Thuốc phun mù (hay còn gọi là thuốc khí dung) là dạng bào chế mà trong quá trình sử dụng dược chất được phun thành những hạt nhỏ với kích thước thích hợp, thuốc được nén qua đầu phun bởi một luồng khí đẩy ở áp suất cao để tới nơi tác dụng, như trên da, tóc, niêm mạc mũi họng, phổi,...
Trang 1Thuốc Phun Mù
Trang 3suất cao để tới nơi tác dụng, như trên
da, tóc, niêm mạc mũi họng, phổi,
Trang 4Ưu Điểm
+ Thuốc phun mù có hiệu quả
trị liệu cao, vì không hấp thu
qua đường tiêu hóa.
+ Đặc biệt có thể phân liều
nếu có van chuyên biệt, nên liều lượng chính xác.
+ Có khả năng tạo
tác dụng hiệp đồng
khác ( Nếu chúng tương kỵ nhau khi ở cùng 1 dạng bào chế )
+ Đơn giản, thuận tiện dễ sử dụng ( với các thuốc như amphotericin B, insulin, dinatri cromoglycat )
+ Thuốc phun mù thường ổn định
hơn, không bị ẩm,
nhiễm khuẩn giữa 2 lần sử dụng
Trang 5nhầm vào đường hô hấp có thể gây
nguy hiểm chết người
+ Phải biết sử dụng theo những
hướng dẫn cụ thể.
+Thuốc đóng khí nén
nên dễ gây cháy nổ.
Nhược Điểm
Trang 6Phân Loại
Theo Đường Dùng
- Thuốc dùng ngoài dùng phun xịt trên da, trên tóc,
- Thuốc dùng theo đường miệng chữa bệnh răng miệng, hoặc tác dụng toàn thân: trị suyễn, đau nửa đầu,
- Thuốc dùng theo đường hô hấp để trị bệnh ở mũi, họng, phổi, để gây tê, kháng khuẩn, kháng viêm,
-Các vị trí khác: Thuốc khí dung dùng cho tai; phụ khoa; hậu môn, vệ sinh môi trường,
Trang 7Phân Loại
Theo loại khí đẩy và trạng thái tập hợp của thuốc
+ Theo khí đẩy: Thuốc khí dung dùng khí nén là không khí, là khí trơ, hỗn hợp
Trang 8Phân Loại
Theo Kích Thước hạt
+ Thuốc khí dung thật (Nebulae): hoạt chất phân tán trong
các hạt có kích thước rất mịn từ 0,1 - 5mm.
+ Thuốc khí dung thô (Atomizer/Spray): hạt thuốc có kích thước từ 5 - 100mm
Theo kỹ thuật tạo khí dung
+ Thuốc khí dung tạo bằng máy nén khí: dùng cho bệnh viện, tập thể nhiều người bệnh.
+ Thuốc khí dung dùng khí nén đóng sẵn: thuốc được đóng chai lọ, bình, có gắn van, nén khí trơ hoặc hỗn hợp khí hoá lỏng.
+ Thuốc khí dung dùng piston: đóng chai, bình có gắn van đồng thời với piston, người dùng tự bơm không khí trước khi thuốc được đẩy ra.
Trang 9Thành Phần Của Thuốc Phun Mù
Hoạt chất và tá dược
Được pha chế thường dưới dạng lỏng như dung dịch,
hỗn dịch nhũ tương sau đó có thể dùng ngay hoặc đóng gói hoàn chỉnh.
Bình chứa thuóc và đầu phun
Bình hoàn chỉnh có kết nối giữa bình và van phân liều, đầu phun hoặc đơn giản là một ống, hoặc cốc chứa thuốc, gắn với đầu phun Bình hoàn chỉnh ngoài chức năng chứa thuốc, còn chứa khí nén đủ dùng cho liều thuốc mà nó chứa đựng.
Trang 10Thành Phần Của Thuốc Phun Mù
Khí đẩy
Khí đẩy có chức năng nén thuốc qua đầu phun, tạo ra hệ phân tán của hạt thuốc trong không khí, tới nơi
cần trị liệu.
Không khí được xử lý, nén qua máy nén khí dùng trong khí dung
tập thể, hoặc dụng cụ tạo khí dung kiểu quả bóp, kiểu piston,
Các khí trơ như nitơ, carbonic, nitơ oxid hoặc khí loại
hydrocarbon và dẫn chất halogeno như hydro floro carbon (HFC), cloro floro hydrocarbon (CFC) Các khí trơ thường dùng đóng các bình khí dung dưới áp suất cao dạng khí nén, hoặc khí nén hoá
lỏng.
Trang 11Nguyên tắc hoạt động chung
Nén một luồng khí vào ống có miệng rộng của đầu phun, khí nén này được thổi qua đầu của ống khác có miệng nhỏ (mao quản), nhúng trong thuốc ở thể lỏng Thuốc sẽ thoát qua đầu mao quản và bị khí nén tán thành hạt mịn trong khí một cách liên tục
Kỹ Thuật Bào Chế
Dụng Cụ Tạo Khí Nén Bằng Máy Nén Khí
Trang 12Cấu tạo
+ Hệ thống gồm 1 đầu phun để chứa thuốc, gắn kết
với máy
nén khí đẩy.
+ Khí đẩy thường là không khí sạch, tạo ra áp suất
0,6 - 0,8kf/cm2, với lưu lượng khí khoảng 15 - 20 lít
khí/phút, tương tự lượng khí lưu thông qua phổi
cùng đơn vị thời gian.
Kỹ Thuật Bào Chế
Dụng Cụ Tạo Khí Nén Bằng Máy Nén Khí
Trang 13Kỹ Thuật Bào Chế
Dụng Cụ Tạo Khí Nén Bằng Máy Nén Khí
Máy nén khí
Một máy nén khí trung tâm tạo luồng khí ổn định và chia ra nhiều ngả dùng cho mỗi bệnh nhân.
+ Máy nén khí chạy điện, động cơ có công suất phù hợp, thường dùng máy nén kiểu cánh quạt
và phải có màng
lọc khí, đảm bảo khí sạch khi vào buồng nén.
Trang 14Kỹ Thuật Bào Chế
Lưu Ý
-Cấu tạo của bộ phận chứa thuốc và đầu phun: phần này thường chế tạo bằng thuỷ tinh trung tính, được sử dụng riêng cho mỗi bệnh nhân, sau mỗi lần dùng được vệ sinh và dùng lại nhiều lần.
-Ống mao quản đặt trong đầu phun phải đủ nhỏ (đường kính trong của ống f » 0,5 - 2mm) và không quá cao (khoảng 10cm) để ít tốn năng lượng từ máy nén khí Khi đó dòng khí nén đi qua đầu hở của mao quản tạo ra sự giảm áp mạnh, cuốn thuốc lỏng đi theo và phân tán thành hạt.
Dụng Cụ Tạo Khí Nén Bằng Máy Nén Khí
Trang 15Kỹ Thuật Bào Chế
Thuốc Khí Dung Hoàn Chỉnh
Thuốc khí dung đóng khí nén - còn gọi là dạng khí dung hoàn chỉnh là chế phẩm mà khi sử dụng, khí nén trong bình có khả năng đẩy thuốc khỏi đầu phun, thành hệ phân tán gồm các hạt mịn trong khí.
Dạng khí dung hoàn chỉnh tạo thành từ 3 thành phần chính: thuốc và khí đẩy và bình chứa.
Thuốc đôi khi là thể rắn - bột mịn, song thường ở dạng lỏng (hỗn dịch, dung dịch, nhũ tương - bọt) với các tá dược như dung môi - chất dẫn, các chất phụ
Trang 16khi đẩy thuốc ra khỏi bình, khí nén phải bay hơi nhanh,
để lại thuốc tại nơi trị liệu.
Bình chứa ngoài chức năng thông thường là chứa đựng thuốc, phải đáp ứng thêm vai trò phân phối thuốc bằng 1 van đặc biệt, phải chịu được áp lực, đảm bảo an toàn khi sử dụng và bảo quản.
Trang 17Kỹ Thuật Bào Chế
Thuốc Khí Dung Hoàn Chỉnh
Bình chứa gồm 3 phần chính: vỏ bình, van, đầu phun - nút bấm và nắp bảo vệ
Vỏ hay thân chứa thuốc và khí đẩy có dạng hình trụ như các chai lọ hoặc bình, nhưng phải có cổ phù hợp với van và đầu phun.
Vật liệu vỏ bình chứa
Thuỷ tinh trung tính, nhựa dẻo, kim loại với điều kiện cơ bản là bền hoá học và chịu áp lực
cao.
Trang 18Kỹ Thuật Bào Chế
Thuốc Khí Dung Hoàn Chỉnh
Kim loại Như nhôm, thiếc, chịu áp suất tốt (3 - 7 atm), thường
được đúc toàn bộ, giá khá rẻ Tuy vậy, dễ tương kỵ với alcol ethylic, nước nên cần phải tráng các lớp vecni bảo vệ bề mặt trong của bình, nhất là bình nhôm.
Nhựa dẻo Được dùng chế các bình kiểu quả bóp, kiểu piston, kiểu xếp nếp không dùng riêng cho bình
đóng thuốc áp suất cao do kém chịu áp lực, mà chỉ dùng để bọc vỏ ngoài.
Trang 19Van định liều cấp những liều thuốc chính xác Cấu tạo của van
dựa trên nguyên tắc nén những thể tích thuốc chính xác vào một buồng trống tạo ra bởi một cơ cấu thích hợp.
Trang 205 Đầu nhấn 5a: Trạng thái van đóng: định liều thuốc.
5b: Trạng thái van mở: phun thuốc.
Trang 21Kỹ Thuật Bào Chế
Thuốc chứa trong bình khí dung có thể bào chế
dưới dạng dung dịch, hỗn dịch và nhũ tương như các dạng thuốc khác
Song với sự tham gia của khí đẩy sẽ xuất hiện
những vấn đề mới, như độ tan của hoạt chất trong dung dịch, khả năng phân tán và kết tinh trở lại của chúng trong hỗn dịch chắc chắn có ảnh hưởng bởi áp suất bề mặt do khí nén gây ra
Thuốc Khí Dung Hoàn Chỉnh
Trang 23Kỹ Thuật Bào Chế
Trang 24Thuốc Khí Dung Hoàn Chỉnh
Đầu phun, nút bấm và nắp bảo vệ
Đầu phun là một ống dẫn thuốc gắn liền với van, thường đồng thời là nút bấm để đẩy van
về vị trí mở cho thuốc thoát ra được chế tạo liền một khối Đầu phun thuốc có thể thẳng đứng hay nằm ngang và có hình dạng phù hợp với nơi sử dụng như miệng, mũi, tai.
Nắp bảo vệ có chức năng giữ đầu phun khỏi biến dạng và tránh ô nhiễm, phù hợp với chai,
lọ, bình như nắp chai lọ thông thường.
Trang 25Kỹ Thuật Bào Chế
Khí đẩy
+ Khí đẩy được nén vào bình chứa ở áp suất cao 2 - 7
kgl/cm2, với chức năng ép đẩy thuốc vào van và phun
Khí đẩy được coi như "trái tim"
của bình thuốc khí dung.
Tham gia vào công thức pha chế của thuốc như là dung
môi, chất pha loãng (khí hoá lỏng), hoặc tham gia vào
hệ nhũ tương - bọt.
Trang 26Kỹ Thuật Bào Chế
Thuốc Khí Dung Hoàn Chỉnh
Yêu cầu chất lượng của khí đẩy
Có 2 đặc tính quan trọng của một khí đẩy được chọn dùng: đặc tính giãn nở tốt và an toàn trong sản xuất và sử dụng.
Đặc tính giãn nở tốt
Trong điều kiện áp suất hoạt động của bình, giúp đẩy thuốc ra khỏi bình và phân tán thuốc
thành hạt mịn
Đặc tính an toàn của khí đẩy
An toàn hoá lý hay tính trơ, không ảnh hưởng tới thuốc và vật liệu của bình, không gây cháy nổ
An toàn sinh học: không độc cho người sử dụng.
An toàn môi trường: không làm hại môi sinh, môi trường.
Trang 28Kỹ Thuật Bào Chế
Thuốc Khí Dung Hoàn Chỉnh
Nhóm halocarbon gồm 7 chất thông dụng Dichloro difluoro methan : CCl2F2 (Propellant 12, Freon 12)
Dichloro tetrafluoro ethan : C2Cl2F4 (Propellant 114, Freon 114)
Trichloro monfluoro methan : CCl3F (Propellant 11, Freon 11)
Chlorodifluoro ethan : C2H3ClF2 (Propellant 142b) Hepta fluoro propan : C3HF7 (Propellant 227) Difluoro ethan : C2H4F2 (Propellant 152a)
Tetra fluoro ethan : C2H4F2 (Propellant 134a)
Trang 29Kỹ Thuật Bào Chế
Thuốc Khí Dung Hoàn Chỉnh
Đây là các chất nhân tạo, đắt tiền so với các hidrocarbon vốn là các chất thu từ thiên nhiên.
Các chất trên được sử dụng trong nhiều loại khí dung, có thể dùng riêng hay phối hợp 2 hoặc 3 chất Đặc biệt với các dạng khí dung
phân liều dùng qua đường hô hấp nhóm 3 chất chloro fluoro carbon
12, 114, 11 hay sử dụng nhất.
Lưu ý sử dụng: các khí hoá lỏng khi phun trực tiếp cho cảm giác lạnh hoặc ớn lạnh trên da, niêm mạc và có thể kích thích nhu mô phổi Nhưng do đa số các khí hoá lỏng thoát khỏi thuốc rất nhanh và việc sử dụng các van đặc biệt nên các khí này hiện được coi là rất an toàn Riêng trong bào chế cần có chế độ bảo vệ công nhân
bằng các biện pháp chống ngạt, chống cháy nổ, chống bỏng lạnh do tiếp xúc.
Trang 30Kỹ Thuật Bào Chế Quy Trình Sản Xuất
Do đặc điểm nhạy cảm với nhiệt
độ khác nhau của khí đẩy, 2 quy trình bào chế được tiến hành gồm
Trang 31Đóng khí đẩy Hóa Lỏng
Nén Khí Đẩy Đặt Van
Máy nén khí
Bồn trữ khí lỏng
Bồ trữ khí
Dán nhãn, bao bì bảo quản
Trang 32Thuốc Khí Dung Hoàn Chỉnh
Trang 33Kỹ Thuật Bào Chế
Quy trình dùng áp suất cao nén khí: phải có thiết bị
nén khí ở áp suất cao 80 - 150 PSI, trong một chu trình kín, có thể áp dụng cho cả khí nén hoặc khí hoá lỏng
Ở quy mô công nghiệp, quy trình dùng áp suất cao được ưa chuộng hơn vì nhiều lý do:
Trang 34Kỹ Thuật Bào Chế
Với khí hoá lỏng: dùng một burette có thể đong
những thể tích nhất định 100 - 1000 ml khí hoá
lỏng, nén từ bồn trữ vào bình chứa thuốc đã
đóng van Hệ thống đóng khí này có một van 3
ngã vừa
nhận khí hoá lỏng, vừa có thể nối với máy nén
khí hoặc bình khí trơ nitơ N2 để đẩy khí từ buret
vào bình thuốc.
Trang 35Kỹ Thuật Bào Chế
Với khí nén: Các khí này được tồn trữ trong các bồn chứa ở áp suất cao (» 150PSI), nên
có thể bơm vào bình chứa thuốc đã gắn van, qua đường ống nối với 1 đầu bơm có gắn
áp kế, điều chỉnh bằng tay hoặc cài đặt tự động.
Trong trường hợp cần hoà tan một lượng lớn khí đẩy trong thuốc, khí carbonic, nitơ dioxid được bơm vào trong trạng thái lắc bình khi nén khí Trường hợp để tăng lượng khí đẩy trong bình cũng dùng 2 khí trơ trên.
Thuốc Khí Dung Hoàn Chỉnh
Trang 36Kỹ Thuật Bào Chế
Thuốc Khí Dung Hoàn Chỉnh
Chú ÝTrong cả 2 quy trình dùng nhiệt độ lạnh hoặc
dùng áp suất cao đều có thao tác đuổi không khí khỏi bình trước khi đóng khí đẩy
Có thể thực hiện bằng hút chân không liên kết
với nén khí trong quy trình dùng áp suất cao,
hoặc đơn giản đặt vào bình một ít khí hoá lỏng, khí hoá hơi sẽ ở lại bình và đuổi không khí khỏi bình.
Trang 37Kỹ Thuật Bào Chế
Thuốc Khí Dung Hoàn Chỉnh
Kiểm tra độ kín: nhúng bình đã hoàn chỉnh trong nồi cách thuỷ ở 54 – 55oC phát hiện bình
hở để loại bỏ
nếu thấy xuất hiện bọt khí.
Dán nhãn và hoàn chỉnh bao bì: tương tự như các
dạng thuốc khác Do bình khí dung bằng các vật liệu kim loại, hoặc phủ nhựa nên thường
in sẵn nhãn
hiệu trong khâu sản xuất bao bì, nên không phải dán nhãn.
Bảo quản: các bình khí dung luôn ở trạng thái áp suất cao nên không được đè nén bình, chọc vật cứng,
nhất là khống chế nhiệt độ nơi tồn trữ < 50oC để tránh nổ bình hoặc nổ cháy với những chất khí đẩy dễ cháy.