1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

An ninh con người và giải pháp đảm bảo an ninh con người tại công ty cổ phần tiến bộ quốc tế

87 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 123,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó: - Cần tiếp tục nghiên cứu làm rõ nội hàm khái niệm “an ninh con người” nóichung và tính đặc thù trong nhận thức an ninh con người ở Việt Nam; - Cần làm rõ hơn nữa mối quan hệ g

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH

*** *** ***

NGÔ VŨ TRÀ MY

AN NINH CON NGƯỜI VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO

AN NINH CON NGƯỜI TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TIẾN BỘ QUỐC TẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG (MNS)

Hà Nội - 2021

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH

*** *** ***

NGÔ VŨ TRÀ MY

AN NINH CON NGƯỜI VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO

AN NINH CON NGƯỜI TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TIẾN BỘ QUỐC TẾ

Chuyên ngành: Quản trị An ninh phi truyền thống

Mã số: 8900201.05QTD

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG (MNS)

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS TRẦN KIM HÀO

Hà Nội - 2021

Trang 3

CAM KẾT

Tôi xin cam kết rằng kết quả nghiên cứu trong luận văn “An ninh con người vàgiải pháp đảm bảo an ninh con người tại công ty Cổ phần Tiến bộ Quốc tế” là kết quảlao động của riêng tôi thu được chủ yếu trong thời gian học tập, nghiên cứu vàchưa được công bố trong bất cứ một chương trình nghiên cứu nào của người khác

Những kết quản nghiên cứu và tài liệu của người khác (trích dẫn, bảng, biểu, công thức, đồ thị cùng những tài liệu khác) được sử dụng trong luận văn này đã

được các tác giả đồng ý và trích dẫn cụ thể

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng bảo vệ luận văn, Khoa Quảntrị và Kinh doanh - Đại học Quốc gia Hà Nội về những cam kết nói trên

Hà Nội, ngày … tháng 4 năm 2021

Tác giả luận văn

Trang 4

Tác giả luận văn

Trang 5

MỤC LỤC

CAM KẾT i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC BẢNG vi

DANH MỤC HÌNH vii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

2 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 3

2.1 Mục đích nghiên cứu 3

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 4

4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 4

4.1 Phạm vi nội dung 4

4.2 Phạm vi không gian, thời gian 4

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5

5.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận: 5

5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 5

5.2.1 Phương pháp thống kê 5

5.2.2 Phương pháp phỏng vấn 5

5.2.4 Phương pháp chuyên gia 5

5.2.5 Phương pháp nghiên cứu hỗ trợ: 6

6 Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 6

7 KẾT CẤU LUẬN VĂN 6

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẢM BẢO AN NINH CON NGƯỜI TẠI DOANH NGHIỆP 7

1.1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 7

1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới 7

1.1.2 Các nghiên cứu trong nước 9

1.2 CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 11

1.2.1 Khái niệm về con người 11

1.2.2 Khái niệm an ninh 12

Trang 6

1.2.3 Khái niệm an ninh con người 17

1.2.4 Khái niệm đảm bảo an ninh con người tại doanh nghiệp 27

1.3 CÔNG TÁC ĐẢM BẢO AN NINH CON NGƯỜI TẠI CÁC DOANH NGHIỆP .28 1.3.1 Mục tiêu đảm bảo an ninh con người tại các doanh nghiệp 28

1.3.2 Vai trò của hoạt động đảm bảo an ninh con người tại các doanh nghiệp 28

1.3.3 Nội dung hoạt động đảm bảo an ninh con người tại các doanh nghiệp 29

1.3.4 Phương thức thực hiện các hoạt động đảm bảo an ninh con người tại các doanh nghiệp 33

1.3.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác đảm bảo an ninh con người tại các doanh nghiệp 38

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 41

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐẢM BẢO AN NINH CON NGƯỜI CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN TIẾN BỘ QUỐC TẾ 42

2.1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN TIẾN BỘ QUỐC TẾ 42

2.1.1 Thông tin công ty 42

2.1.2 Kết quả hoạt động của công ty cổ phần Tiến Bộ quốc tế 42

2.2 THỰC TRẠNG ĐẢM BẢO AN NINH CON NGƯỜI TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TIẾN BỘ QUỐC TẾ 44

2.2.1 Thực trạng nhận thức về tầm quan trong của công tác đảm bảo an ninh con người tại công ty cổ phần Tiến Bộ Quốc Tế 44

2.2.2 Thực trạng thực hiện mục tiêu đảm bảo an ninh con người tại công ty cổ phần Tiến Bộ Quốc Tế 46

2.2.3 Thực trạng thực hiện nội dung đảm bảo an ninh con người tại công ty cổ phần Tiến Bộ Quốc Tế 49

2.2.4 Thực trạng thực hiện phương thức đảm bảo an ninh con người tại công ty cổ phần Tiến Bộ Quốc Tế 52

2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CÔNG TÁC ĐẢM BẢO AN NINH CON NGƯỜI TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TIẾN BỘ QUỐC TẾ 54

2.3.1 Kết quả đạt được 54

2.3.2 Hạn chế 54

2.3.3 Nguyên nhân của hạn chế 55

Trang 7

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 56

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP ĐẢM BÁO AN NINH CON NGƯỜI TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TIẾN BỘ QUỐC TẾ 57

3.1 ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN CÔNG TÁC ĐẢM BẢO AN NINH CON NGƯỜI TẠI DOANH NGHIỆP 57

3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẢM BÁO AN NINH CON NGƯỜI TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TIẾN BỘ QUỐC TẾ 59

3.2.1 Hoàn thiện chính sách pháp luật về đảm bảo an ninh con người 59

3.2.2 Nâng cao nhận thức của CBQL và người lao động tại công ty cổ phần Tiến Bộ Quốc Tế về tầm quan trọng của công tác đảm bảo an ninh con người 61

3.2.3 Nâng cao chất lượng đào tạo CBQL và người lao động tại công ty cổ phần Tiến Bộ Quốc Tế 63

3.2.4 Phối hợp thường xuyên, chặt chẽ giữa các bên liên quan trong tuân thủ luật pháp quốc gia và quốc tế, đặc biệt là Công ước Nhân quyền của Liên hiệp quốc 64

3.3 MỐI QUAN HỆ CỦA CÁC GIẢI PHÁP 67

3.4 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 68

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 69

KẾT LUẬN 70

TÀI LIỆU THAM KHẢO 71

PHỤ LỤC 75

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Đánh giá về tầm quan trọng của công tác đảm bảo an ninh con người tạicông ty cổ phần Tiến Bộ Quốc Tế 44Bảng 2.2 Đánh giá hiệu quả mục tiêu đảm bảo an ninh con người tại công ty cổ phầnTiến Bộ Quốc Tế 46Bảng 2.3 Kết quả khảo sát hiệu quả thực hiện nội dung đảm bảo an ninh con người tạicông ty cổ phần Tiến Bộ Quốc Tế 49Bảng 2.4 Kết quả đánh giá hiệu quả thực hiện phương thức đảm bảo an ninh conngười tại công ty cổ phần Tiến Bộ Quốc Tế 52

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Mô hình phân tích 4 nhóm năng lực nền tảng cho phát triển bền vững quốcgia 16

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Trong điều kiện của thế giới hiện nay, khi toàn cầu hóa với sự tác động củacuộc cách mạng khoa học – công nghệ đã phát triển chưa từng có, kéo theo tất cảcác nước tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế và hội nhập quốc tế trở thành mộttất yếu khách quan buộc tất cả các nước đều không thể bỏ qua hoặc cưỡng lại Hộinhập để phát triển, muốn phát triển phải hội nhập Tuy nhiên, quá trình hội nhậpquốc tế luôn tạo ra nhiều cơ hội và không ít thách thức đối với mọi quốc gia và mọilĩnh vực Hội nhập quốc tế trong một môi trường cạnh tranh quyết liệt về chính trị,kinh tế, sự chi phối của các nước lớn và sự diễn biến phức tạp, hết sức khó lườngcủa thế giới, đòi hỏi khi hội nhập mỗi nước phải biết giữ độc lập, chủ quyền cùngvới an ninh xã hội, an ninh con người của đất nước mình Bên cạnh đó, dưới tácđộng của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, con người đang và sẽ phải đốidiện với những vấn đề vượt khỏi tầm kiểm soát của các cá nhân, liên quan trực tiếpđến an ninh của bản thân và an ninh quốc gia

Như vậy, hội nhập quốc tế vừa là đòi hỏi khách quan của thời cuộc, vừa lànhu cầu tồn tại của mỗi nước Việc bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người trongquá trình hội nhập quốc tế là một trong những vấn đề cơ bản và thiết yếu hiện nayđối với nước ta

Trong giai đoạn hiện nay, an ninh và phát triển Việt Nam đang phải đối mặt vớicác thách thức lớn Bảo vệ quyền con người là một trong những nội dung trọng tâm củađảm bảo an ninh con người ở Việt Nam Để góp phần bảo đảm an ninh xã hội, an ninhcon người, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra nhiều chủ trương, chính sách, giải phápnhằm bảo đảm mọi mặt an ninh con người bằng cách đối phó hiệu quả với những tháchthức an ninh truyền thống và phi truyền thống, nhất là tình trạng biến đổi khí hậu, anninh môi trường Đấu tranh phòng, chống khủng bố và tội phạm xuyên quốc gia Tăngcường công tác đấu tranh phòng chống tội phạm vi phạm pháp luật và bảo vệ môitrường; phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, sự tham gia tích cực củanhân dân

Trang 11

An ninh con người là vấn đề mới ở nước ta, tuy đã có một số đề tài và cácbài viết nghiên cứu được đăng tải Tuy nhiên, lần đầu tiên Đảng ta nêu ra trong Vănkiện Đại hội nên cần sớm tiếp tục nghiên cứu để làm sáng tỏ hơn nữa cơ sở lý luận

và thực tiễn của vấn đề này, tạo cơ sở cho việc triển khai hoạt động kinh tế - xã hội

có hiệu quả Trong đó:

- Cần tiếp tục nghiên cứu làm rõ nội hàm khái niệm “an ninh con người” nóichung và tính đặc thù trong nhận thức an ninh con người ở Việt Nam;

- Cần làm rõ hơn nữa mối quan hệ giữa 7 nhân tố cấu thành nội hàm của kháiniệm an ninh con người;

- Cần nghiên cứu và làm rõ, an ninh kinh tế được hiểu theo nghĩa hẹp, chỉ đềcập đến mức thu nhập cơ bản của con người và vấn đề việc làm như khái niệm màUNDP đề xuất có thể quá hẹp, chưa phù hợp với thực tiễn về việc bảo đảm quyền

và lợi ích của con người trong đầu tư kinh doanh phát triển kinh tế - xã hội

Trong các doanh nghiệp nói chung, quan hệ lao động giữa người sử dụng laođộng và người lao động là một trong những yếu tố giữ vai trò quyết định đến sựphát triển của doanh nghiệp Quan hệ lao động giữa người sử dụng lao động vàngười lao động hài hòa, ổn định sẽ tạo động lực cho người lao động, lực lượng trựctiếp sản xuất ra của cải vật chất, hăng say lao động, tạo ra năng suất, chất lượng hànghóa, dịch vụ ngày càng cao, góp phần thúc đẩy doanh nghiệp phát triển Ngược lại,quan hệ lao động giữa người sử dụng lao động và người lao động không tốt sẽ làm phátsinh mẫu thuẫn, tranh chấp xảy ra, gây tác động xấu đến hoạt động sản xuất, kinhdoanh của doanh nghiệp Tuy nhiên, trong quan hệ lao động, người lao động luôn ở vịthế yếu hơn, các quyền và lợi ích chính đáng của họ dễ bị người sử dụng lao động xâmhại do họ phụ thuộc và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động Do vậy,phù hợp với Công ước quốc tế của Liên hợp quốc (UN) và Tổ chức lao động thế giới(ILO) về quyền con người trong lĩnh vực lao động, pháp luật nước ta quy định chặt chẽcác nội dung bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người lao động trong quan hệ laođộng Điều này được thể hiện qua các bản Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959,Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và Hiến phápnăm 2013 đều ghi nhận các quyền công dân, quyền của người lao động Điều 35 Hiến

Trang 12

pháp năm 2013 quy định: “1 Công dân có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việclàm và nơi làm việc 2 Người làm công ăn lương được đảm bảo các điều kiện làm việccông bằng, an toàn; được hưởng lương, chế độ nghỉ ngơi 3 Nghiêm cấm phân biệt đối

xử, cưỡng bức lao động, sử dụng nhân công dưới độ tuổi lao động tối thiểu” Thể chếhóa các quy định về quyền của người lao động trong Hiến pháp, pháp luật Việt Nam đãchuyển hóa các ghi nhận về quyền của người lao động trong Hiến pháp thành các quyđịnh pháp luật cụ thể nhằm đảm bảo các quyền của người lao động được thực hiện đầy

đủ trên thực tế

Thực tiễn cho thấy, bên cạnh những mặt tích cực của các doanh nghiệp, tìnhtrạng vi phạm pháp luật về lao động vẫn còn xảy ra tại một số doanh nghiệp như:hợp đồng lao động giao kết không đúng loại; không nộp bảo hiểm xã hội hoặc nộpchậm; không đăng ký nội quy lao động; thiếu hệ thống biển báo; chỉ dẫn về an toànlao động cho người lao động; kéo dài thời gian làm thêm, thời gian thử việc; sửdụng lao động nước ngoài chưa có giấy phép lao động; chưa báo cáo định kỳ về tainạn lao động, bảo hộ lao động với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội

An ninh con người là vấn đề đang còn có những nhận thức khác nhau ở mức độnhất định cả cấp độ quốc gia và quốc tế Tuy nhiên, các chủ trương và biện pháp vĩ mô

và vi mô để bảo đảm an ninh con người trong điều kiện hiện nay là rất cấp bách, vấn đềđảm bảo an ninh con người vẫn còn một số hạn chế, như vấn đề an ninh con người chưađược đưa vào chương trình xây dựng pháp luật, trường hợp mất kiểm soát, thieetus anninh vẫn còn xảy ra tại các địa phương; chính phủ chưa chủ động tham gia vào các diễnđàn quốc tế về an ninh con người,… Vấn đề đang đặt ra là, làm sao có thể có sự phốihợp giữa các tổ chức quốc tế với từng quốc gia để thực hiện có hiệu quả

Từ thực tiễn nêu trên, tác giả quyết định lựa chọn đề tài “An ninh con người

và giải pháp đảm bảo an ninh con người tại công ty Cổ phần Tiến bộ Quốc tế” làm

đề tài luận văn của mình

2 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

2.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của Luận án là kế thừa và tiếp tục làm sáng tỏ nhữngvấn đề lý luận về đảm bảo an ninh con người tại doanh nghiệp và Phân tích, tìm

Trang 13

hiểu thực trạng đảm bảo an ninh con người tại công ty Cổ phần Tiến bộ Quốc tế từ

đó đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm đảm bảo an ninh con người tại công ty Cổphần Tiến bộ Quốc tế trong thời gian tới

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn tập trung làm sáng tỏ các nhiệm vụ cơ bản như sau:

Thứ nhất, làm sáng tỏ hơn những vấn đề lý luận cơ bản về đảm bảo an ninhcon người tại doanh nghiệp như: khái niệm đảm bảo an ninh con người tại doanhnghiệp; Cơ sở pháp lý về đảm bảo an ninh con người tại doanh nghiệp; khái niệm,đặc điểm, mục tiêu, vai trò, nội dung và phương pháp thực hiện các biện pháp đảmbảo an ninh con ngườiại doanh nghiệp

Thứ hai, phân tích tình hình thực tiễn của việc thực hiện chính sách đảm bảo

an ninh con người tại công ty cổ phần Tiến bộ Quốc tế thông qua việc phân tích vàđánh giá thực trạng thực hiện chính sách đảm bảo an ninh con người tại công ty cổphần Tiến bộ Quốc tế, chỉ ra những kết quả cũng như những vấn đề còn hạn chế,thiếu sót cần được tiếp tục hoàn thiện

Thứ ba, đề xuất định hướng và giải pháp đảm bảo an ninh con người tại công

ty Cổ phần Tiến bộ Quốc tế trong thời gian tiếp theo

3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Các giải pháp đảm bảo an ninh con người tại công ty Cổ phần Tiến bộ Quốc tế

4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

4.1 Phạm vi nội dung

Trong luận văn này tôi đi vào nghiên cứu những vấn đề sau:

- Các nội dung lý luận liên quan đến công tác đảm bảo an ninh con người,trong đó có các khái niệm, mục tiêu, phương thức cơ bản về đảm bảo an ninh conngười; tình hình an toàn ninh con người trên thế giới và Việt Nam;…

- Thực trạng công tác đảm bảo an ninh con người của công ty cổ phần Tiến

Trang 14

Tác giả tập trung nghiên cứu các họat động đảm bảo an ninh con người tạicông ty Cổ phần Tiến bộ Quốc tế giai đoạn 2016 – 2019 để đánh giá những ưuđiểm, hạn chế của các chính sách về đảm bảo an ninh con người của các lao độnglàm việc tại công ty cổ phần Tiến bộ Quốc tế và thực tiễn áp dụng các chính sách

đó, từ đó rút ra các kiến nghị khả thi nhằm phát huy hơn nữa những ưu điểm, khắcphục tối đa những hạn chế trong việc đảm bảo an ninh con người tại công ty Cổphần Tiến bộ Quốc tế

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

5.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận:

- Nghiên cứu các tài liệu khoa học có liên quan đến đề tài, các văn bản cóliên quan đến công tác đảm bảo an ninh con người, các văn bản hướng dẫn, Nghịđịnh của Chính phủ, Luật Lao động, Luật Doanh nghiệp,…

- Tìm hiểu các tài liệu đảm bảo an ninh con người và các giải pháp đảm bảo

an ninh con người tại doanh nghiệp của các nước phát triển có hình thái kinh tế -xãhội gần giống nước ta

- Nghiên cứu tài liệu bao gồm nghiên cứu lý thuyết liên quan đến vấn đề đảmbảo an ninh con người tại doanh nghiệp, cụ thể như: khái niệm, mục tiêu, nội dung

và các phương thức đảm bảo an ninh con người tại doanh nghiệp; các công trìnhnghiên cứu liên quan đến vấn đề đảm bảo an ninh con người tại doanh nghiệp

5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

5.2.1 Phương pháp thống kê

Phương pháp thống kê, được sử dụng để tổng hợp số liệu trong các giai đoạnđiều tra, khảo sát đối với các đối tượng khảo sát về thực trạng công tác đảm bảo anninh con người tại công ty Cổ phần Tiến bộ Quốc tế

5.2.2 Phương pháp phỏng vấn

Trong nghiên cứu này, tác giả tiến hành phỏng vấn trực tiếp một số cán bộ,nhân viên, người lao động tại công ty cổ phần Tiến bộ Quốc tế về thực trạng đảmbảo an ninh con người tại công ty bằng bảng câu hỏi phỏng vấn được soạn sẵn

(Bảng câu hỏi xem phụ lục)

5.2.4 Phương pháp chuyên gia

Trang 15

Xin ý kiến chuyên gia, các cán bộ có kinh nghiệm thực tế và các biện pháp

đề xuất

5.2.5 Phương pháp nghiên cứu hỗ trợ:

- Thống kê toán học để xử lý và phân tích số liệu điều tra như tính phần trăm,tính trung bình, … lập các bảng biểu

6 Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Những kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm phong phú thêm hệthống lý luận cơ bản trong công tác đảm bảo an ninh con người của người lao độngnói chung và đảm bảo an ninh con người của người lao động làm việc tại công ty

Cổ phần Tiến bộ Quốc tế nói riêng

Luận văn cũng có thể được sử dụng như một tài liệu tham khảo trong côngtác nghiên cứu liên quan đến công tác đảm bảo an ninh con người tại doanh nghiệp.Ngoài ra, Luận văn có thể là tài liệu tham khảo cho bất cứ ai quan tâm đến công tácđảm bảo an ninh con người

7 KẾT CẤU LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn dự kiến

có nội dung chính gồm 3 chương:

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẢM BẢO AN NINH CON NGỪOICHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐẢM BẢO AN NINH CONNGƯỜI CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN TIẾN BỘ QUỐC TẾ

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP ĐẢM BÁO AN NINH CON NGƯỜI TẠI CÔNG

TY CỔ PHẦN TIẾN BỘ QUỐC TẾ

Trang 16

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẢM BẢO AN NINH CON NGƯỜI

TẠI DOANH NGHIỆP

1.1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới

Được chính thức pháp điển hóa trong luật quốc tế kể từ sau Chiến tranh thếgiới thứ hai, quyền con người hiện đã trở thành một hệ thống các tiêu chuẩn phápluật quốc tế có tính chất bắt buộc với mọi quốc gia, và việc tôn trọng, bảo vệ cácquyền con người hiện đã trở thành thước đo căn bản về trình độ văn minh của cácnước và các dân tộc trên thế giới Thúc đẩy, bảo vệ quyền con người, cả trong phápluật và thực tiễn, là nghĩa vụ và cần sự đóng góp của tất cả các quốc gia, dân tộc,giai cấp, tầng lớp và cá nhân, chứ không phải chỉ riêng của một quốc gia, dân tộc,giai cấp hay nhóm người nào

Khái niệm “an ninh con người” lầu đầu tiên được nêu trong Báo cáo Pháttriển Con người của Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc (UNDP) năm 1994.Theo UNDP, khái niệm an ninh từ lâu được các nước hiểu theo nghĩa hẹp là an ninhquốc gia, trong phạm vi các mối đe dọa đối với chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, haycác vấn đề gắn liền với sự sinh tồn của một quốc gia như chiến tranh, chạy đua vũtrang, phổ biến vũ khí giết người hàng loạt UNDP cho rằng trong nhận thức về anninh, các quốc gia đã không lưu tâm tới những mối lo lắng chính đáng về an ninhcủa những người dân bình thường trong cuộc sống thường nhật của họ Chính vìvậy, UNDP đã đề xuất khái niệm an ninh con người, với 7 nhân tố cấu thành gồm:

an ninh kinh tế, an ninh lương thực, an ninh sức khỏe, an ninh môi trường, an ninh

cá nhân, an ninh cộng đồng và an ninh chính trị

Nội hàm khái niệm an ninh con người có hai khía cạnh chính cần được làm

rõ là: (1) Sự an toàn trước các mối đe dọa triền miên như đói nghèo, bệnh tật và ápbức; (2) Con người cần được bảo vệ trước những biến động bất thường và có hạiđối với cuộc sống hàng ngày, bất luận họ ở trong gia đình, nơi công sở hay ở cộngđồng(2)

Trang 17

Nhà kinh tế học Amartya Sen cho rằng phát triển cần được hiểu như là quátrình mở rộng từng bước tự do cá nhân Như vậy, theo cách tiếp cận của Sen, quyềncon người chính là một khía cạnh cốt lõi của sự phát triển, và ngược lại, quyền conngười có thể được coi là một công cụ cho quá trình phát triển Mối quan hệ giữaphát triển và nhân quyền có thể được coi như hai mặt của một đồng xu.

Ngoài ra, Bền vững (World Business Council for Sustainable Development)thì CSR được hiểu là “cam kết của doanh nghiệp đóng góp cho sự phát triển kinh tếđồng thời với việc cải thiện chất lượng cuộc sống của lực lượng lao động, gia đình

họ, cộng đồng và toàn xã hội”

Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), OECD, Tổ chức tài chính quốc tế, và các

tổ chức của doanh nghiệp cũng đã có một số văn kiện đề cập đến các vấn đề liênquan đến trách nhiệm quyền con người của doanh nghiệp

Ngày nay, các tổ chức quốc tế và các quốc gia đã đưa quyền con người vàoquá trình xây dựng, thực hiện các chính sách, pháp luật và chương trình phát triển.Tiếp cận dựa trên quyền cũng được lồng ghép vào các chương trình phát triển TheoBáo cáo Phát triển con người năm 2000 của Liên Hợp Quốc, phát triển và quyềncon người đều nhằm mục đích thúc đẩy tự do và hạnh phúc của cá nhân trên cơ sởtôn trọng phẩm giá và sự bình đẳng cho tất cả mọi người

Khái niệm “an ninh con người” do Chương trình Phát triển của Liên hợpquốc gia đưa ra Năm 1994, Chương trình Phát triển Liên hợp quốc, trong Báo cáohàng năm về sự phát triển của con người đã chỉ ra 7 vấn đề liên quan đến an ninhcon người là: an ninh kinh tế, an ninh lương thực, an ninh sức khỏe, an ninh môitrường, an ninh con người, an ninh cộng đồng và an ninh chính trị

Ngày 10/12/2001, Tổng thư ký Liên hợp quốc Kofi Annan, trong bài diễnvăn tại buổi lễ nhận Giải thưởng Hòa bình Nobel, đã tuyên bố rằng, trong thế kỷmới,, chúng ta bắt đầu lý giải được rằng, hòa bình không những chỉ thuộc về cácquốc gia và nhân dân của họ, mà còn thuộc về mỗi cá nhân trong những quốc gia đó

và xã hội quốc tế Chủ quyền quốc gia không thể lại bị làm “lá chắn” để xâm phạmnhân quyền Điều đó cho thấy, Liên hợp quốc đã coi an ninh con người là điều kiệnquan trọng để thực hiện và bảo đảm an ninh toàn cầu và hòa bình thế giới

Trang 18

Quan điểm cơ bản trong thuyết an ninh con người của phương Tây là:

Thứ nhất, tiêu điểm mà thuyết an ninh con người quan tâm chính là conngười trong hiện thực Nó đặt an ninh và tôn nghiêm của con người lên trên quyềnlực chính phủ và quyền uy quốc gia Nó chuyển hướng mục tiêu hàng đầu mà anninh quan tâm sang mối uy hiếp phi quân sự đối với an ninh xã hội và cá nhân, còncái mà an ninh truyền thống quan tâm là làm thế nào để bảo vệ quốc gia tránh khỏi

sự uy hiếp của bên ngoài Việc đưa ra khái niệm “an ninh con người” là một tháchthức đối với quan niệm an ninh cho đến nay vẫn chiếm chủ đạo – quan điểm lấyquốc gia và chính quyền làm trung tâm

Thứ hai, sự khác biệt quan trọng giữa an ninh con người và an ninh tổng hợp,

an ninh hợp tác là nó nhấn mạnh nhân quyền, chứ không phải là phát triển kinh tế,

ổn định chính trị và vấn đề môi trường trong lĩnh vực an ninh phi truyền thống

Thứ ba, trên cơ sở thuyết an ninh con người nhấn mạnh an ninh của ai, có anninh từ đâu, bảo đảm an ninh như thế nào, chương trình nghị sự an ninh quốc gia và

an ninh toàn cầu sau Chiến tranh Lạnh đã có thay đổi cơ bản

Thứ tư, an ninh con người do năm lĩnh vực an ninh cấu thành: an ninh môitrường, tự nhiên và con người; an ninh kinh tế; an ninh xã hội; an ninh chính trị và

an ninh văn hóa

1.1.2 Các nghiên cứu trong nước

Nhiều công trình nghiên cứu đã khẳng định rằng, quyền con người và việcbảo vệ, thúc đẩy quyền con người không hề xa lạ hay mâu thuẫn với lý tưởng cộngsản, mà ngược lại, là cốt lõi của chủ nghĩa Mác-Lê nin Ở Việt Nam, cuộc cáchmạng do Đảng Cộng sản mà người đứng đầu là Hồ Chí Minh lãnh đạo từ đầu thế kỷ

XX đến nay không có mục đích gì khác hơn là giành và giữ các quyền con ngườicho toàn thể dân tộc và cho mỗi người dân Việt Nam Trong thực tế, quan tâm vàthúc đẩy các quyền con người luôn là ưu tiên của Đảng và Nhà nước Việt Nam,được phản ánh nhất quán và xuyên suốt trong mọi chính sách, luật pháp của Nhànước Việt Nam từ trước đến nay

Đại hội XII của Đảng, sau khi nhận định: “Chưa nhận thức đầy đủ vai trò củaphát triển xã hội hài hòa, chưa có chính sách, giải pháp kịp thời, hiệu quả đối với

Trang 19

vấn đề biến đổi cơ cấu, phân hóa giàu - nghèo, phân tầng xã hội, kiểm soát rủi ro,giải quyết mâu thuẫn xã hội, bảo đảm an toàn xã hội, an ninh cho con người”, đãnhấn mạnh phải “đầu tư nâng cao chất lượng dân số, chỉ số phát triển con người”,đồng thời đưa ra các giải pháp đồng bộ nhằm bảo đảm an ninh con người một cáchvững chắc, đó là: Một là, giải quyết tốt vấn đề lao động, việc làm và thu nhập; Hai

là, bảo đảm an sinh xã hội; Ba là, coi trọng chăm sóc sức khoẻ nhân dân;

Năm 2004, Học viện Quan hệ Quốc tế có đề tài nghiên cứu khoa học "Cácvấn đề an ninh phi truyền thống ở Đông Nam Á: Tác động đối với ASEAN và ViệtNam" do PGS.TS Nguyễn Phương Bình làm chủ nhiệm đề tài Đề tài đề cập đếnnhững cách tiếp cận khác nhau về an ninh phi truyền thống; những thách thức của

an ninh phi truyền thống ở khu vực Đông Nam Á cũng như quan điểm và sự hợp táccủa ASEAN và Việt Nam về an ninh phi truyền thống Nội dung nổi bật được thểhiện trong đề tài là vấn đề an ninh con người với ý nghĩa là một biểu hiện của anninh phi truyền thống Tuy nhiên, vấn đề an ninh con người mà đề tài xem xét cũngmới chỉ dừng lại ở việc thể hiện các quan điểm khác nhau về an ninh con người

Năm 2006, Nhà xuất bản Khoa học xã hội đã phát hành cuốn sách: "Chênhlệch phát triển và an ninh kinh tế ở ASEAN" do PGS.TS Nguyễn Xuân Thắng chủbiên Nội dung cuốn sách đề cập đến cách tiếp cận về an ninh trong xu thế toàn cầuhóa, từ an ninh truyền thống sang an ninh phi truyền thống mà trọng tâm là an ninhcon người dựa trên nền tảng của an ninh kinh tế

Năm 2007, Học viện Quan hệ Quốc tế cũng thông qua đề tài nghiên cứukhoa học cấp Bộ: " Các thách thức an ninh phi truyền thống ở Đông Nam Á và tácđộng đến Việt Nam" với chuyên đề nghiên cứu là "An ninh con người" do TS TạMinh Tuấn thực hiện Chuyên đề đã giới thiệu được tổng quan về an ninh con ngườinhư khái niệm, đặc điểm, các yếu tố cấu thành của an ninh con người cũng như hệthống cơ quan bảo vệ an ninh con người Tuy nhiên, chuyên đề này xem xét vấn đề

an ninh con người dưới góc độ quan hệ quốc tế

Tháng 07 năm 2008, Bộ môn Quan hệ Quốc tế thuộc Đại học Khoa học xãhội và nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh cũng đã tổ chức hội thảo "An ninh conngười ở Đông Nam Á" Hội thảo đã tập trung rất nhiều bài viết của các nhà khoa

Trang 20

học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhưng đều có mối quan tâm chung là an ninhcon người xét ở cả bình diện rộng cũng như hẹp, thế giới cũng như Việt Nam nhưngkhía cạnh luật pháp quốc tế chưa được quan tâm nhiều trong nội dung Hội thảo vàcác bài viết

Năm 2009, Nhà xuất bản Khoa học xã hội đã xuất bản cuốn sách "Quyền conngười - Tiếp cận đa ngành và liên ngành khoa học xã hội" do TS Võ Khánh Vinhlàm chủ biên Cuốn sách cũng bao gồm tập hợp các chuyên đề của các nhà khoa học

xã hội trong đó có TS Tường Duy Kiên với chuyên đề: "Quyền con người và anninh con người" Tác giả chủ yếu xem xét vấn đề quyền con người trong mối quan

hệ với an ninh con người cũng như những điểm giao thoa và những nội dung khácbiệt của hai khái niệm trong cùng một đối tượng tham chiếu là con người

Với tạp chí chuyên ngành luật học, tác giả Chu Mạnh Hùng và tác giả TrịnhXuân An có bài viết: "An ninh con người trong tiến trình hình thành cộng đồngASEAN" đăng trên Tạp chí Luật học số 9 năm 2007 Bài viết này, các tác giả chủyếu phân tích các đặc điểm của an ninh con người và xem xét an ninh con người làmột mục tiêu của tiến trình hình thành và phát triển của Cộng đồng ASEAN trongtương lai

1.2 CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.2.1 Khái niệm về con người

Con người là một thực thể tự nhiên mang đặc tính xã hội có sự thống nhấtbiện chứng giữa hai phương diện tự nhiên và xã hội

Tiền đề vật chất đầu tiên quy định sự hình thành, tồn tại và phát triển của conngười chính là giới tự nhiên Vì vậy, bản tính tự nhiên là một trong những phương diện

cơ bản của con người, loài người Do vậy, việc nghiên cứu, khám phá khoa học về cấutạo tự nhiên và nguồn gốc tự nhiên của con người là cơ sở khoa học quan trọng để conngười hiểu biết về chính bản thân mình, tiến đến làm chủ bản thân mình trong mọihành vi và hoạt động sáng tạo ra lịch sử của nó, tức lịch sử nhân loại

Với tư cách là thực thể xã hội, con người trong hoạt động thực tiễn, thôngqua hoạt động thực tiễn, tác động vào giới tự nhiên, làm cải biến giới tự nhiên theo

Trang 21

nhu cầu sinh tồn và phát triển của nó thì đồng thời con người cũng sáng tạo ra lịch

sử của chính nó, thực hiện sự phát triển của lịch sử đó

1.2.2 Khái niệm an ninh

An ninh trong tiếng anh được hiểu là mức độ an toàn cao nhất cho chủ thể.Trong nhiều nền văn hóa và ngôn ngữ khác thì an ninh và an toàn được dùng chungmột từ an toàn, bình an, ngược lại với nguy

Theo tác giả Bellamy, an ninh là sự tự do tương đối không lo có chiến tranhkết hợp với mong đợi tương đối cao là không bị đánh bại bởi bất kỳ cuộc chiếntranh nào có thể xảy ra

An ninh là trạng thái bình yên của xã hội, của nhà nước, sự ổn định vữngchắc của chế độ chính trị xã hội An ninh quốc gia bao gồm an ninh đối nội, an ninhđối ngoại, an ninh về tất cả các lĩnh vực chính trị kinh tế, quốc phòng, văn hóa, xãhội,… trong đó chủ yếu có an ninh chủ quyền độc lập, an ninh lãnh thổ, … Cáchành vi xâm phạm an ninh quốc gia được quy định là các tội nguy hiểm nhất trongcác tội hình sự và có khung hình phạt cao nhất

“An ninh” (Security) có nghĩa là tình hình trật tự xã hội bình thường, yên ổn.Không có rối loạn, không rối ren Hoặc nếu muốn hiểu theo một cách đơn giản hơn

Đó là khả năng có thể giữ vững sự an toàn trước các mối đe dọa

Cùng với tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại, bên cạnh khái niệm anninh đã hình thành nên khái niệm an ninh truyền thống (ANTT), đó là an ninh quốcgia theo cách tiếp cận lấy quốc gia hay nhà nước làm trung tâm Theo Luciani, anninh quốc gia có thể được định nghĩa là khả năng chống lại sự xâm lược của nướcngoài Còn theo Luật an ninh quốc gia của Việt Nam (2014) thì an ninh quốc gia là

sự ổn định, sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổcủa Tổ quốc, phát triển bền vững của chế độ Xã hội chủ nghĩa

An ninh quốc gia là “sự yên ổn, bền vững về chính trị, kinh tế, văn hóa, xãhội và biên giới, lãnh thổ của một quốc gia” Định nghĩa trên đã bao quát được cáclĩnh vực cấu thành của an ninh quốc gia trên cả phương diện đối nội và đối ngoại.Điều đó cho thấy, quốc gia chỉ có thể tồn tại và phát triển khi an ninh quốc gia được

Trang 22

bảo đảm Tuy nhiên, định nghĩa trên chỉ phù hợp trong bối cảnh quan hệ quốc tếtrong thời kỳ chiến tranh lạnh với khái niệm an ninh truyền thống An ninh truyềnthống lấy Nhà nước làm đơn vị (an ninh quốc gia) và chủ yếu đề cập những quan hệchính trị, tương quan sức mạnh quân sự giữa các quốc gia Các lợi ích đều phải đặtdưới lợi ích quốc gia An ninh truyền thống là để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, chủquyền, thể chế và giá trị của đất nước, trong đó cốt lõi là bảo vệ đất nước trước cácmối đe dọa từ bên ngoài bằng tấn công quân sự Do đó, quốc gia là chủ thể duy nhấtđảm bảo sự sống còn của mình thông qua việc tăng cường quyền lực quốc gia bằngsức mạnh quân sự và khả năng phòng thủ.

An ninh phi truyền thống xem xét các vấn đề vượt ra ngoài các quan hệchính trị và quân sự thông thường giữa các quốc gia Đối với an ninh phi truyềnthống, mối quan tâm không chỉ là quốc gia mà còn là cá nhân và cộng đồng Theoquan niệm này, nền an ninh của một dân tộc không chỉ bị đe dọa bởi các yếu tốchính trị hay quân sự truyền thống mà còn chịu sức ép của các yếu tố kinh tế, xãhội, sắc tộc, tôn giáo hay thiên tai, dịch bệnh Hơn nữa, nền an ninh quốc gia khôngchỉ gói gọn trong khái niệm toàn vẹn lãnh thổ, bảo đảm chủ quyền hay độc lậpchính trị mà đã bao hàm cả vấn đề đảm bảo ổn định hệ thống kinh tế và giữ gìn cácgiá trị căn bản của dân tộc

An ninh phi truyền thống được hiểu là sự an toàn, ổn định và phát triển bềnvững cá nhân, con người, doanh nghiệp, cộng đồng, quốc gia và cả loài người trong bốicảnh cạnh tranh, hội nhập, biến đổi toàn cầu và biến đổi khí hậu

a Trong Tập bài giảng quản trị an ninh phi truyền thống, 2015 Hà Nội của PGS.TS Hoàng Đình Phi: Chủ nhiệm Khoa Quản trị & Kinh doanh - Đại học Quốc gia Hà Nội; Thượng tướng, TS Nguyễn Văn Hưởng: Nguyên Thứ trưởng

Bộ Công an)

Trong nghiên cứu của mình, các tác giả đã chỉ ra những lý luận cơ bản về

khái niệm an ninh phi truyền thống Theo PGS.TS.Hoàng Đình Phi, An ninh phi truyền thống được hiểu là sự phát triển và tồn tại bền vững cá nhân, quốc gia, cộng đồng, doanh nghiệp, con người, và cả loài người trong bối cảnh cạnh tranh, hội nhập, biến đổi toàn cầu và biến đổi khí hậu.

Trang 23

Tác giả nhấn mạnh khi nghiên cứu các vấn đề an ninh phi truyền thống, anninh phi truyền thống được hiểu là các vấn đề an ninh mới xuất hiện và có tác độngtrực tiếp tới sự an toàn, tồn tại, ổn định và phát triển bền vững của cá nhân, conngười, doanh nghiệp, cộng đồng, quốc gia và cả loài người trong bối cảnh hội nhập,cạnh tranh, biến đổi toàn cầu và biến đổi khí hậu.

An ninh phi truyền thống được nghiên cứu và chia thành các cấp độ:

- An ninh phi truyền thống ở cấp độ quốc tế

- An ninh phi truyền thống ở cấp độ nhà nước (quốc gia, địa phương)

- An ninh phi truyền thống ở cấp độ cộng đồng (con người)

- An ninh phi truyền thống ở cấp độ doanh nghiệp (chủ doanh nghiệp vàđông đảo người lao động)

An ninh phi truyền thống được nghiên cứu trong bối cảnh biến đổi toàn cầu(Chính trị - Kinh tế - Văn hóa – Xã hội) và biến đổi khí hậu:

- Các yếu tố tác động từ môi trường bên trong của chủ thể (quốc gia, cộngđồng, doanh nghiệp)

- Các yếu tố tác động từ môi trường sống, tác nghiệp, môi trường ngành côngnghiệp,

- Các yếu tố tác động từ môi trường quốc tế: khu vực, toàn cầu

Xây dựng hay tìm kiếm và lựa chọn khung lý thuyết hay lý luận để phân tích

về an ninh hay an ninh phi truyền thống: từ khái niệm, định nghĩa tới so sánh, thuthập dữ liệu, phân tích, đánh giá, ra quyết định, thay đổi, cải tiến, (Framework forAnalysis or Analytical Framework)

Nghiên cứu xây dựng bộ tiêu chí khảo sát và đánh giá năng lực quản trị Anninh phi truyền thống ở cấp độ quốc gia và ở cấp độ địa phương (tỉnh, huyện)

- Năng lực hoạch định và tổ chức thực hiện các chiến lược An ninh phi truyền thống

- Năng lực hoạch định và tổ chức thực hiện các kế hoạch đảm bảo An ninhphi truyền thống

- Nỗi sợ, rủi ro, mối nguy, nguy hiểm, tổn thất?

Về cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu về quản trị an ninh, tác giả chỉ

ra các cá nhân và tổ chức nghiên cứu có thể có nhiều cách tiếp cận khác nhau từ

Trang 24

chuyên ngành đến liên ngành, từ cao đến thấp, từ bao quát tới cụ thể, sử dụng cácphương pháp nghiên cứu một cách sáng tạo theo các điểm chung và điểm riêng củacác cách tiếp cập và phương pháp nghiên cứu.

Tác giả mô tả An ninh quốc gia bằng công thức:

AN NINH QUỐC GIA = AN NINH TRUYỀN THỐNG + AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG hay AN NINH QUỐC GIA = AN NINH CỨNG + AN NINH MỀM

Phương trình an ninh quốc gia:

ANQG VIỆT NAM = PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG + ỔN ĐỊNH + ĐỘC LẬP + THỐNG NHẤT + CHỦ QUYỀN + TOÀN VẸN LÃNH THỔ

Phương trình an ninh của một chủ thể:

AN NINH CỦA MỘT CHỦ THỂ = ( 1 AN TOÀN + 2 ỔN ĐỊNH + 3 PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG) – (4 CHI PHÍ QT RỦI RO + 5 KHỦNG HOẢNG + 6 CHI PHÍ KHẮC PHỤC)

S = (S + S + S) – (C + C + C)

Nhìn vào phương trình trên ta sẽ thấy sự phát triển bền vững nguồn nhân lực sẽ đảm bảo phát triển bền vững cho doanh nghiệp đó đồng thời sẽ đảm bảo

an ninh cho doanh nghiệp Áp dụng phương trình phát triển bền vững của một chủ

thể vào triển bền vững nguồn nhân lực thông qua công tác đào tạo tại TTKGM:

Trang 25

Hình 1.1 Mô hình phân tích 4 nhóm năng lực nền tảng cho phát triển bền

vững quốc gia

Nguồn: Hoàng Đình Phi, Nguyễn Bách Khoa, 2015

Theo PGS TS Nguyễn Mạnh Hưởng – Viện Khoa học xã hội và nhân văn quân sự, Bộ Quốc phòng thì An ninh phi truyền thống là vấn đề mang tính toàn cầu (Tạp chí Cộng sản, ngày 30/12/2011)

“An ninh phi truyền thống” là một khái niệm mới xuất hiện và được bàn đếnkhá nhiều trong thời gian gần đây Đây là mối quan tâm lớn của các quốc gia dântộc trên thế giới, là một trong những chủ đề quan trọng được nhiều nhà khoa học

PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG QUỐC GIA

NĂNG LỰC QUẢN TRỊ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG QUỐC GIA

NĂNG LỰC QUẢN TRỊ AN NINH TRUYỀN THỐNG (QUỐC GIA)

NĂNG LỰC QUẢN TRỊ AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG (NN, DN)

NĂNG LỰC QUẢN TRỊ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ (NN, DN)

Trang 26

quan tâm nghiên cứu, được bàn luận trên nhiều diễn đàn quốc tế, cũng như trongnhiều nội dung của các quan hệ song phương và đa phương.

Những mối đe dọa an ninh phi truyền thống: thách thức mang tính toàn cầuPhối hợp hành động: giải pháp quan trọng để đối phó với các vấn đề an ninhphi truyền thống

Giữ vững an ninh quốc gia, đối phó với các mối đe dọa an ninh phi truyềnthống là một nội dung quan trọng của nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên” hiện naycủa nước ta

Yêu cầu đối phó với vấn đề an ninh phi truyền thống hiện nay là phải trựctiếp phục vụ cho mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc mà Đạihội XI của Đảng đã xác định: “bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất,toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hộichủ nghĩa, giữ vững hòa bình, ổn định chính trị và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn

xã hội; chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của

các thế lực thù địch đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta.” (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2011) Mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh quy định những vấn đề về bảo đảm

an ninh quốc gia, bao gồm cả việc đối phó với các mối đe dọa an ninh truyền thống

và phi truyền thống

Để đối phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống, cần thực hiện nhiềugiải pháp đồng bộ và toàn diện

1.2.3 Khái niệm an ninh con người

Những ý tưởng về an ninh con người là những quan tâm về sự an toàn chocon người bắt đầu từ những năm 1960 cùng với việc thành lập Ủy ban Chữ thập đỏquốc tế cũng như sự xuất hiện của nhận thức về mối quan hệ giữa an ninh và pháttriển từ những năm 1960, 1970 và 1980 Từ đầu những năm 1960, các nhà kinh tếhọc bắt đầu bàn về an ninh và các mô hình phát triển kinh tế Giữa những năm

1970, các nhà nghiên cứu quan hệ quốc tế đã phác thảo và xây dựng một mô hìnhtrật tự thế giới mới ổn định hơn và nó là khởi nguồn cho sự quan tâm đến an toàncủa cá nhân con người

Trang 27

Ý tưởng liên quan đến an ninh con người thể hiện trong các báo cáo củanhững ủy ban độc lập đa quốc gia gồm những nhà lãnh đạo, giới trí thức và các nhàkhoa học Bắt đầu từ những năm 1970, nhóm “Câu lạc bộ Rome” đã đưa ra hàngloạt các báo cáo về “Những vấn đề của thế giới” dựa trên ý tưởng cho rằng đang tồntại rất nhiều vấn đề phức tạp đe dọa tất cả mọi người ở mọi quốc gia, đó là: nghèođói, vấn đề môi trường, đô thị hóa không kiểm soát được; xu hướng quay lưng lạivới truyền thống của giới trẻ; lạm phát; khủng hoảng kinh tế và tiền tệ, theo đómỗi người trên thế giới này phải đối mặt và chịu nhiều sức ép, nhiều vấn đề ở nhiềumức độ tác động khác nhau Những vấn đề mặt trái và những mối quan tâm kháccần được hiểu trong bối cảnh rộng lớn và đang vận động theo xu thế toàn cầu tácđộng đến mỗi cá nhân con người, đặc biệt là “tốc độ công nghiệp hóa, sự lan rộngdân số, nạn đói lan rộng, sự cạn kiệt của các nguồn tài nguyên thiên nhiên không thểphục hồi và sự xuống cấp của môi trường xung quanh” Những liên kết và tác độngqua lại cho chúng ta thấy rằng, sự tăng trưởng kinh tế toàn cầu có những giới hạncủa nó và vì vậy rất có thể xã hội loài người sẽ phải đối mặt với một trận “Đại hồngthủy” trong tương lai Tuy nhiên, người ta vẫn tin rằng một trạng thái cân bằng toàncầu sẽ được tạo ra để đảm bảo đáp ứng những nhu cầu cơ bản cho mỗi người và mỗi

cá nhân đều có thể có những cơ hội bình đẳng để phát huy khả năng của mình Nhưvậy, những ý tưởng về an ninh con người và cơ hội của mỗi người trong cuộc sống

sẽ có những cách thức chuyển đổi nhất định tạo ra sự phát triển toàn cầu, qua đóđảm bảo được an ninh toàn cầu và tạo ra cơ hội cho các cá nhân trong cuộc sống

Trong những năm 80 của thế kỷ XX, vấn đề an ninh con người càng đượckhẳng định thông qua báo cáo của Ủy ban độc lập về những vấn đề phát triển và Ủyban độc lập về giải trừ quân bị và các vấn đề an ninh Ủy ban về những vấn đề pháttriển do Willy Brant làm chủ tịch xuất bản báo cáo “Bắc - Nam” (North - Southreport) Trong báo cáo này ông viết: “Báo cáo của chúng tôi dựa trên những lợi íchchung và cơ bản nhất; đó là những gì nhân loại cần để tồn tại và không đặt ra nhữngcâu hỏi về chiến tranh và hòa bình mà là về vấn đề cả thế giới sẽ làm gì để vượt quađói nghèo và những khoảng cách trong điều kiện sống giữa người giàu và ngườinghèo” Như vậy, báo cáo đã khẳng định vấn đề cốt lõi là vượt qua những thách

Trang 28

thức toàn cầu nhằm mang lại những kết quả hữu ích và có ý nghĩa cho các quốc gia

và các khu vực, nhưng trước tiên và trên hết là cho nhân loại trên toàn thế giới

Ủy ban về giải trừ quân bị và các vấn đề an ninh do Olof Palme làm chủ tịch

và cũng là tác giả của báo cáo nổi tiếng về “an ninh chung” (common security) cũngquan tâm những ý tưởng khác nhau về hòa bình và an ninh Báo cáo này mặc dù tậptrung vào những vấn đề quân sự và an ninh quốc gia nhưng cũng thừa nhận vấn đề

an ninh của thế giới thứ ba đang bị đe dọa bởi nghèo đói và bất bình đẳng về kinh

tế Báo cáo của Olof Palme còn cho rằng, với “an ninh chung, con người phải đượcsống trong hòa bình và những giá trị chân thực, con người phải đủ ăn, có việc làm

và sống trong một thế giới không có bần hàn và nghèo đói”

Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, trên thế giới xuất hiện nhiều nguy cơ mất

an ninh mới, yêu cầu phải có được những ý tưởng và sáng kiến mới để giải quyếtnhững vấn đề an ninh ngày càng tăng Năm 1991, sáng kiến Stockholm về một nềnquản trị và an ninh toàn cầu đưa ra lời kêu gọi vì “một trách nhiệm chung trongnhững năm 1990” Kêu gọi này có phần trùng với quan điểm của Albert Einsteinnăm 1945 khi ông cho rằng: “Chúng ta ở một mức độ nào đấy, có thể nói con người

là văn minh khi và chỉ khi việc tạo ra và duy trì một điều kiện sống tươm tất chocon người được mọi người và tất cả mọi quốc gia trên thế giới thừa nhận như mộtnghĩa vụ chung” Lời kêu gọi này đề cập đến những thách thức an ninh hơn là sựthù địch về những vấn đề quân sự, chiến tranh, bàn về một “khái niệm an ninh rộnghơn bao gồm cả việc đối mặt với những hiểm họa là hệ quả của sự phát triển, hủyhoại môi trường, tăng trưởng và chuyển dịch dân số, và sự chậm tiến trong các vấn

đề dân chủ” Năm 1994, báo cáo của Ủy ban về quản trị toàn cầu có tên “Lánggiềng toàn cầu của chúng ta” (Our Global Neighborhood) đã nhắc lại sáng kiếnStockholm về an ninh: “Khái niệm an ninh toàn cầu cần phải được mở rộng từ trọngtâm là an ninh quốc gia để bao hàm cả an ninh cho con người (security of people)

và an ninh của cả trái đất”

Đó là ý tưởng ban đầu về an ninh con người, và khái niệm an ninh con ngườithật sự xuất hiện vào đầu những năm 1990 trong Báo cáo phát triển con người năm

1994 của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (United Nations Development

Trang 29

Program - UNDP) mà tác giả là Mahbub ul Haq - nhà kinh tế học và là người đưa rachỉ số phát triển con người của Liên hợp quốc (the human development index -HDI) Nỗ lực phát triển con người đặt trọng tâm của tư tưởng về phát triển vànhững chính sách liên quan là sự bảo vệ cho cá nhân con người chứ không đơnthuần là sự phát triển kinh tế vĩ mô Báo cáo phát triển con người năm 1994 xácđịnh an ninh con người là sự an toàn của con người trước những đe dọa triền miên

và sự bảo vệ con người trước những biến động bất thường tổn hại đến cuộc sốngthường ngày Nội hàm của khái niệm an ninh con người theo Báo cáo phát triển conngười năm 1994 bao gồm 7 thành tố: kinh tế (bảo đảm việc làm và thu nhập), lươngthực (không bị thiếu ăn), sức khỏe (không bị đe dọa bởi dịch bệnh), môi trường(không bị ô nhiễm về không khí, nguồn nước), an toàn cá nhân (không bị đe dọa bắt

bớ, giam cầm), an ninh cộng đồng (duy trì bản sắc văn hóa của dân tộc) và môitrường chính trị (bảo đảm quyền tự do cơ bản của con người về dân sự, chính trị)

An ninh con người có các đặc điểm: 1) Xác định con người là trung tâm, 2) An ninhcon người có tính phổ biến, 3) Có sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các yếu tố cấu thành

và 4) Thể hiện tính chủ động, tích cực của các chủ thể

Tuy nhiên, từ khái niệm chung về an ninh con người lại có cách hiểu cụ thểkhác nhau, dẫn tới những chính sách và hành vi rất khác nhau Ở nhiều nước vànhiều thể chế chính trị coi trọng an ninh con người, đề cao vai trò của quần chúngnhân dân; từ đó coi nhân dân là người chủ thực sự của xã hội; thể chế xã hội vàngay cả bộ máy nhà nước cũng là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Từ đó,các chính sách và an ninh xã hội, công bằng xã hội, bình đẳng xã hội, xóa đói giảmnghèo… được coi trọng và thực hiện đầy trách nhiệm Chính việc bảo đảm được anninh con người sẽ làm cho an ninh quốc gia được bảo đảm, đất nước phát triển bềnvững, hài hòa

Khác với cách hiểu và cách làm như trên, một số nước phương Tây lại đặt cánhân con người vào vị trí tối thượng, coi an ninh con người quan trọng hơn an ninhquốc gia, xóa bỏ thực tế an ninh quốc gia đang là yếu tố cơ bản quyết định hệ thốngquốc tế và là chủ thể của an ninh quốc tế Vì thế, trong nhiều trường hợp, lấy cớ là

vì con người, người ta có thể tiến hành can dự quốc tế vào các quốc gia nào “có vấn

Trang 30

đề” đối với con người Đó chính là lợi dụng quan niệm về an ninh con người để tôđiểm cho quan điểm phi lý “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, coi chủ quyền quốcgia không phải là thiêng liêng, không phải là bất khả xâm phạm.

An ninh con người phản ánh bước phát triển mới trong môi trường an ninhtruyền thống An ninh truyền thống quan tâm đến việc bảo vệ lãnh thổ, lợi ích quốcgia hay những giá trị cốt lõi của Nhà nước Ngày nay, an ninh đồng nghĩa với việcbảo vệ cho người dân tránh được những mối đe dọa của bệnh tật, thất nghiệp, xungđột xã hội cũng như những nguy cơ do biến động của môi trường Vì vậy, an ninhcần phải thay đổi theo hai hướng cơ bản: 1) Từ đảm bảo an ninh lãnh thổ sang chútrọng hơn đến an ninh con người; 2) Từ an ninh bằng vũ trang sang an ninh thôngqua phát triển bền vững Trên phương diện đối nội, con người là mục tiêu và độnglực của quá trình phát triển, trong chính sách đối ngoại con người phải là đối tượngtham chiếu thay vì chỉ tập trung vào các vấn đề chủ quyền lãnh thổ Như vậy, dùtrong chính sách đối nội hay đối ngoại và với bản thân mỗi quốc gia hoặc cộngđồng quốc tế thì vấn đề con người hay an ninh con người luôn đóng vai trò quantrọng như sự tồn tại hòa bình của mỗi quốc gia trong cộng đồng quốc tế

An ninh quốc gia là yếu tố cốt lõi bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển củaquốc gia từ trong lịch sử, hiện tại và tương lai Tuy nhiên, sự xuất hiện của kháiniệm an ninh con người cũng đưa tới nhiều quan điểm khác nhau Z.Z.Biktimirovacho rằng: “an ninh con người được xác định rộng hơn an ninh quốc gia An ninhquốc gia là một trong những hình thức đảm bảo an ninh xã hội (cộng đồng) - mộttrong những phương diện chủ yếu của an ninh con người” Ngược lại, khi nghiêncứu vấn đề an ninh trong bối cảnh phát triển bền vững, A.I.Romanovich lại chorằng: để đảm bảo cho an ninh cá nhân, xã hội và Nhà nước trong mô hình phát triểnbền vững, quan trọng là đảm bảo an ninh cho cả hệ thống rộng lớn hơn, tức là chotoàn bộ cộng đồng thế giới, toàn bộ hệ thống “tự nhiên - xã hội” Việc đảm bảo anninh trong mô hình phát triển bền vững phải tuân thủ nguyên tắc hệ thống Theonguyên tắc này, việc đảm bảo an ninh cho một hệ thống lớn phải được ưu tiên hơnviệc đảm bảo an ninh cho cả hệ thống theo thứ tự: Toàn cầu, khu vực, quốc gia,

Trang 31

cộng đồng, cá nhân Như vậy, theo quan điểm đảm bảo an ninh trong mô hình pháttriển bền vững thì phải coi trọng an ninh quốc gia hơn an ninh con người.

Các học giả ở các nước tư bản phát triển như Mỹ, Canada, Anh, ThụyĐiển, khi nói đến an ninh con người thì luôn nhấn mạnh an ninh của con người cáthể và quan tâm đến quyền lợi của cá nhân Học giả người Mỹ, Robert Johanssencho rằng, trong khi nhấn mạnh an ninh quốc gia nhưng lại không thể bảo đảm điềukiện sinh tồn của nhân dân trong nước thì khái niệm an ninh quốc gia không có ýnghĩa gì Ngược lại, phần lớn các học giả ở các nước đang phát triển lại cho rằng,khi đề cập đến an ninh con người cần đưa nó vào phạm trù an ninh quốc gia và chỉkhi an ninh quốc gia được bảo đảm; chỉ khi quốc gia ổn định, phát triển nhanh vàbền vững thì mới có điều kiện đảm bảo cho mọi cá nhân trong xã hội có được đờisống vật chất, văn hóa tốt Theo chúng tôi, sự xuất hiện và tồn tại của khái niệm anninh con người không phủ nhận đi vai trò của an ninh quốc gia mà ngược lại đó là

sự bổ sung cho an ninh quốc gia, bởi vì an ninh con người là điểm nối giữa an ninhtruyền thống và an ninh phi truyền thống thể hiện thông qua mối quan hệ giữa anninh con người và an ninh quốc gia:

Thứ nhất, khái niệm an ninh con người trong Báo cáo phát triển của Liên

hợp quốc năm 1994 cũng như các quan niệm về an ninh con người đều có đối tượngtham chiếu là con người Nói như vậy cũng không có nghĩa là tuyệt đối hóa conngười cụ thể (cá nhân) hoặc con người trừu tượng (cộng đồng), do đó con ngườiđược đề cập ở đây bao gồm cá nhân, cộng đồng, dân tộc cũng như toàn bộ dân cưhiện diện trên lãnh thổ một quốc gia Con người là đối tượng tham chiếu, chủ thểcủa an ninh con người nhưng không thể phủ nhận vai trò của Nhà nước cũng nhưcác quan niệm truyền thống về an ninh quốc gia Bảo đảm an ninh con người khôngthể thay thế việc bảo vệ biên giới, lãnh thổ quốc gia; bảo vệ cuộc sống và tài sản củanhân dân vẫn thuộc về trách nhiệm của quốc gia Vì vậy, có thể nhìn nhận rằng, anninh quốc gia chính là điều kiện tiên quyết bảo đảm an ninh nói chung cũng như sựsống và nhân phẩm của mỗi người An ninh con người không thể đặt ra ngoài khuônkhổ của chủ quyền quốc gia với tư cách là một thuộc tính chính trị - pháp lý gắnliền với sự tồn tại, phát triển của quốc gia cũng như tư cách chủ thể Luật Quốc tế

Trang 32

của quốc gia Với Việt Nam, mối quan hệ này được thể hiện rất rõ trong quan điểmphát triển mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định, theo đó con người vừa làmục tiêu vừa là chủ thể của quá trình phát triển Như vậy, an ninh con người vừađược nhìn nhận ở phương diện đối nội, nhưng đồng thời cũng được nhìn nhận làmột yếu tố trong chính sách đối ngoại của mỗi quốc gia và đó cũng chính là thuộctính của chủ quyền quốc gia Điều này càng làm rõ hơn mối quan hệ giữa an ninhcon người và an ninh quốc gia khi cho rằng, an ninh quốc gia là điều kiện tiên quyết

để đảm bảo an ninh cho con người và ngược lại an ninh con người là sự bổ sung vàcách nhìn mới về an ninh quốc gia

Thứ hai, khái niệm an ninh con người được xem xét trên bình diện rộng và

như vậy nó hàm chứa một loạt các nguy cơ tiềm tàng đe dọa tới an ninh Theo Báocáo phát triển nhân lực của UNDP, các nguy cơ bao gồm: Thất nghiệp, ma túy, tộiphạm, ô nhiễm môi trường, vi phạm nhân quyền và những lo ngại truyền thống nhưchiến tranh Những nguy cơ đó không chỉ đe dọa tới cuộc sống an lành của conngười mà nó còn đe dọa tới sự ổn định, phát triển của mỗi quốc gia Do đó, kháiniệm an ninh con người không làm mất đi tính chính xác của cách tiếp cận an ninhtruyền thống mà còn bảo đảm được tính bao quát của cách tiếp cận mới đối vớinhững vấn đề an ninh mang tính phi quân sự An ninh con người cho phép xây dựngnhững ưu tiên trong chính sách mang tính đồng bộ và tổng thể Xét ở góc độ cấutrúc an ninh toàn cầu, sự ổn định và trật tự của hệ thống quan hệ quốc tế lấy quốcgia làm trung tâm ngày càng bị đe dọa và chịu tác động tiêu cực từ tình trạng nghèokhổ và suy thoái môi trường, khan hiếm nguồn lực và hạn chế trong quản lý, điềuhành quốc gia Xét ở góc độ cá nhân, bên cạnh các nguy cơ nghèo đói, bệnh tật thì

sự an ninh và cuộc sống của mỗi người dân ngày càng bị đe dọa bởi tình trạng xungđột và bất ổn định bên trong mỗi quốc gia do chênh lệch về trình độ và nguồn lựcphát triển Do đó, an ninh con người đòi hỏi mỗi quốc gia cần phải nỗ lực để tăngcường an ninh, trước hết là cho chính quốc gia trên cơ sở phát triển kinh tế, tăngcường đồng thuận xã hội, ổn định chính trị và có những giải pháp hữu hiệu trongchính sách đối ngoại và hợp tác quốc tế để giảm thiểu tác động của những nguy cơcũng như mặt trái của quá trình toàn cầu hóa

Trang 33

Thứ ba, an ninh con người phản ánh sự tùy thuộc lẫn nhau Một mối đe dọa

đối với an ninh con người ở một nơi trên thế giới có liên quan đến con người ở khắpmọi nơi Nguy cơ đối với an ninh con người hiện nay như đói khát, bệnh tật, ônhiễm môi trường, xung đột sắc tộc và phân hóa xã hội không còn là những vấn đềriêng biệt của mỗi quốc gia Vì vậy, cần phải có sự hợp tác để đối phó với các nguy

cơ nói trên Tính phức tạp của môi trường sống của con người và các nhân tố tácđộng đến an ninh con người có mối quan hệ qua lại và bổ sung cho nhau An ninh conngười đòi hỏi những nhu cầu thiết yếu của con người phải được đáp ứng, nhưng đồngthời an ninh con người cũng khẳng định vai trò của nền hòa bình thế giới mà ở đó có

sự phát triển kinh tế bền vững, các quyền và tự do cơ bản của con người được tôntrọng, công bằng xã hội được bảo đảm Bởi vậy, an ninh con người phản ánh nhu cầucũng như vai trò của hợp tác quốc tế giữa các quốc gia Hợp tác quốc tế là điều tấtyếu gắn liền với sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia, nhưng những nguy cơ đedọa tới an ninh con người lại thúc đẩy hơn nữa cho quá trình hợp tác quốc tế, bởi vìnhững nguy cơ đó đơn phương quốc gia hoặc một nhóm quốc gia không thể giảiquyết Đó cũng là nguyên tắc cơ bản được khẳng định trong Hiến chương Liên hợpquốc cũng như tôn chỉ cho hoạt động của Liên hợp quốc: Tăng cường thúc đẩy hợptác quốc tế giữa các quốc gia nhằm giải quyết các vấn đề toàn cầu

Thứ tư, an ninh con người và xác định rõ những nguy cơ đe dọa tới an ninh

con người tạo ra tính chủ động, tích cực An ninh con người sẽ không được bảo đảmkhi con người không thể phát triển do không có mức sống đàng hoàng và khi xã hộikhông ổn định; khó có thể có được nguồn lực để ngăn chặn dịch bệnh hoặc giảiquyết hậu quả của thiên tai; xem nhẹ yếu tố môi trường đồng thời quốc gia phảigánh chịu hậu quả về kinh tế, xã hội cũng như sức khỏe của người dân Do đó, nỗlực trên tinh thần chủ động của mỗi quốc gia chính là điều kiện để mỗi quốc gia đảmbảo an ninh quốc gia nói chung và an ninh con người tại chính quốc gia nói riêng

Ở Việt Nam, tác giả Hoàng Đình Phi (2015) cho rằng an ninh con người làtrạng thái đảm bảo sự an toàn, ổn định và phát triển bền vững của con người trướccác mối đe dọa trong bối cảnh cạnh tranh, hội nhập, biến đổi toàn cầu và biến đổikhí hậu Trong đó, có 07 yếu tố tác động đến an ninh con người từ theo các mức độ

Trang 34

khác nhau tùy theo hoàn cảnh không gian, thời gian, điều kiện cụ thể của từngngười, từng cộng đồng người nhất định, bao gồm: an ninh kinh tế; an ninh lươngthực; an ninh sức khỏe; an ninh môi trường; an ninh cá nhân; an ninh cộng đồng; anninh chính trị.

Như vậy, cần phân biệt thấu đáo những quan điểm đúng đắn và quan điểmphản diện về an ninh con người Bảo đảm an ninh con người phải là bảo đảm chủquyền quốc gia của cả cộng đồng sinh sống, đó là chủ quyền thiêng liêng nhất, baohàm an ninh con người và phục vụ cao nhất cho an ninh con người

Dưới tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, con người đang

và sẽ phải đối diện với những vấn đề vượt khỏi tầm kiểm soát của các cá nhân, liênquan trực tiếp đến an ninh của bản thân và an ninh quốc gia

Hiện nay, dưới sự tác động của sinh học, y học hiện đại và hành vi tiêu dùnghiện đại (ví dụ thức ăn thừa dinh dưỡng và hóa chất), đã có hiện tượng biến độngtrong tái sản sinh giới tính ở con người (song tính, đồng tính, vô tính, chuyểngiới, ) Thực tế y học hiện đại đã can thiệp vào thiên chức của tạo hóa (thụ thainhân tạo, chuyển đổi giới tính, cấy ghép các bộ phận thân thể, ); từ đó làm biếnđộng quyền về giới tính nói riêng và quyền về thực thể tự nhiên, xã hội nói chung

Thông tin xã hội (các mạng xã hội, blog, web cá nhân, ) hấp dẫn người sửdụng do: Mỗi cá nhân có cơ hội giao lưu với thế giới bên ngoài và bày tỏ chính kiến

- một nhu cầu không có điểm dừng Đây là sự biến đổi có tính cách mạng với khôngchỉ xã hội Việt Nam Chỉ trong vài năm trở lại đây, sự ra đời và lớn mạnh của thôngtin xã hội đã thay đổi cách tiếp cận thông tin của công chúng: Họ không chỉ làngười đón nhận thông tin mà còn là người phát tán thông tin và tham gia phát triểnthông tin Đến thời điểm tháng 01-2015, theo thống kê của “wearesocial.net”, ngườiViệt Nam đang đứng thứ 4 trên thế giới về thời gian sử dụng internet với 5,2giờ/ngày, chỉ sau Philippines đứng đầu là 6 giờ, tiếp đó là Thái lan với 5,5 giờ, vàBrazil là 5,4 giờ/ngày Hiện nay, việc đăng thông tin cá nhân hoặc thông tin củangười khác có thể là người thân, bạn bè hay đồng nghiệp,… diễn ra phổ biến và làmột phần không thể thiếu của thông tin xã hội Hệ quả là hồ sơ của các cá nhân bịchia sẻ công khai và có thể trở thành đề tài đàm tiếu có tính xúc phạm trong đời

Trang 35

sống thường nhật Bất luận hậu quả tâm lý là tốt hay xấu, việc đăng tải thông tin cánhân là hoàn toàn vi phạm quyền riêng tư của họ, đặc biệt đối với trẻ em, học sinh,sinh viên, người khuyết tật hay người yếu thế nói chung

Theo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) năm 2015 và Luật An ninh Thông tin Mạng(tháng 7-2016), nếu bí mật đời tư của công dân bị xâm phạm thì cá nhân có quyềntrình báo cơ quan công an để ngăn chặn hành vi này, đồng thời ngăn chặn việc pháttán những thông tin đó hoặc có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định buộc người viphạm, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải thu hồi, tiêu hủy, chấm dứt việc

sử dụng hình ảnh, bồi thường thiệt hại và áp dụng các biện pháp xử lý khác theoquy định của pháp luật Người thực hiện hành vi quay lén có thể bị xem xét xử lýhình sự về tội “Làm nhục người khác” hoặc “Truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy” nếu

cố tình chia sẻ, phát tán hình ảnh có nội dung nhạy cảm của người bị quay Người viphạm có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến

20 năm tùy theo mức độ vi phạm

Bên cạnh đó, Việt Nam đang thực hiện Đề án phát triển thanh toán khôngdùng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn 2016 - 2020 ban hành kèm theo Quyết định số2545/QĐ-TTg, ngày 30-12-2016, của Thủ tướng Chính phủ Bởi lẽ, internet đã thay đổicách thức mua sắm của người tiêu dùng Tỷ lệ lớn thương mại điện tử đã và sẽ đến từđiện thoại thông minh với hàng triệu người dùng để xem và mua sắm hàng hóa tại nhà,nơi làm việc, trong các nhà hàng, sân bay, nhà ga, phố đi bộ,… vào bất kỳ giờ nào trongngày Nhưng các loại mã độc và phương thức tấn công lừa đảo trực tuyến đang gây táchại không nhỏ cho việc thực hiện quyền thương mại và thanh toán điện tử

Trong số các tội phạm mạng, lừa đảo tài chính là một trong những cách phổbiến nhất để ăn cắp thông tin thẻ thanh toán và các thông tin về các tài khoản ngânhàng trực tuyến Kẻ gian không cần đến phần mềm độc hại, vì chỉ với kỹ năng pháttriển web và lợi dụng tâm lý người dùng vẫn có thể tiến hành lừa đảo Về phíangười dùng, việc tìm thông tin trên các trang web tiết kiệm được thời gian đi lại, dễdàng có thông tin về hàng hóa và chính sách của nhà cung cấp,… Nhưng đây lại là

cơ hội thuận lợi cho giới tội phạm mạng khai thác và tìm mọi cách đánh cắp thôngtin của người dùng Các chuyên gia của Kaspersky Lab đã phân ra 3 dạng đánh cắp

Trang 36

thông tin của người dùng là: ngân hàng, thanh toán điện tử và cửa hàng mua sắmtrực tuyến Giới tội phạm có xu hướng đầu tư rất nhiều nguồn lực vào việc pháttriển phần mềm độc hại như vậy, đồng thời phát triển nhiều kỹ thuật tinh vi đểnhanh chóng lây nhiễm và lẩn tránh các sản phẩm chống/diệt virus Không dừng ở

đó, thời gian gần đây, xuất hiện và ngày càng gia tăng của mã độc trưc tiếp tống tiền(Ransomware) Các nạn nhân phải trả tiền chuộc bằng tiền ảo Bitcoin mới lấy lạiđược dữ liệu

Tóm lại: Ngày nay, an ninh con người hiện hữu trong thực tiễn đời sống củamỗi quốc gia và cũng là khái niệm được sử dụng trong quan hệ quốc tế Sẽ là phiếndiện nếu cho rằng, sự xuất hiện của khái niệm an ninh con người sẽ phủ nhận vai tròcủa an ninh quốc gia bởi sự xem nhẹ yếu tố chủ quyền Mặc dù quá trình toàn cầuhóa diễn ra mạnh mẽ, các quốc gia ngày càng phụ thuộc vào nhau nhiều hơn nhưngmỗi quốc gia vẫn là những chủ thể độc lập của Luật Quốc tế với sự hiện diện củachủ quyền quốc gia Vì vậy, nhìn nhận đúng về an ninh con người, các nguy cơ đedọa cũng như mối quan hệ giữa an ninh con người với an ninh quốc gia sẽ đem tớicái nhìn toàn diện hơn đối với những thách thức cho sự phát triển của mỗi quốc giatrong quá trình toàn cầu hóa, như phát biểu của Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủnghĩa Việt Nam Nguyễn Minh Triết tại Hội nghị cấp cao APEC lần thứ 15 ở Sydney(Australia): “An ninh con người là vấn đề mang tính sống còn, gắn liền với sự ổnđịnh và thịnh vượng của mọi quốc gia và nền kinh tế” An ninh con người sẽ là sự

bổ sung tích cực cho an ninh quốc gia trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyềncũng như không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác Điều này sẽ luônđúng như khẳng định của Hiến chương Liên hợp quốc, các nguyên tắc của luật phápquốc tế cũng như quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam: “Tích cực hợp tác cùngcác nước, các tổ chức khu vực và quốc tế trong việc đối phó với những thách thức

an ninh phi truyền thống, và nhất là tình trạng biến đổi khí hậu; sẵn sàng đối thoạivới các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực có liên quan về vấn đề dân chủ, nhânquyền; chủ động, kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hành động canthiệp vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnhthổ, an ninh quốc gia và ổn định chính trị của Việt Nam”

Trang 37

1.2.4 Khái niệm đảm bảo an ninh con người tại doanh nghiệp

Từ các khái niệm nêu trên, có thể hiểu đảm bảo an ninh con người tại doanhnghiệp là các hoạt động tạo bình đẳng về cơ hội để tất cả các cá nhân trong doanhnghiệp thụ hưởng về lợi ích kinh tế, sức khỏe, môi trường làm việc, môi trường vănhóa,… Như vậy, an ninh con người tại doanh nghiệp được đặt ra trong sự hòaquyện và tương hỗ với những nội dung an ninh khác, an ninh con người tại doanhnghiệp có mối quan hệ với thời đại, xã hội và môi trường tự nhiên

Doanh nghiệp có thể trực tiếp góp phần thúc đẩy thực hiện quyền con ngườinhư quyền về việc làm quyền có mức sống thỏa đáng, quyền về nhà ở, quyền giáodục, quyền chăm sóc sức khoẻ, v.v

Trách nhiệm nhân quyền yêu cầu doanh nghiệp phải tôn trọng tất cả cácquyền con người, trong mọi công đoạn, hoạt động của doanh nghiệp Do đó, doanhnghiệp không được phép chỉ chọn một hay hai vấn đề mà mình quan tâm, muốn làm

từ thiện để thực hiện trách nhiệm xã hội một cách tự nguyện và bỏ qua các nội dungkhác về quyền con người

1.3 CÔNG TÁC ĐẢM BẢO AN NINH CON NGƯỜI TẠI CÁC DOANH NGHIỆP

1.3.1 Mục tiêu đảm bảo an ninh con người tại các doanh nghiệp

- Đáp ứng nghĩa vụ nhân quyền khi theo đuổi mục tiêu chính sách liên quanđến kinh doanh với các nhà nước khác hoặc các doanh nghiệp, ví dụ thông qua hiệpđịnh hoặc hợp đồng đầu tư;

- Thúc đẩy sự tôn trọng nhân quyền của các doanh nghiệp

- Hạn chế gây ra vi phạm quyền con người trong doanh nghiệp, góp phầnnâng cao hiệu quả

- Góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, nâng caođời sống cho cán bộ, công nhân viên của doanh nghiệp

- Phát huy vai trò và trách nhiệm của nghiệp theo tinh thần xã hội hoá; thựchiện chính sách xã hội để giảm nghèo, bảo đảm đời sống của mọi người dân

1.3.2 Vai trò của hoạt động đảm bảo an ninh con người tại các doanh nghiệp

Trang 38

- Tạo sự hợp tác và thông suốt giữa các cơ quan nhà nước về phạm vi chínhsách công liên quan đến doanh nghiệp và nhân quyền;

- Góp phần quan trọng tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế, tạo sự côngbằng, đồng thuận xã hội, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm trật tự an toàn xã hội,

để đảm bảo an ninh con người của địa phương nói riêng và trên cả nước nói chung

- Huy động được sức mạnh của các doanh nghiệp trong phòng ngừa, đấutranh hiệu quả với các loại tội phạm lợi dụng hoạt động kinh tế, văn hóa, tư tưởng,gây mất an ninh trật tự

- Thực thi trách nhiệm tôn trọng quyền con người là một chuẩn mực toàn cầu, đòihỏi mọi loại hình doanh nghiệp phải tuân thủ, bất kể ở địa bàn hoạt động nào

- Các doanh nghiệp phải có những biện pháp nhằm hỗ trợ các cá nhân trongviệc thực hiện các quyền con người, đặc biệt là những người ở trong hoàn cảnh bấtlợi hoặc dễ bị tổn thương

1.3.3 Nội dung hoạt động đảm bảo an ninh con người tại các doanh nghiệp

Do tính đa dạng của đảm bảo an ninh con người trong lĩnh vực lao động nên

ở mỗi nước trên thế giới tùy theo điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi quốcgia mà xác định nội dung bảo đảm bảo an ninh con người của người lao động ởphạm vi và mức độ khác nhau Xét trên bình diện chung, nội dung bảo đảm bảo anninh con người của người lao động trong quan hệ lao động tập trung vào các vấn đềnhư sau:

1.3.3.1.Đảm bảo quyền lao động:

Người lao động có quyền tự do lao động, tự do việc làm, không bị lao độngcưỡng bức Họ có quyền tự do chấp nhận và lựa chọn công việc phù hợp với khảnăng và điều kiện sinh sống của bản thân mà không chịu bất cứ sự ép buộc của tổchức hay cá nhân nào

Trong pháp luật của các quốc gia trên thế giới, quyền lao động được ghi nhậntrong hiến pháp và được cụ thể hóa trong các luật, bộ luật như là một trong nhữngquyền quan trọng của người lao động

Trang 39

Khi tham gia quan hệ lao động, người lao động cần đảm bảo công việc cũngnhư nơi làm việc phù hợp với điều kiện của cá nhân họ như: sức khỏe, trình độchuyên môn, nơi sinh sống

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cần tạo điều kiện cho người lao động lựachọn được các công việc phù hợp với năng lực, trình độ cũng như hoàn cảnh cánhân của họ Để người lao động yên tâm làm việc, thể hiện tài năng và trí tuệ, pháttriển công việc mà mình đã lựa chọn Chính vì vậy, người lao động không chỉ đượcquyền tự do việc làm mà còn được đảm bảo làm việc lâu dài theo đúng công việc,thời hạn đã thỏa thuận

Ở Việt Nam, pháp luật lao động quy định, trong trường hợp doanh nghiệpthay đổi cơ cấu tổ chức hoặc công nghệ sản xuất dẫn đến người lao động bị dôi dư

mà doanh nghiệp đó có chỗ làm việc mới thì chủ doanh nghiệp phải ưu tiên đào tạolại người lao động đó vào những chỗ làm việc mới; nếu không thể giải quyết đượcviệc làm mới, phải cho người lao động thôi việc, doanh nghiệp phải có trách nhiệmtrợ cấp mất việc làm cho họ

1.3.3.2.Đảm bảo tiền lương và thu nhập:

Thu nhập của người lao động trong quan hệ lao động là tổng hợp các khoảntiền hoặc lợi ích do người sử dụng lao động trả theo thỏa thuận giữa hai bên hoặctheo quy định của pháp luật cho một công việc đã hoặc sẽ phải thực hiện Thu nhậpcủa người lao động về cơ cấu có thể bao gồm các khoản: tiền lương cơ bản, phụcấp, tiền thưởng, phúc lợi…

Trên cơ sở các quy định của hiến pháp, đa số các quốc gia cụ thể hóa quyềnnày của người lao động trong các luật, bộ luật khác nhau với các quy định về đảmbảo thu nhập tối thiểu và tiền lương của người lao động

Người lao động có quyền được hưởng mức lương công bằng, hợp lý; đượctrả lương bằng nhau cho những công việc như nhau; được đảm bảo thu nhập tốithiểu; được đảm bảo thu nhập và đời sống

Trong quan hệ lao động, dưới tác động của nhiều yếu tố khác nhau, đặc biệt

là yếu tố cung cầu lao động trong nền kinh tế thị trường, người lao động luôn ởtrong tình trạng yếu thế hơn so với người sử dụng lao động Điều này dẫn đến người

Trang 40

lao động không có nhiều khả năng để có thể thỏa thuận bình đẳng với người sửdụng về vấn đề tiền lương, thu nhập khi thiết lập quan hệ lao động Chính vì vậy,pháp luật nhiều quốc gia đã quy định lương tối thiểu mà theo đó hai bên trong quan

hệ lao động không thể thỏa thuận mức lương thấp hơn

Trong nền kinh tế thị trường, việc cạnh tranh không chỉ xảy ra giữa cácdoanh nghiệp mà còn xảy ra giữa những người lao động trong việc tìm kiếm việclàm Nếu thị trường sức lao động phát triển, nhu cầu sử dụng lao động cao thì tấtyếu sẽ diễn ra sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp trên thị trường nhằm thuhút được lượng lao động nhiều, có khả năng đáp ứng được công việc phức tạp và dovậy người lao động sẽ được trả lương xứng đáng, thu nhập của người lao động sẽcao, cuộc sống của bản thân họ và gia đình họ được bảo đảm Ngược lại khi nguồncung lao động dồi dào, nhu cầu tuyển dụng lao động của doanh nghiệp ít sẽ dẫn đếnmức độ cạnh tranh trong công việc sẽ cao hơn

Ở Việt Nam, để bảo vệ thu nhập và đời sống của người lao động, pháp luậtkhông chỉ quy định tiền lương tối thiểu mà còn quy định việc điều chỉnh tiền lươngtối thiểu theo từng giai đoạn nhằm đảm bảo mức sống tối thiểu của người lao độngphù hợp với điều kiện thực tế

Nhằm đảm bảo thu nhập và đời sống cho người lao động, Bộ luật lao độngquy định người lao động phải được trả lương bằng tiền, đầy đủ, đúng thời hạn, trựctiếp, tại nơi làm việc; trả lương làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm; quy định việcđóng bảo hiểm xã hội, trả trợ cấp thôi việc, mất việc cho người lao động khi chấmdứt quan hệ lao động Tại các Điều 48, 49 Bộ luật Lao động năm 2012 quy địnhmức lương để đóng bảo hiểm xã hội, trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm chongười lao động theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động Trên thực tế có thể xảy ratình huống, người sử dụng lao động và người lao động thỏa thuận, thống nhất kýhợp đồng lao động với mức lương chi trả cho người lao động thấp hơn nhiều so vớimức lương thực tế mà họ nhận được Điều này sẽ gây tác động xấu đến quyền đượchưởng chế độ bảo hiểm xã hội của người lao động khi họ bị ốm đau, thai sản, tainạn lao động hoặc nghỉ hưởng chế độ hưu trí Vì vậy, nhằm bảo đảm quyền hưởngchế độ bảo hiểm xã hội của người lao động được thực hiện đầy đủ, tránh xảy ra tình

Ngày đăng: 27/03/2022, 08:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
16. Trần Việt Hà, 2016. An ninh con người trong bối cảnh toàn cầu hóa. Hà Nội:Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: An ninh con người trong bối cảnh toàn cầu hóa
17. Phạm Minh Hạc, 1996. Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa,hiện đại hóa
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
20. Bùi Huy Khoát, 2009. An ninh con người: Quan niệm Châu Âu- Vấn đề của Đông Nam Á. Hà Nội: Viện nghiên cứu Châu Âu Sách, tạp chí
Tiêu đề: An ninh con người: Quan niệm Châu Âu- Vấn đề củaĐông Nam Á
22. Vũ Dương Ninh, 2009. An ninh con người và sự bất an trong cuộc sống hôm nay. Hà Nội: Tạp chí phát triển khoa học và công nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: An ninh con người và sự bất an trong cuộc sống hômnay
1. Phạm Ngọc Anh (2008), quyền con người ở Việt Nam hiện nay – thực trạng và giải pháp đảm bảo phát triển, Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh Khác
2. Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội(2013), Thông tư số 08/2013/ TT- BLĐTBXH ngày 10/6/2013 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội hướng dẫn nghị định số 46/2013/ NĐ-CP ngày 10/5/2013 của chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật lao động về tranh chấp lao động Khác
4. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, (2013), Mô hình quan hệ lao động ở Việt Nam, NXB Khoa học và Kỹ thuật Khác
5. Bộ Tư pháp, (2005), Việt Nam với vấn đề quyền con người”, BTP Hà Nội Khác
6. Chính phủ(2013), Nghị định số 41/2013/ NĐ-CP ngày 8/5/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành điều 220 của Bộ luật lao động về danh mục đơn vị sử dụng lao động không được đình công và giải quyết yêu cầu của tập thể lao động ở đơn vị sử dụng lao động không được đình công Khác
7. Chỉnh phủ(2013), Nghị định số 43/2013/ NĐ-CP ngày 10/5/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành điều 10 của luật công đoàn về quyền, trách nhiệm của công đoàn trong việc đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động Khác
8. Chính phủ(2013), Nghị định số 44/2013/NĐ-CP ngày 10/05/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật lao động về hợp đồng lao động Khác
9. Chính phủ(2013), Nghị định số 45/2013/ NĐ-CP ngày 10/5/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Bộ luật lao động về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và an toàn lao động, vệ sinh lao động Khác
10. Chính phủ(2013), Nghị định số 46/2013/ NĐ-CP ngày 10/5/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật lao động về tranh chấp lao động Khác
11. Chính phủ(2014), Nghị định số 03/2014/NĐ-CP ngày 16/01/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật lao động về việc làm Khác
12. Chính phủ(2015), Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật lao động Khác
13. Trần Nguyên Cường (2015), Hiến pháp 2013 và việc thực hiện quyền nhân thân của người lao động, Tạp chí Thanh tra số tháng 10.2015 Khác
14. Trần Nguyên Cường (2015), Tổ chức đại diện lao động với việc bảo vệ quyền của người lao động, Tạp chí Lao động và Xã hội, số 517, tháng 12. 2015 Khác
15. Diễn Đàn kinh tế Việt- Pháp (2003), Chính sách xã hội và quá trình toàn cầu hóa, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội Khác
18. Nguyễn Khắc Hải, Bộ tiêu chí đánh giá về nền pháp quyền – cơ sở của việc hoàn thiện cơ chế bảo đảm và bảo vệ quyền con người, Cơ chế bảo đảm và bảo vệ quyền con người, Chủ biên: GS.TS Võ Khánh Vinh, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, NXB Khoa học xã hội 2011 Khác
19. Đào Minh Hồng, Lê Hồng Hiệp(2018), Thuật Ngữ Quan hệ Quốc tế, NXB Chính trị Quốc gia Sự Thật Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w