của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt nam: 10
3.2.4 Một số giải pháp tiếp tục phát triển kinh tế thị trường Việt Nam dựa trên những đặc điểm riêng của Việt Nam: 11
KẾT LUẬN 13
TÀI LIỆU THAM KHẢO 14
Trang 3MỞ ĐẦU
Trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường đầy khó khăn, phức tạp, nền kinh tế
Việt Nam đòi hỏi sự học tập, tiếp thu kinh nghiệm của nhân loại trên cơ sở chọn lựa cho phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của Việt Nam Trong quá trình học hỏi đó,
triết học Mác- Lênin, đặc biệt là cặp phạm trù triết học cái chung - cái riêng đóng vai
trò vô cùng quan trọng trong mọi hoạt động nhận thức về kinh tế thị trường
Do đặc điểm gần gũi với kiến thức trong nhà trường, cùng với mong muốn thể hiện sự ủng hộ đường lối phát triển kinh tế của Đảng và nhà nước, em chọn vấn đề
"Mối quan hệ giữa cái riêng và cái chung và vận dụng trong quá trình xây dựng kinh tế thị trường ở nước ta" làm đề tài của mình.
Cùng với tiểu luận này, em hi vọng có thể góp một phần nhỏ của mình trong việc làm rõ, củng cố lòng tin của mọi người vào công cuộc đổi mới của nhà nước, và giúp mọi người quen thuộc hơn với một nền kinh tế đã và đang được áp dụng ở Việt Nam- nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Để đạt được mục đích đó, tiểu luận này lần lượt đề cập từ khái niệm cái chung-cái riêng, đặc biệt ở khía cạnh kinh tế, cho tới những đặc điểm và hoàn cảnh của nền kinh tế Việt Nam, từ đó rút ra một số giải pháp phát triển kinh tế thị trường phù hợp
Trang 4I TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN VỀ CÁI CHUNG, CÁI RIÊNG:
I.1 Các khái niệm :
a) Cái riêng: Cái riêng là phạm trù triết học dùng để chỉ một sự vật, một hiện
tượng, một quá trình riêng lẻ nhất định trong thế giới khách quan.
Ví dụ: Một thực vật, động vật nào đấy là cái đơn nhất trong giới tự nhiên Cái riêng trong lịch sử xã hội là một sự kiện riêng lẻ nào đó, như là cuộc cách mạng tháng Tám của Việt nam chẳng hạn Cái riêng còn có thể hiểu là một nhóm sự vật gia nhập vào một nhóm các sự vật rộng hơn, phổ biến hơn Sự tồn tại cá biệt đó của cái riêng cho thấy nó chứa đựng trong bản thân những thuộc tính không lặp lại ở những cấu trúc sự vật khác Tính chất này được diễn đạt bằng khái niệm cái đơn nhất Cái đơn nhất là một phạm trù triết học dùng để chỉ những thuộc tính, những mặt chỉ có ở một sự vật nhất định mà không lặp lại ở những sự vật khác Ví dụ chiều cao, cân nặng, vóc dáng của một người là cái đơn nhất Nó cho biết những đặc điểm của chỉ riêng người đó, không lặp lại ở một người nào khác Cần phân biệt “cái riêng” với cái “đơn nhất” Mặt khác, giữa những cái riêng có thể chuyển hóa qua lại với nhau, chứng tỏ giữa chúng có một số đặc điểm chung nào đó Những đặc điểm chung đó được triết học khái quát thành khái niệm cái chung
b) Cái chung: Cái chung là một phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những
thuộc tính, những yếu tố, những quan hệ, lặp lại phổ biến ở nhiều cái riêng
Cái chung thường chứa đựng ở trong nó tính qui luật, sự lặp lại Ví dụ như qui luật cung- cầu, qui luật giá trị thặng dư là những đặc điểm chung mà mọi nền kinh tế thị trường bắt buộc phải tuân theo
Trang 51.2 Mối quan hệ biện chứng giữa cái riêng và cái chung:
Triết học duy vật biện chứng cho rằng cái chung và cái riêng có mối liên hệ biện chứng mật thiết với nhau, và cả hai đều tồn tại một cách khách quan
Cái chung tồn tại bên trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu hiện sự
tồn tại Không có cái chung tồn tại độc lập bên ngoài cái riêng Ví dụ qui luật bóc lột
giá trị thặng dư của nhà tư bản là một cái chung, không thế thì không phải là nhà tư bản, nhưng qui luật đó được thể hiện ra ngoài dưới những biểu hiện khác nhau của các nhà tư bản (cái riêng)
Cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ với cái chung Nghĩa là không có cái
riêng nào tồn tại tuyệt đối độc lập Thí dụ: Nền kinh tế nào cũng bị chi phối bởi quy luật cung-cầu,quy luật QHSX phù hợp với tính chất và trình độ của LLSX,dó là cái chung Như vậy sự vật hiện tượng nào cũng bao hàm cái chung
Cái chung là bộ phận,nhưng sâu sắc hơn cái riêng, còn cái riêng là toàn bộ nhưng phong phú hơn cái chung Cái riêng phong phú hơn cái chung vì ngoài đặc
điểm chung ,cái riêng còn có cái đơn nhất Cái chung sâu sắc hơn cái riêng vì cái riêng phản ánh những thuộc tính ,những mối liên hệ ổn định,tất nhiên, lặp lại ở nhiều cái riêng cùng loại Do vậy cái chung là cái gắn liền với bản chất,quy định phương hướng tồn tại và phát triển của cái chung
Có thể khái quát một công thức như sau:
Cái riêng = cái chung + cái đơn nhất
Công thức trên có thể là không hoàn toàn đúng một cách tuyệt đối, nhưng trong một chừng mực nào đó thì nó có thể nói được một cách chính xác quan hệ bao trùm giữa cái chung và cái riêng
Trong những hoàn cảnh khác nhau, cái chung có thể chuyển hoá thành cái đơn nhất và ngược lại Ví dụ: trước Đại hội Đảng VI thì kinh tế thị trường, khoán sản
phẩm chỉ là cái đơn nhất, còn cái chung là cơ chế bao cấp; nhưng từ sau Đại hội Đảng
VI thì kinh tế thị trường lại dần trở thành cái chung, còn kinh tế tập trung bao cấp thành cái đơn nhất, chỉ còn tồn tại trong một số ngành như an ninh quốc phòng
Sự phân biệt giữa cái chung và cái đơn nhất nhiều khi chỉ mang tính tương đối
Có những đặc điểm xét ở trong nhóm sự vật này là cái đơn nhất, nhưng nếu xét ở trong nhóm sự vật khác lại là cái chung Ví dụ như cây cối là một đặc điểm chung khi xét tập
Trang 6hợp các cây như bạch đàn, phượng vĩ, bàng… nhưng nếu xét trong phạm vi thực vật thì cây cối chỉ là một đặc điểm đơn nhất chỉ các loại cây, mà ngoài ra thực vật còn có
cỏ, bụi rậm, nấm Xét một ví dụ khác, qui luật cung- cầu là cái chung trong nền kinh
tế thị trường, nhưng trong toàn bộ các hình thức kinh tế trong lịch sử thì nó lại chỉ là cái đơn nhất, đặc trưng cho kinh tế thị trường mà không thể là đặc điểm chung cho mọi hình thức khác như kinh tế tự cung tự cấp chẳng hạn
Trong một số trường hợp ta đồng nhất cái riêng với cái chung, khẳng định cái riêng là cái chung Ví dụ như những câu sau: “hoa hồng là hoa”, “kinh tế thị trường theo định hướng XHCN là kinh tế thị trường” Những trường hợp đó thể hiện mâu thuẫn giữa cái riêng và cái chung Quan hệ bao trùm của cái riêng đối với cái chung đã trở thành quan hệ ngang bằng Tuy nhiên những định nghĩa như trên chỉ nhằm mục đích tách sự vật ra khỏi những phạm vi không thuộc sự vật ấy, chứ không dùng để chỉ toàn bộ những đặc tính của sự vật
Trong quá trình phát triển của sự vật hiện tượng,trong những điều kiện nhất định “cái đơn nhất” có thể biến thành “cái chung” và ngược lại “cái chung” có thể biến thành “cái đơn nhất” , nên trong hoạt động thực tiễn có thể và cần phải tạo điều kiện thuận lợi để “cái đơn nhất” có lợi cho con người trở thành”cái chung” và “cái chung” bất lợi trở thành “cái đơn nhất”
Trên cơ sở nguyên lý về mối liên hệ giữa cái riêng và cái chung, ta đã đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển nền kinh tế thị trường của Việt nam một cách thích hợp, cố gắng theo kịp tốc độ tăng trưởng của các nước phát triển trên thế giới, tăng cường cơ
sở vật chất cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội
Trang 7II CÁI CHUNG VÀ CÁI RIÊNG XÉT TRONG KINH TẾ VIỆT
NAM VÀ THẾ GIỚI
Nền kinh tế nước ta đang hoà nhập với nền kinh tế thị trường thế giới, sự giao lưu về hàng hoá, dịch vụ và đầu tư nước ngoài làm cho sự vận động của nền kinh tế nước ta gần gũi hơn với nền kinh tế thị trường thế giới Tương quan giá cả của các loại hàng hoá trong nước gần gũi hơn với tương quan giá cả hàng hoá quốc tế Thị trường trong nước gắn liền với thị trương thế giới Nói cách khác, kinh tế Việt Nam là một bộ phận của nền kinh tế thế giới
Xu hướng chung phát triển kinh tế của thế giới là sự phát triển kinh tế của mỗi nước không thể tách rời sự phát triển và hoà nhập quốc tế, sự cạnh tranh giữa các quốc gia đã thay đổi, không còn là dân số đông, vũ khí nhiều, quân đội mạnh mà là tiềm lực kinh tế Mục đích của các chính sách, của các quốc gia là tạo được nhiều của cải vật chất trong quốc gia của mình, là tốc độ phát triển kinh tế cao, đời sống nhân dân được cải thiện Tiềm lực kinh tế đã trở thành thước đo chủ yếu, vai trò và sức mạnh của mỗi dân tộc, là công cụ chủ yếu để bảo vệ uy tín và duy trì sức mạnh của các đảng cầm quyền
Như vậy với tư cách là một bộ phận của nền kinh tế thế giới thì việc tiếp thu những đặc trưng cơ bản những nét chung trong tổng thể đó để hoàn thiện nền kinh tế Việt Nam là tất yếu Tuy nhiên ta không được phép chỉ tiếp thu một cách hình thức phải tiếp thu có chọn lọc cho phù hợp với đièu kiện đất nước Phải giữ dược nhưng nét đặc trưng riêng tưc là phải bảo tồn cái đơn nhất của kinh tế Việt Nam từ đó còn phải xây dựng một nền kinh tế thị trường mới về chất, thể hiện sự phát triển, phủ định biện chứng đối với nền kinh tế thị trường TBCN
Trang 8III NHỮNG GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
DỰA TRÊN CƠ SỞ NGUYÊN LÝ GIỮA CÁI CHUNG VÀ CÁI RIÊNG
3.1 Chuyển sang kinh tế thị trường là một tất yếu khách quan:
Ta có thể định nghĩa thị trường là nơi diễn ra hoạt động mua bán hàng hóa, nơi cung gặp cầu
Kinh tế thị trường là một hệ thống tự điều chỉnh nền kinh tế, bảo đảm có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao; dư thừa và phong phú hàng hoá; dịch vụ được mở rộng và coi như hàng hoá thị trường; năng động, luôn luôn đổi
mới mặt hàng, công nghệ và thị trường Đó là một nền kinh tế hoạt động theo cơ chế thị trường, với những đặc trưng cơ bản như: phát triển kinh tế hàng hoá, mở rộng thị trường, tự do kinh doanh, tự do thương mại, tự định giá cả, đa dạng hoá sở hữu, phân phối do quan hệ cung- cầu
Sau chiến tranh, do sự không hài hoà giữa các nền kinh tế và sự chủ quan cứng nhắc không tính tới sự phù hợp của cơ chế quản lý mà chúng ta đã không tạo ra được động lực thúc đẩy nền kinh tế phát Việc quản lý kinh tế của nhà nước lại sử dụng các công
cụ hành chính, mệnh lệnh theo kiểu thời chiến không thích hợp với yêu cầu của thời đại, đặc biệt là kìm hãm sức sáng tạo của người lao động
Trong khi đó, nhờ sử dụng triệt để kinh tế thị trường, CNTB đã đạt được những thành tựu về kinh tế- xã hội, phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất lao động Với tinh thần tích cực sửa đổi, sau khi đã nhận ra những sai lầm, tại đại hội VI của Đảng đã chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần và thực hiện chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá sang cơ chế hạch toán kinh doanh XHCN Đây là một sự thay đổi về nhận thức có ý nghĩa rất quan trọng trong lý luận cũng như thực tế
Trang 9Đảng ta còn chỉ rõ rằng nền kinh tế thị trường có sự phù hợp với thực tế nước
ta, phù hợp với các qui luật kinh tế và với xu thế của thời đại:
Nếu không thay đổi cơ chế kinh tế, vẫn giữ cơ chế kinh tế cũ thì không thể nào có đủ sản phẩm để tiêu dùng chứ chưa muốn nói đến tích luỹ vốn để mở rộng sản xuất
Do đặc trưng của nền kinh tế tập trung là rất cứng nhắc nên nó chỉ có tác dụng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn ngắn Nền kinh tế chỉ huy ở nước ta tồn tại quá dài nên nó không những không còn tác dụng đáng kể trong việc thúc đẩy sản xuất phát triển mà nó còn sinh ra nhiều hiện tượng tiêu cực làm giảm năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất
Xu hướng chung phát triển kinh tế của thế giới là sự phát triển kinh tế của mỗi nước không thể tách rời sự phát triển và hoà nhập quốc tế Mục đích của các chính sách, của các quốc gia là tạo được tốc độ phát triển kinh tế cao, đời sống nhân dân được cải thiện, thất nghiệp thấp Kinh tế đã trở thành thước đo chủ yếu, vai trò và sức mạnh của mỗi dân tộc, là công cụ chủ yếu để bảo vệ uy tín
và duy trì sức mạnh của các đảng cầm quyền
Như vậy việc chuyển sang kinh tế thị trường là điều kiện không thể thiếu để phát triển kinh tế Tuy nhiên ta không được phép chỉ tiếp thu hình thức kinh tế thị trường từ chế
độ TBCN mà từ đó còn phải xây dựng một nền kinh tế thị trường mới về chất, thể hiện
sự phát triển, phù hợp với hoàn cảnh đất nước
3.2 Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta:
3.2.1 Nền kinh tế nước ta mang đặc điểm của nền kinh tế thị
trường thế giới:
Trước hết, nền kinh tế nước ta là nền kinh tế thị trường, nên nó tuân theo mọi quy luật của kinh tế thị trường: quy luật cung- cầu, quy luật giá trị thặng dư, quy luật lưu thông tiền tệ
Kinh tế thị trường nước ta cũng có sự quản lý của nhà nước để khống chế, giảm bớt những khiếm khuyết
Trang 10Nền kinh tế thị trường nước ta hiện nay cũng tuân theo xu hướng chung phát triển kinh tế thế giới là sự phát triển kinh tế của mỗi nước không thể tách rời sự phát triển và hoà nhập quốc tế, tiến tới hoà nhập thành một thị trường chung trên toàn thế giới Tương quan giá cả của các loại hàng hoá trong nước cũng ngày càng gần gũi hơn với tương quan giá cả hàng hoá quốc tế
3.2.2 Những nét đặc thù của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt nam:
Nếu trong CNTB hiện đại, kinh tế thị trường đặt dưới sự quản lý của nhà nước
tư sản độc quyền vì lợi ích của giai cấp tư sản, thì trong nền kinh tế thị trường nằm dưới sự quản lý của nhà nước XHCN nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân, góp phần thực hiện mục tiêu giải phóng con người, và vì con người Để thực hiện mục tiêu đó, phải tìm kiếm nhiều giải pháp, cần giải quyết đồng bộ từ vấn đề sở hữu, quản lý, phân phối; tìm động lực cho sự phát triển trên cơ sở xây dựng vật chất- kỹ thuật cho xã hội mới, là quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, biến nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành một nước có nền kinh tế phát triển Đường lối phát triển đó đã được Đảng ta chỉ rõ: Xây dựng kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN; luôn giữ vững định hướng XHCN trong quả trình đổi mới, kết hợp với
sự kiên định về mục tiêu, nguyên tắc và linh hoạt trong giải pháp
Chúng ta không coi kinh tế thị trường là mục tiêu mà chỉ là một công cụ, giải pháp, phương tiện để phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế phục vụ lợi ích của đa
số nhân dân lao động, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh Tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với xoá đói giảm nghèo, làm cho thị trường mang tính nhân văn hơn
Nền kinh tế thị trường trong xã hội XHCN vẫn mang tính cạnh tranh, sử dụng cạnh tranh làm động lực phát triển nhưng không cạnh tranh bằng mọi giá; tăng trưởng kinh tế đi đôi với công bằng xã hội, khuyến khích làm giàu gắn với xoá đói giảm nghèo và khắc phục sự phân cấp giàu nghèo, gia tăng về mức sống nhưng vẫn giữ gìn được đạo đức, bản sắc văn hoá dân tộc