1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Slide thuyết trình về quan hệ pháp luật đất đại

23 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 2,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quan hệ đất đai ở Việt Nam trước hết là quan hệ giữa người với người trong việc quản lý, khai thác hưởng dụng đất đai, trong đó Nhà nước giữ vị thế người đại diện chủ sở hữu toàn

Trang 1

PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI VÀ MÔI TRƯỜNG

QUAN HỆ PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI

NĂM HỌC: 2022-2023

Trang 3

PHẦN A: TỔNG QUAN VỀ QUAN HỆ PHÁP LUẬT

ĐẤT ĐAI

Trang 4

1 KHÁI NIỆM

Quan hệ đất đai là một

trong mối quan hệ thuộc

lĩnh vực kinh tế Quan hệ

đất đai ở Việt Nam trước

hết là quan hệ giữa người

với người trong việc quản

lý, khai thác hưởng dụng

đất đai, trong đó Nhà

nước giữ vị thế người đại

diện chủ sở hữu toàn dân

về đất đai.

Nhà nước XHCN Việt Nam khẳng định quyền sở hữu đất đai chỉ có một chủ thể duy nhất đó là Nhà nước Nhà nước ta cũng

là người thống nhất quản

lý toàn bộ đất đai Cho nên, chỉ có thể trên cơ sở một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, có hiệu lực cao thì chế độ sở hữu toàn dân và chức năng quản lý thống nhất toàn bộ đất đai mới thực hiện một các hiệu quả.

Từ đó, rút ra khái niệm của quan hệ pháp luật đất đai như sau:

“Quan hệ pháp luật đất đai là những quan

hệ xã hội do các quy phạm pháp luật đất đai điều chỉnh, trong đó các bên tham gia quan

hệ đều có quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp

lý mà quyền và nghĩa

vụ này được Nhà nước đảm bảo thực hiện”.

Trang 5

Quan pháp luật đất đai là quan

hệ giữa người với người (các quan hệ xã hội) Quan hệ này có thể là quan hệ phát sinh giữa các

cơ quan quản lý nhà nước với người sử dụng đất, quan hệ giữa những người sử dụng đất với nhau, quan hệ giữa các cơ quan nhà nước khi thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu và quản lý nhà nước về đất đai.

Trang 6

3 CHỦ THỂ VÀ KHÁCH THỂ

3.1 CHỦ THỂ

3.1.1 Nhà nước:

Tham gia quan hệ pháp luật đất

đai với tư cách là chủ sở hữu

đại diện và thống nhất quản lý

toàn bộ đất đai

Thông qua cơ quan quyền lực nhà nước, các cơ quan hành chính nhà nước và cơ quan chuyên môn, Nhà nước ra các quyết định mang tính chất quyền lực của mình nhằm xác lập, thay đổi, chấm dứt một quan hệ pháp luật đất đai.

Tư cách chủ thể của Nhà nước

là chủ thể thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu và chủ thể quản lý đất đai.

Trang 7

sử dụng đất thông qua các hình thức giao đất, cho thuê đất và công nhận quyền sử dụng đất.

- Do hình thức sử dụng đất của người sử dụng không giống nhau nên cần phân biệt dưới các dạng sau:

+ Chủ thể có giấy tờ hợp pháp về quyền sử dụng đất.

+ Chủ thể có giấy tờ hợp lệ về quyền sử dụng đất.

+ Chủ thể được xem xét công nhận quyền sử dụng đất.

 Chủ thể sử dụng đất là người thực thực đang chiếm hữu đất đai do Nhà nước giao, cho thuê, cho phép nhận quyền sử dụng đất hoặc được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất.

Trang 8

Đất chưa sử dụng là khách thể của chế độ pháp lý đất nông nghiệp và đất phi nông nghiệp.

Trang 9

- “Sở hữu toàn dân” xuất hiện đầu tiên trong Hiến Pháp Liên Xô vào năm 1936 Khái niệm này được phát triển dưới thời Stalin dưới sự tiếp nguồn của tư tưởng Karl Marx về công hữu Tới năm 1959, khái niệm này được du nhập Năm 1980, Hiến Pháp tuyên bố đất đai thuộc sở hữu toàn dân Điều thú vị là, như ông Nguyễn Đình Lộc nguyên bộ trưởng bộ Tư Pháp thuật lại thì khi thông qua bản Hiến Pháp này nhiều đại biểu Quốc Hội vẫn nghĩ rằng :“đất đai thuộc sở hữu toàn dân nghĩa là mỗi người có một mảnh đất, khi giơ tay thông qua bản Hiến pháp năm 1980 họ không hiểu rằng tuyên bố sở hữu toàn dân về đất đai tức là đồng nghĩa với quốc hữu hóa đất đai”.

- Kết luận: Trong nguyên tắc này người dân được nhà nước giao cho quyền chiếm hữu, sử dụng nhưng không có quyền định đoạt Quyền định đoạt thuộc về nhà nước

Trang 10

5 VỊ TRÍ

Quan hệ pháp luật đất đai là những quan hệ xã hội do các quy phạm pháp luật đất đai điều chỉnh Bởi vậy ta có thể hiểu Quan hệ pháp luật đất đai chính là đối tượng điều chỉnh của luật đất đai Khi luật đất đai thực hiện điều chỉnh sẽ phát sinh ra các quyền và nghĩa vụ thuộc các quan chủ thể xã hội trong quan hệ pháp luật đất đai.

Trang 11

6 Ý NGHĨA

Đất đai là bất động sản có giá trị lớn và nhu cầu điều chỉnh rất cao vậy nên hình thành rất nhiều các quan hệ pháp luật Các quan hệ pháp luật đất đai cho thấy bản chất, sự phân hóa phát triển của xã hội và luật

pháp

Trang 12

PHẦN B: NỘI DUNG, QUY ĐỊNH VÀ THỰC TRẠNG

Trang 13

2.1 NỘI DUNG

2.1.1 QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA NHÀ NƯỚC

a) Quyền của Nhà nước

Nhà nước là chủ sở hữu toàn bộ đất đi trong cả nước, là người quyết định tối cao trong công tác quản lý và sử dụng đất Vì vậy, Nhà nước có nhiều quyền đặc trưng của chủ sở hữu, bao gồm:

– Quyền chiếm hữu đất đai: Là quyền giữ và kiểm soát đất đai theo ý chí của Nhà nước

– Quyền sử dụng đất đai: Là quyền khai thác lợi ích vật chất của đất đai, cho phép Nhà nước thu lợi phát sinh từ đất đai

– Quyền định đoạt đất đai: Là quyền quyết định số phận pháp lý của đất đai

– Quyền quản lý đất đai: Là quyền định ra các văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ đất đai phù hợp với cơ chế thị trường

Trang 14

2.1 NỘI DUNG

2.1.1 QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA NHÀ NƯỚC

b) Nghĩa vụ của Nhà nước

Điều 22 Luật Đất đai 2013 xác định 15 nội dung trong quản lý đất đai của Nhà nước và cũng

chính và nghĩa vụ mà Nhà nước cần phải thực hiện Cụ thể Nhà nước phải:

– Nắm chắc toàn bộ quỹ đất quốc gia thông qua các kỹ thuật nghiệp vụ mà cơ quan quản lý đất đai thực hiện là: Khảo sát, đo đạc, đánh giá đất đai, đăng ký sử dụng và cấp

giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,…

– Xác lập, xây dựng quy hoạch, kế hoạch để phân phối một cách hợp lý quỹ đất đai thống nhất

vì lợi ích Nhà nước và lợi ích xã hội

– Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản, quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quản lý việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, quản lý việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, quản lý việc thực hiện quyền

và nghĩa vụ của người sử dụng đất

– Thực hiện việc kiểm tra, giám sát quá trình quản lý và sử dụng đất đai, bảo hộ quyền lợi chính đàng của người sử dụng đất, giải quyết các bất đồng, mâu thuẫn trong quan hệ đất đai

Trang 15

2.1.2 QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG ĐẤT

a) Quyền của người sử dụng đất

– Các quyền chung của người sử dụng đất được quy định tại Điều 105 Luật Đất đai

– Bên cạnh những quyền chung đó, người sử dụng đất còn được quyền lựa chọn các hình thức sử dụng đất mà mình mong muốn như: hình thức được giao đất hoặc thuê đất

– Ngoài ra, khi trở thành chủ sử dụng đất người sử dụng đất còn được quyền giao dịch quyền

sử dụng đất như:

+ Chuyển đổi quyền sử dụng đất

+ Chuyển Nhượng quyền sử dụng đất

+ Cho thuê lại quyền sử dụng đất

+ Tặng cho quyền sử dụng đất

+ Thừa kế quyền sử dụng đất

+ Thế chấp, bảo lãnh quyền sử dụng đất

+ Góp vốn bằng quyền sử dụng đất

Trang 16

2.1.2 QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG ĐẤT

b) Nghĩa vụ của người sử dụng đất

Người sử dụng đất khi sử dụng đất phải đảm bảo thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của một chủ sử dụng đất như:

– Sử dụng đất đúng mục đích, đúng ranh giới thửa đất, đúng quy định về sử dụng độ sâu trong lòng đất và chiều cao trên không, bảo vệ các công trình công cộng trong lòng đất và tuân theo các quy định khác của pháp luật;

– Đăng ký quyền sử dụng đất, làm đầy đủ thủ tục khi chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất, thế chấp, bão lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật;

– Thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật;

– Tuân theo các quy định về bảo vệ môi trường, không làm tổn hại đến lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất có liên quan;

– Tuân theo các quy định của pháp luật về việc tìm thấy vật trong lòng đất;

– Giao lại đất khi Nhà nước có quyết định thu hồi đất hoặc khi hết thời hạn sử dụng đất

Trang 17

2.2 CƠ SỞ PHÁP LÝ

1 Cơ sở pháp lý làm

phát sinh quan hệ pháp

luật đất đai:

- Quyết định giao đất của

cơ quan Nhà nước có thẩm

quyền.

- Quyết định cho thuê đất

của cơ quan Nhà nước có

- Hồ sơ chuyển đổi quyền

sử dụng đất nộp tại UBND cấp xã nơi có đất để chuyển cho văn phòng đăng ký

quyền sử dụng đất.

- Hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất nộp tại văn phòng đăng ký quyền

sử dụng đất, nếu ở nông thôn thì nộp tại UBND cấp

xã nơi có đất để chuyển cho văn phòng đăng ký quyền

sử dụng đất.

3 Cơ sở pháp lý làm chấm dứt quan hệ pháp luật đất đai:

- Quan hệ pháp luật đất đai

sẽ chấm dứt thông qua các quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về thu hồi đất.

- Việc thu hồi đất để chuyển sang sử dụng vào mục đích khác phải đúng theo quy định và kế hoạch đã được cơ quan nhà nước

có thẩm quyền phê duyệt.

Trang 18

2.2 CƠ SỞ PHÁP LÝ

Một số văn bản, quy định pháp luật:

- Luật Đất đai 2013 (hiệu lực 01/7/2014);

- Nghị định 43/2014/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Đất đai 2013;

- Nghị định 44/2014/NĐ-CP về giá đất;

- Nghị định 45/2014/NĐ-CP về thu tiền sử dụng đất;

- Nghị định 46/2014/NĐ-CP về thu tiền thuê đất;

- Nghị định 47/2014/NĐ-CP về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;

- Nghị định 135/2016/NĐ-CP sửa đổi Nghị định quy định về thu tiền SDĐ, thu tiền thuê đất, thuê mặt nước;

- Nghị định 01/2017 sđ, bs một số NĐ hướng dẫn chi tiết thi hành Luật Đất đai (NĐ 43, 44, 47);

- Thông tư 02/2015/TT-BTNMT hướng dẫn Nghị định 43/2014/NĐ-CP và Nghị định 44/2014/NĐ-CP

Trang 19

Thứ nhất, vì như ở trên đề cập thì đất đai thuộc sở hữu của toàn dân chứ không của riêng ai dó

đó nhiều người không có động lực, ý thức để đầu tư và phát triển nó một cách nghiêm túc

Thứ hai, hiện nay, quyền định đoạt đất đai thuộc về quyết định của cơ quan nhà nước, chính quyền địa phương nên việc lạm dụng quyền hạn can thiệp vào các vấn đề như: thu hồi đất, bồi

thường với giá rẻ,… là điều khó tránh khỏi

Thứ ba , là sự bất cập của các quy định pháp luật

Trang 20

2.3 THỰC TRẠNG

b) Quyền sử dụng đất:

- Sau khi ban hành Hiến pháp năm 1980, các rắc rối dần xuất hiện trong chế độ quản lý đất đai

- Sau năm 1986, cụ thể là từ năm 1993, Nhà nước từng bước trao lại các quyền ngày càng rộng rãi hơn cho các cá nhân và tổ chức đang sử dụng những thửa đất của mình

- Tuy không có quyền sở hữu tư nhân tuyệt đối, song chủ nhân của hàng trăm triệu ô thửa đất ở Việt Nam ngày càng được hưởng nhiều quyền tài sản trên đất/hoặc gắn liền với đất, nới rộng dần qua các lần sửa đổi Luật đất đai

- Như vậy, trên thực tế, quan niệm “sở hữu toàn dân” về đất đai, nếu không được cụ thể hóa

bằng những chính sách pháp luật quản lý chặt chẽ, có nguy cơ trở nên trống rỗng

=> Một khi đã trao cho tư nhân và không còn là đất công, Nhà nước muốn thu hồi lại các quyền tài sản tư ấy cũng phải kinh qua nhiều thủ tục rắc rối đôi khi còn dẫn tới nhiều mâu thuẫn

c) Quyền điều tiết của Nhà nước:

- Ở nước ta, Nhà nước có quyền định đoạt cuối cùng đối với đất đai và Nhà nước có quyền buộc các chủ sử dụng đất có nghĩa vụ chấp hành các mệnh lệnh thu hồi đất

Trang 21

PHẦN C: QUAN ĐIỂM CỦA NHÓM

Trang 22

1 Nâng cao bảo hộ quyền tài sản của từng chủ đất

- Nâng khái niệm “ sở hữu toàn dân” thành một quan niệm chính trị Sau đó, bằng các kỹ thuật pháp lý, cụ thể hóa khái niệm chính trị “sở hữu toàn dân” bằng các công cụ thực tế, mạch lạc hơn

- Với xu thế ghi nhận tự chủ ngân sách, tự quản địa phương, đã đến lúc cần thảo luận

và ghi nhận quyền sở hữu công sản một cách tách biệt của chính quyền các địa phương.3.Quản lý đất chung từng cấp chính quyền

- Nên xem một cấp chính quyền là một pháp nhân công tách biệt, các cơ quan có tính giúp việc của một cấp chính quyền không phải là pháp nhân công

- Về nguyên tắc toàn bộ quỹ đất công của chính quyền trung ương hoặc quỹ đất của các chính quyền đô thị hay các tỉnh (tự trị địa phương) phải được giao cho những cơ quan quản lý công sản quản lý tập trung của từng cấp chính quyền

=> Làm được như vậy sẽ hạn chế được nguy cơ khai thác phân tán

Trang 23

Thank you

Ngày đăng: 02/04/2022, 15:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN