1. Trang chủ
  2. » Vật lí lớp 11

BIẾN ĐỔI HÀM LƯỢNG POLYPHENOL VI BAO BỔ SUNG TRONG QUÁ TRÌNH CHẾ BIẾN YAOURT

9 101 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 253,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để đánh giá ảnh hưởng của nhiệt độ và thời gian lên men đến sự ổn định polyphenol trong hạt vi bao bổ sung vào yaourt chúng tôi thực hiện theo dõi sự biến đổi hàm lượng polyphenol tr[r]

Trang 1

BIẾN ĐỔI HÀM LƯỢNG POLYPHENOL VI BAO BỔ SUNG

TRONG QUÁ TRÌNH CHẾ BIẾN YAOURT

CHANGES OF SUPPLEMENTED ENCAPSULATED POLYPHENOLS

DURING PROCESSING YOGHURT

Hà Thị Mai Trang, Lê Trung Thiên Trường Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh Email: le.trungthien@hcmuaf.edu.vn

TÓM TẮT

Các hợp chất polyphenol (PP) là các chất chống oxi hóa tự nhiên có nhiều trong thực vật Các hợp chất tự nhiên này sở hữu nhiều tính chất có lợi cho sức khỏe Trong nghiên cứu này, chiết xuất polyphenolic từ nhân hạt xoài được vi bao bởi phương pháp giọt tụ Sau đó vi bao được bổ sung vào quá trình chế biến yaourt Sự biến đổi hàm lượng PP trong suốt quá trình thanh trùng, lên men, và bảo quản sản phẩm yaourt được đánh giá.

Kết quả nghiên cứu cho thấy giai đoạn thanh trùng làm suy giảm hàm lượng PP trong vi bao nhiều nhất Hàm lượng PP trong sữa (không bao gồm vi bao) có xu hướng tăng nhẹ, điều này có thể cho thấy có sự giải phóng PP từ vi bao Tổng PP (bao gồm trong vi bao và trong sữa) giảm đáng kể sau thanh trùng Thanh trùng ở 85 o C (làm giảm khoảng 35% hàm lượng PP trong vi bao) mang lại kết quả tốt hơn trong việc bảo vệ hợp chất PP so với thanh trùng ở 90 o C Lên men đến

pH 4,6 tại 43 o C làm giảm thêm 20% hàm lượng PP, trong khi đó lên men ở 37 o C làm giảm khoảng 5% Bảo quản yaourt trong một tháng làm giảm hàm lượng PP không đáng kể ở cả điều kiện lạnh cũng như lạnh đông Điều này có thể là do các loại polyphenol nhạy cảm đã bị phá hủy trong suốt quá trình thanh trùng và lên men trước đó Đánh giá cảm quan không cho thấy sự khác biệt giữa yaourt bổ sung polyphenol vi bao so với yaourt đối chứng Như vậy, bổ sung PP vi bao vào yaourt

có thể cho hình ảnh sản phẩm tốt, tuy nhiên, những hợp chất này bị suy thoái đáng kể trong suốt quá trình chế biến, đặc biệt là suốt quá trình xử lý nhiệt

Từ khóa: polyphenol vi bao, yaourt, thanh trùng, lên men, chất kháng oxi hóa

ABSTRACT

Polyphenols (PP) are natural antioxidants in plant materials These components possess many health beneficial properties In this study, a polyphenolic extract from mango kernel was encapsulated using coacervation method The capsules were then added to yogurt making The changes of PP during pasteurization, fermentation, and storage of the yogurt were evaluated The results of the study showed that the pasteurization stage caused the highest reduction in concentrations of PP in the capsules Concentrations of PP in the milk (not including the capsules) had a tendency of slight increase, which might indicate some release of PP from the capsules Total

PP (in the capsule and in the milk) reduced significantly after pasteurization Pasteurization at

85 o C (reduced about 35 % of PP in the capsules) was better than at 90 o C in preservation of PP Fermentation to reach pH of 4.6 at 43 o C reduced further 20% of PP, whereas, at 37 o C it reduced about 5% Storage of the yogurt for a month did not significantly reduce PPs both at chilling as well as freezing condition It was observed that the sensitive polyphenol species had been destroyed during previous pasteurization and fermentation Sensorial evaluation did not find significant difference in scores of PP supplemented yogurt and control yogurt In conclusion, supplement of encapsulated PP may give some good image for yogurt, however, these components are destroyed significantly during processing, especially during the heat treatment.

Keywords: encapsulated polyphenols, yogurt, pasteurization, fermentation, antioxidants

Trang 2

có nguồn gốc tự nhiên, người ta dùng phương pháp vi bao (Munin và Edwards, 2011)

Việc bổ sung polyphenol vào trong các thực phẩm phổ biến là một sự tiện lợi và là phương pháp khả thi để tăng lượng tiêu thụ polyphenol hằng ngày Yaourt là sản phẩm lên men từ sữa được nhiều người sử dụng với nhiều lợi ích cho sức khỏe từ các chủng vi sinh được cấy vào sữa Yaourt bổ sung hạt vi bao polyphenol với sự gia tăng lợi ích cho sức khỏe từ hợp chất polyphenol

là một sản phẩm mới có giá trị dinh dưỡng cao Đồng thời việc bổ sung polyphenol dưới dạng hạt vi bao có thể giúp ổn định hoạt tính sinh hóa của hợp chất polyphenol và tránh được mùi vị không mong muốn từ hợp chất polyphenol đến sản phẩm yaourt

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP Nguyên vật liệu và hóa chất

Sữa tươi được mua tại Trại thí nghiệm chăn nuôi trường Đại học Nông Lâm TP.HCM Men vi sinh thương mại hiệu CHR HANSEN

YC 381 (giống vi khuẩn acid lactic, bao gồm

hệ Lactobacillus bulgaricus và Streptococcus thermophilus, tỷ lệ hai giống 1:1, nguồn gốc

Đan Mạch)

Hóa chất sử dụng trong nghiên cứu gồm có: Alginate (dạng tinh thể nguồn gốc Pháp), Gelatin (dạng tinh thể nguồn gốc Pháp), Trisodium citrate (dạng tinh thể nguồn gốc Pháp), HCl (nguồn gốc Đức), Ethanol (nguồn gốc Việt Nam), Canxi clorua (nguồn gốc Đức), Methanol (nguồn gốc Việt Nam), Thuốc thử Folin-Ciocalteu (nguồn gốc Đức), Natricacbonat (nguồn gốc Đức), Vitamin C (nguồn gốc Anh), DPPH (nguồn gốc Mỹ), Acid Gallic (nguồn gốc Nhật), nước cất

Trích ly polyphenol và tạo hạt vi bao polyphe-nol bằng phương pháp giọt tụ

Hạt xoài được xử lý sơ bộ (sấy, nghiền) sau

đó được trích ly với ethanol 50% (tỷ lệ 1:12) Quá trình trích ly polyphenol từ bột hạt xoài được thực hiện 2 lần ở nhiệt độ 52oC trong 16 phút, với lần 1 được trích ly trong điều kiện siêu

âm tần số 42kHz/ công suất 200 W/g, lần 2 chỉ trích ly trong điều kiện nhiệt độ 52oC/16 phút Gạn lấy phần dịch sau trích ly đem cô quay

ĐẶT VẤN ĐỀ

Polyphenol là những hợp chất thơm có

nhóm hydroxyl đính trực tiếp với nhân benzen

(Lê Ngọc Tú, 2003) Polyphenol hiện diện

nhiều trong thực vật như rau, củ, quả, hoa,…

Trong thực vật chúng thường tồn tại dưới dạng

glycozit dễ tan trong nước và thường tập trung

ở các không bào của tế bào Tùy thuộc vào số

lượng của nhóm hydroxyl và vị trí tương hỗ

của nhóm này mà các tính chất lý hóa học hoặc

hoạt tính sinh học thay đổi Hơn 8000 cấu trúc

phenolic được biết đến hiện nay, trong đó có

hơn 4000 flavonoid đã được xác định Như một

chất chống oxy hóa, các polyphenol có thể bảo

vệ các tế bào chống lại tổn thương oxy hóa, do

đó hạn chế nguy cơ bệnh tật liên quan đến stress

oxy hóa Có nhiều nghiên cứu thử nghiệm trên

động vật cho thấy, khi bổ sung polyphenol vào

thức ăn của chúng, sẽ giúp hạn chế sự phát

triển của bệnh ung thư, tim mạch, thoái hóa

thần kinh, tiểu đường và loãng xương (Scalbert

và ctv, 2005) Trong công nghiệp thực phẩm,

polyphenol tự nhiên từ hạt nho, lá trà già, vỏ

các loại trái cây, phụ phẩm từ quá trình chế biến

rau quả có thể dùng để hạn chế phản ứng oxi

hóa chất béo, tăng thời hạn sử dụng của thực

phẩm như chất bảo quản thực phẩm (Moure

và ctv, 2001) Một số nhà khoa học lại nghiên

cứu khả năng chống oxi hóa, giúp ổn định chất

lượng và màu sắc của polyphenol trong nước

giải khát Chery Chung và ctv (2016) nhận thấy

polyphenol từ chiết xuất trà xanh có thể giúp ổn

định màu sắc của anthocyanin trong nước giải

khát có chứa acid citric (pH 3) Chính vì vậy,

gần đây polyphenol thu hút sự chú ý của các nhà

nghiên cứu, nhà sản xuất thực phẩm và người

tiêu dùng Georgé và ctv (2005) đã nghiên cứu

và đưa ra khuyến cáo lượng tiêu thụ polyphenol

hàng ngày là khoảng 1gr thì tốt cho sức khỏe,

con người có thể nhận được polyphenol thông

qua rau quả ăn hàng ngày, tuy nhiên lượng hấp

thụ được sẽ không nhiều Vì vậy, các nhà khoa

học tập trung nghiên cứu trích ly và sử dụng

polyphenol như một thực phẩm chức năng hỗ

trợ cho sức khỏe Tuy nhiên polyphenop là hợp

chất sinh học rất dễ bị oxi hóa bởi các tác nhân

môi trường như ánh sáng, nhiệt độ, Vì vậy để

bảo vệ hoạt tính của các hợp chất polyphenol

Trang 3

Các thí nghiệm

Khảo sát biến đổi hàm lượng polyphenol trong quá trình thanh trùng

Để đánh giá ảnh hưởng của nhiệt độ và thời gian đến sự ổn định polyphenol trong hạt vi bao bổ sung vào yaourt chúng tôi thực hiện theo dõi sự biến đổi hàm lượng polyphenol trong hạt vi bao, trong dịch sữa ở hai mẫu sữa bổ sung hạt vi bao khi thanh trùng 85oC

và 90oC Chúng tôi tiến hành đo hàm lượng polyphenol thay đổi ở phút thứ 0, 2, 4, 6, 8, 10 của quá trình thanh trùng

Để đánh giá hiệu quả của việc bổ sung polyphenol dưới dạng vi bao so với bổ sung trực tiếp polyphenol, chúng tôi tiến hành các quá trình tương tự như trên với bổ sung dịch trích thay cho hạt vi bao polyphenol Dịch trích được bổ sung vào sữa với tỷ lệ 1,8%

Khảo sát biến đổi hàm lượng polyphenol trong quá trình lên men

Để đánh giá ảnh hưởng của nhiệt độ và thời gian lên men đến sự ổn định polyphenol trong hạt vi bao bổ sung vào yaourt chúng tôi thực hiện theo dõi sự biến đổi hàm lượng polyphenol trong hạt vi bao, trong dịch yaourt ở hai mẫu yaourt bổ sung hạt vi bao khi lên men ở 37oC

và 43oC Thời gian lên men được tính đến khi

pH của yaourt đạt khoảng 4,7 Chúng tôi tiến hành đo hàm lượng polyphenol thay đổi ở thời gian ban đầu, sau 2h, 3h, 3,5h, 4,5h tính từ khi cấy men

Khảo sát biến đổi hàm lượng polyphenol trong giai đoạn bảo quản

Để đánh giá ảnh hưởng của nhiệt độ và thời gian bảo quản đến sự ổn định polyphenol trong hạt vi bao bổ sung vào yaourt chúng tôi thực hiện theo dõi sự biến đổi hàm lượng polyphenol trong hạt vi bao, trong dịch yaourt ở hai mẫu yaourt bổ sung hạt vi bao khi bảo quản ở điều kiện nhiệt độ thấp khoảng 7oC và điều kiện lạnh đông -18oC Chúng tôi tiến hành đo hàm lượng polyphenol thay đổi ở thời gian 0 ngày, 7 ngày,

14 ngày, 21 ngày và 28 ngày sau khi lên men

Đánh giá cảm quan sản phẩm yaourt

Để đánh giá chất lượng cảm quan sản phẩm yaourt bổ sung hạt vi bao polyphenol so với

65oC/2h và ly tâm 3000 vòng/phút trong thời

gian 10 phút, sau đó lọc qua giấy lọc Whatman

số 1 Dịch trích polyphenol được bảo quản ở

4oC Hạt vi bao polyphenol được tạo ra từ dịch

trích polyphenol và màng bao alginate-gelatin

Alginate-gelatin (tỷ lệ 1,5:1) được trộn với

nước cất theo nồng độ 4% Tỷ lệ dịch trích

polyphenol và dịch màng bao là 1,5:1 Đồng

hóa hỗn hợp dịch trích polyphenol và dịch

màng bao ở chế độ 11000 rpm trong 6 phút rồi

để yên ở nhiệt độ phòng trong 15 phút Tiến

hành vi bao bằng cách nhỏ giọt dung dịch vi

bao bằng xi lanh trong dung dịch canxi clorua

nồng độ 3% Hạt vi bao được để yên trong dung

dịch canxi clorua trong 40 phút Vớt hạt ra rửa

sạch với nước cất và bảo quản trong 4oC

Chế biến yaourt

Yaourt được chế biến theo các bước sau:Sữa

tươi được bổ sung hạt vi bao (tỷ lệ 3% trọng

lượng)  thanh trùng  làm nguội  cấy vi

sinh (tỷ lệ 0,002% trọng lượng)  lên men 

bảo quản

Sữa sau khi mua về được bổ sung đường

với tỷ lệ 3% (trọng lượng), sau đó đồng hóa ở

10000 rpm trong 10 phút Sau đó bổ sung hạt vi

bao polyphenol với tỷ lệ 3% (trọng lượng) vào

sữa đã đồng hóa, thanh trùng ở các chế độ theo

thí nghiệm 1 Với quy mô phòng thí nghiệm

chúng tôi thanh trùng bằng bể ổn định nhiệt có

khả năng cài các chế độ nhiệt khác nhau Trước

khi đặt sữa vào bể ổn định nhiệt để thanh trùng

chúng tôi gia nhiệt sữa lên bằng nhiệt độ thanh

trùng bằng phương pháp cách thủy trên bếp

điện từ, dùng nhiệt kế theo dõi cho đến khi sữa

đạt nhiệt độ thanh trùng, sau đó chuyển sữa qua

bể ổn định nhiệt

Men vi sinh được trộn đều vào sữa sau khi

sữa được thanh trùng và làm nguội đến 45oC

với tỷ lệ 0,002% (trọng lượng) Sau khi cấy

men, rót sữa vào hộp, sữa được lên men trong

bể ủ nhiệt có khả năng cài đặt các nhiệt độ theo

thí nghiệm 2 Theo dõi thời gian lên men đến

khi pH của sữa đạt khoảng 4,7 Kết thúc quá

trình lên men, các hũ yaourt thành phẩm được

bọc giấy bạc chắn sáng và bảo quản ở tủ lạnh

có nhiệt độ 6 – 8oC và ở tủ đông có nhiệt độ

khoảng – 18oC theo thí nghiệm 3

Trang 4

tích với nồng độ phù hợp Sau đó hút 1ml dung dịch mẫu đã pha loãng vào ống nghiệm Thêm vào 5ml dung dịch Folin-Ciocalteu (10%), lắc đều, để yên từ 3 – 8 phút Tiếp tục thêm 4ml dung dịch Na2CO3 (7,5%), lắc đều, để yên ở nhiệt độ phòng trong bóng tối 60 phút Sau đó

đo độ hấp thu quang học ở bước sóng 765 nm Gallic acid được dùng làm chất chuẩn Hàm lượng polyphenol được biểu diễn theo miligam đương lượng acid gallic trong 100g mẫu (mg gallic acid equivalent/100g)

Phương pháp đánh giá cảm quan

Theo phương pháp đánh giá cảm quan phép thử cho điểm (Hà Duyên Tư, 2006) Phép thử cho điểm nhằm mục đích xác định xem mức độ khác nhau về một tính chất cảm quan nào đó giữa hai hay nhiều sản phẩm là bao nhiêu Các cảm quan viên sẽ được nhận bảng thang điểm

và các thuật ngữ mô tả cường độ của một tính chất cảm quan nào đó do người điều hành thí nghiệm cung cấp Dựa trên cơ sở đó các cảm quan viên sẽ đánh giá cường độ của tính chất cảm quan thông qua một điểm số tương ứng

Xử lý số liệu

Số liệu được xử lý bằng phần mềm Excel và JMP 10.0 để tính toán, xử lý số liệu và vẽ biểu

đồ Số liệu được xử lý thống kê với độ tin cậy 95% và sự khác biệt giữa các mẫu có ý nghĩa khi P<0,05

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Sự biến đổi hàm lượng polyphenol của hạt vi bao trong quá trình thanh trùng sữa

Kết quả sự thay đổi hàm lượng polyphenol trong hạt vi bao, dịch sữa và hàm lượng polyphenol tổng của sữa trong quá trình thanh trùng được thể hiện ở Hình 1

yaourt thông thường, chúng tôi tiến hành đánh

giá cảm quan với phép thử cho điểm

Phương pháp phân tích

Đo pH

Bằng máy đo pH Hanna pH 211 Yaourt

được trộn đều và cho vào cốc Sau đó cho đầu

đo của máy đo vào, đợi đến khi giá trị hiển thị

ổn định thì đọc kết quả đo hiển thị trên máy

Phân tích hàm lượng polyphenol tổng

a) Chiết xuất polyphenol từ hạt vi bao

(thực hiện theo phương pháp của Radoslava

Stojanovic và ctv, 2012)

Cân 1 (g) hạt vi bao ngâm vào dung dịch

sodium citrate (20%, tính theo khối lượng) theo

tỷ lệ hạt vi bao: dung dịch sodium citrate = 1:5

(khối lượng:khối lượng) trong 15 phút, rồi tiếp

tục lắc trộn bằng máy Vortex Thu dịch sau hòa

tan Dịch sau hòa tan sẽ được trộn với dung dịch

methanol chua hóa (0,1ml HCl 100% định mức

với methanol cho đến 100ml) theo tỷ lệ 20 (g)

dịch: 30 (ml) methanol chua hóa Sau khi trộn

đều hỗn hợp, để ủ hỗn hợp 30 phút ở 4oC Tiếp

theo hỗn hợp được lọc với giấy lọc Whatman

No 01

b) Chiết xuất polyphenol từ yaourt (thực hiện

theo phương pháp của Trigueros và ctv, 2014)

Cân 20 (g) yaourt trộn với 30ml dung dịch

methanol chua hóa (0,1ml HCl 100% định

mức với methanol cho đến 100ml) Sau khi

trộn đều hỗn hợp, để ủ hỗn hợp 30 phút ở

4oC Tiếp theo hỗn hợp được lọc với giấy lọc

Whatman No 01

c) Xác định lượng polyphenol tổng số

Hàm lượng polyphenol tổng số được xác định

theo TCVN 9745-1:2013/ ISO 14502-1:2005

Tiến hành pha loãng dịch chiết mẫu cần phân

Trang 5

Do đó khi vi bao được thanh trùng cùng với sữa, nhiệt độ cao đã làm ảnh hưởng đến hiệu quả vi bao, polyphenol thoát ra ngoài và bị oxi hóa phần nào

Như vậy, nhiệt độ cao và thời gian dài sẽ làm ảnh hưởng đến sự thoái hóa polyphenol nhiều hay ít Khi thanh trùng ở 85oC, hàm lượng polyphenol còn giữ lại sau quá trình thanh trùng nhiều hơn so với khi thanh trùng ở 90oC (ở 85oC hàm lượng polyphenol tổng trong sữa còn lại 68,96% so với ban đầu, còn ở 90oC hàm lượng polyphenol tổng trong sữa còn lại 56,14% so với ban đầu)

1.11 0.92 0.64 0.61 0

0,5 1 1,5 2

thời gian thanh trùng (phút)

Hình 2 Biến đổi hàm lượng polyphenol tổng

của dịch sữa trong quá trình thanh trùng ở hai nhiệt độ 85 và 90 °C khi bổ sung hạt vi bao polyphenol (VB) và dịch trích (DT) (Hàm lượng polyphenol tổng trong dịch sữa bổ sung hạt vi bao polyphenol khi thanh trùng ở

85oC và 90oC được lấy từ Hình 1)

Kết quả cho thấy polyphenol dù được vi

bao cũng bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ.Khi thanh

trùng, hàm lượng polyphenol trong hạt vi bao

giảm nhanh ở giai đoạn gia nhiệt lên đến nhiệt

độ thanh trùng (gia nhiệt đến 85oC hàm lượng

polyphenol tổng trong sữa thất thoát mất 13,6%,

gia nhiệt đến 90oC hàm lượng polyphenol tổng

thất thoát đến 17,6%) Cả hai chế độ thanh trùng

đều làm giảm hàm lượng polyphenol trong hạt

vi bao được bổ sung vào sau 10 phút Song song

với hàm lượng polyphenol trong hạt vi bao bị

thất thoát là hàm lượng polyphenol trong dịch

sữa tăng theo thời gian Điều này có nghĩa là có

sự thất thoát polyphenol trong hạt vi bao một

phần do thoái hóa và một phần do thẩm thấu ra

dịch sữa bên ngoài

Khi thanh trùng ở chế độ 90oC, ở phút thứ 6

đến phút thứ 8, hàm lượng polyphenol ở hạt và

hàm lượng polyphenol tổng có xu hướng tăng,

điều này có thể là do nhiệt độ cao làm phân hủy

protein, các protein bị cắt thành những phân tử

nhỏ hơn, có chứa các gốc phenol, gây ra kết quả

tăng lên trong phân tích hàm lượng polyphenol

tổng (Ainsworth và Gillespie, 2006) Tuy nhiên

khi xử lý số liệu cho thấy không có sự khác biệt

giữa nghiệm thức ở phút thứ 6 và phút thứ 8

(với P < 0,05)

Như vậy màng bao từ alginate và gelatin

cũng bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ của quá trình

chế biến Gel alginate có ưu điểm là ổn định

cấu trúc gel và tính lưu biến của nó qua các quá

trình xử lý nhiệt, tuy nhiên gelatin thì nhạy với

nhiệt hơn, các liên kết ở gel gelatin dễ dàng bị

phá vỡ khi nhiệt độ tăng cao (Imeson, 1997)

a

d

a

d

0

0,2

0,4

0,6

0,8

1

1,2

1,4

1,6

1,8

thời gian thanh trùng (phút)

A

a

bcd

e

a

bcd

e

0 0,2 0,4 0,6 0,8 1 1,2 1,4 1,6 1,8

thời gian thanh trùng (phút)

B

Hình 1.Biến đổi hàm lượng polyphenol (PP) của hạt vi bao (VB), của dịch sữa và polyphenol

tổng của sữa trong quá trình thanh trùng ở 85oC (A) và ở 90oC (B) (Các ký tự a, b, c của trên cùng một đường biểu diễn thể hiện sự khác biệt giữa các nghiệm thức ở độ tin cậy 95%)

Trang 6

thời gian 2h đầu sau khi cấy vi sinh, lên men ở

43oC khiến cho sự thoái hóa polyphenol diễn

ra nhanh hơn so với lên men ở 37oC (ở 43oC, hàm lượng polyphenol tổng giảm tới 17,4%

so với ở 37oC, hàm lượng polyphenol tổng chỉ giảm 3,3%) Trong điều kiện lên men 43oC, polyphenol tiếp tục thoái hóa dẫn đến sự sụt giảm hàm lượng, trong khi đó ở điều kiện lên men 37oC, hàm lượng polyphenol gần như ổn định với kết quả xử lý JMP (P<0,05) không có

sự khác biệt giữa các số liệu Kết thúc quá trình lên men được chúng tôi xác định tại pH khoảng 4,7 (đối với lên men 37oC, kết thúc quá trình lên men sau 4,5h; đối với lên men 43oC, kết thúc quá trình lên men ở 3,5h)

Ở nhiệt độ thấp, dù thời gian lên men dài hơn (4,5h) so với thời gian lên men ở nhiệt độ cao (3,5h), nhưng hàm lượng polyphenol tổng trong yaourt còn lại khá cao, gần như không mất mát nhiều (96,71%) Điều này có thể được giải thích

vì nhiệt độ thấp hoạt động chuyển hóa sinh học của vi sinh chậm hơn nên ảnh hưởng ít đến sự thoái hóa của polyphenol

Nhìn chung có thể thấy giai đoạn lên men không làm thất thoát polyphenol nhiều như giai đoạn thanh trùng Điều này là do mạng lưới polymer và cấu trúc gel của yaourt có thể bảo vệ polyphenol trong một phạm vi nào đó, qua đó giảm tốc độ oxi hóa hay thoái hóa của polyphenol (Sun-Waterhouse và ctv, 2013; Trigueros và ctv, 2014) Dù vậy trong giai đoạn lên men, các hoạt động chuyển hóa sinh học của

vi sinh cũng làm ảnh hưởng đến polyphenol, tuy nhiên sự ảnh hưởng ít hay nhiều phụ thuộc vào thành phần polyphenol, chủng vi sinh vật

sử dụng vì có một số thành phần phenolic có

ái lực mạnh với protein của sữa, ví dụ như flavonoid và isoflavonoid là phenolic có ái lực cao đối với protein sữa (McCue và Shetty, 2005) hoặc punicalagin trong nước ép lựu cũng được chứng minh là có tương tác mạnh với protein sữa (Trigueros và ctv, 2014)

Sau khi xem xét kết quả thu được từ các nghiệm thức, chúng tôi nhận thấy thực hiện giai đoạn lên men ở nhiệt độ 37oC trong 4,5h là cho kết quả tốt nhất trong việc bảo vệ hợp chất polyphenol tránh bị thoái hóa

Để đánh giá hiệu quả bảo vệ của việc vi

bao so với không vi bao, chúng tôi tiến hành

thực hiện mẫu đối chứng với việc bổ sung dịch

trích polyphenol vào sữa và theo dõi biến đổi

polyphenol trong quá trình thanh trùng tương

ứng với quá trình thanh trùng khi bổ sung hạt vi

bao Kết quả ghi nhận được khi thanh trùng sữa

bổ sung dịch trích được thể hiện ở biểu đồ trong

Hình 2 Theo như ghi nhận của chúng tôi, khả

năng ổn định hàm lượng polyphenol của dịch

trích trong sữa thanh trùng sau 10 phút rất kém

so với hạt vi bao Cụ thể là sau 10 phút thanh

trùng hàm lượng polyphenol tổng của dịch

sữa bổ sung dịch trích chỉ còn lại từ 35,28% –

38,58% so với ban đầu, nhiệt độ càng cao mức

độ thoái hóa của polyphenol càng nhiều Trong

khi đó, dịch sữa được bổ sung polyphenol vi

bao có thể giữ lại được hàm lượng polyphenol

lên tới 56,14% - 68,96% so với ban đầu

Như vậy với kết quả thu được từ quá trình

thanh trùng cho thấy hạt vi bao có thể giữ được

hàm lượng polyphenol cao nhất khi xử lý ở

nhiệt độ 85oC, với hàm lượng polyphenol tổng

còn trong dịch sữa là 1,11mg/100g sữa so với

1,61mg/100g sữa lúc ban đầu

Sự biến đổi polyphenol trong quá trình lên

men sữa

Kết quả sự thay đổi hàm lượng polyphenol

trong quá trình lên men được thể hiện trong

Hình 3

96.72 100

78.60

0

20

40

60

80

100

120

thời gian lên men

% PP lên men ở 37 độ C

% PP lên men ở 43 độ C

Hình 3 Sự thay đổi hàm lượng polyphenol

(theo %) trong quá trình lên men 37oC và 43oC

Kết quả cho thấy hàm lượng polyphenol

thay đổi ở các điều kiện lên men đều có xu

hướng giảm như nhau Hàm lượng polyphenol

trong dịch yaourt đa phần tăng Trong khoảng

Trang 7

Kết quả sự thay đổi hàm lượng polyphenol trong quá trình bảo quản được thể hiện trong Hình 4

Sự biến đổi polyphenol trong quá trình bảo

quản

b

0 0,2 0,4 0,6 0,8 1 1,2 1,4

thời gian bảo quản (ngày)

B

0

0,2

0,4

0,6

0,8

1

1,2

1,4

1,6

1,8

thời gian bảo quản (ngày)

A

PP tổng PP trong hạt VB PP trong yaourt

Hình4 Biến đổi hàm lượng polyphenol (PP) của hạt vi bao (VB), của dịch yaourt và polyphenol

tổng của yaourt trong quá trình bảo quản ở 7oC (A) và ở - 18oC (B) (Các ký tự a, b, c của trên cùng một đường biểu diễn thể hiện sự khác biệt giữa các nghiệm thức ở độ tin cậy 95%) Theo kết quả thu được thể hiện ở biểu đồ

Hình 4 (A), có thể nhận thấy quá trình bảo quản

28 ngày ở 7oC không ảnh hưởng gì nhiều đến

hàm lượng polyphenol tổng cũng như từ hạt

vi bao trong yaourt Sau 7 ngày, hàm lượng

polyphenol trong hạt vi bao giảm còn khoảng

95,06% so với ban đầu sau khi kết thúc quá trình

lên men, tiếp tục bảo quản đến ngày thứ 14, 21,

28 hàm lượng polyphenol khác biệt không có ý

nghĩa (P < 0,05) Tương tự như kết quả của hạt

vi bao, hàm lượng polyphenol tổng trong yaourt

có giảm nhẹ sau 7 ngày bảo quản (còn khoảng

98,54% so với 0 ngày bảo quản), sau đó giá trị

hàm lượng polyphenol tổng khác biệt không có

ý nghĩa (P < 0,05) Trong dịch yaourt thì có sự

tăng nhẹ do lượng polyphenol từ trong hạt vi

bao thoát ra ngoài (tăng khoảng 4,02% sau 7

ngày bảo quản, tiếp tục tăng lên 6,21%-6,85%

vào ngày thứ 14 và 21 của giai đoạn bảo quản,

và giảm xuống còn 5,41% vào ngày thứ 28 do

sự oxi hóa gây mất mát polyphenol, tuy nhiên

sự khác biệt này không có ý nghĩa vớiP < 0,05)

Theo dõi biển đổi hàm lượng polyphenol của

bảo quản -18oC (theo Hình 4 B) trong 28 ngày

chúng tôi ghi nhận được hàm lượng polyphenol

ở hạt vi bao và cả ở tổng trong yaourt có xu

hướng giảm nhẹ sau 7 ngày bảo quản và tương

đối ổn định cho đến ngày thứ 28 Tương ứng

với sự giảm nhẹ của hạt vi bao trong 7 ngày đầu

là sự tăng nhẹ của hàm lượng polyphenol ở dịch yaourt Cụ thể hàm lượng polyphenol ở hạt vi bao và tổng trong yaourt giảm còn 93,01% và 96,38% sau 7 ngày bảo quản, đến ngày thứ 28

có sự tăng nhẹ nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa (với P < 0,05)

Như vậy, bảo quản cũng không ảnh hưởng nhiều đến sự thoái hóa polyphenol ở cả điều kiện bảo quản lạnh (7oC) và bảo quản lạnh đông (-18oC) Điều này được thể hiện ở giá trị hàm lượng polyphenol của cả hai điều kiện bảo quản còn lại khá cao (khoảng 97,38%-98,07%) sau

28 ngày bảo quản Sau khi kết thúc quá trình lên men, cấu trúc gel yaourt ổn định, mạng lưới gel này có khả năng củng cố sự ổn định của hợp chất polyphenol cũng như không gây tác động hay ảnh hưởng gì đến lớp màng bao alginate-gelatin của hạt vi bao

Điểm cảm quan sản phẩm yaourt

Để đánh giá sự khác biệt về giá trị cảm quan của sản phẩm yaourt bổ sung hạt vi bao

so với sản phẩm yaourt thông thường, chúng tôi tiến hành đánh giá cảm quan phương pháp cho điểm theo từng tính chất cảm quan của sản phẩm đối với hai mẫu (mẫu yaourt có bổ sung hạt vi bao và mẫu yaourt đối chứng không bổ sung hạt vi bao)

Trang 8

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Ainsworth E A and Gillespie K M., 2007 Estimation of total phenolic content and other oxidation substrates in plant tissues

using Folin-Ciocalteu reagent Nature Protocol, 2(4): 875-877.

Chung C., Rojanasasithara T., Mutilangj W and McClements D J., 2016 Stabilization

of Natural Colors and Nutraceuticals: Inhibition of Anthocyanin Degradation in

Model Beverages using Polyphenols Food Chemistry, 212: 596-603.

Georgé S., Brat P., Alter P., and Amiot M.J.,

2005 Rapid determination of polyphenols and vitamin C in plant derived products

Journal of Agricultural and Food Chemistry,

53: 1370-1373

Hà Duyên Tư, 2006 Kỹ thuật phân tích cảm

quan thực phẩm Nhà xuất bản khoa học và

kỹ thuật, Hà Nội, trang 66.

Imeson A., 1997 Thickening and Gelling

agents for Food, Springer Science Business Media, Hong Kong, trang 22 và trang 119.

Lê Ngọc Tú, 2003 Hóa học Thực phẩm Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, trang

38

McCue P và Shetty K., 2005 Phenolic antioxidant mobilization during yoghurt production from soymilk using Kefir

cultures.Process Biochemistry, 40:

1791-1797

Moure A., Cruz J.M., Franco D., Domínguez J.M., Sineirob J., Domínguez H., Núnez M.J and Parajó J.C., 2001 Natural antioxidants

from residual sources Food Chemistry 72:

145-171

Munin, A and Edwards Levy, F., 2011 Encapsulation of Natural Polyphenolic

Compouds a Review Pharmaceutics, 3(4):

793-829

Radoslava Stojanovic, Ana Belscak-Cvitanovic, Verica Manojlovic, Drazenka Komes, Viktor Nedovic and Branko Bugarski, 2012

Encapsulation of thyme (Thymus serryllum L.) aqueous extract in calcium alginate beads

Bảng 1 Kết quả đánh giá cảm quan

Chỉ tiêu Yaourt bổ sung hạt vi bao đối chứngYaourt

Màu sắc 3,76±0,05a 3,83±0,05a

Mùi, vị 3,16±0,08a 3,05±0,12a

Cấu trúc 2,75±0,22a 3,19±0,12b

(Các ký tự a, b khác nhau trên cùng một hàng

thể hiện sự khác biệt giữa các nghiệm thức ở độ

tin cậy 95%)

Qua Bảng 1 có thể nhận thấy về màu sắc và

mùi vị thì yaourt bổ sung hạt vi bao so với yaourt

đối chứng không có sự khác biệt Polyphenol

khi được vi bao không làm ảnh hưởng đến màu

sắc của yaourt cũng như không gây ra sự khó

chịu nào khác về mùi vị Nếu không vi bao, bổ

sung trực tiếp dịch trích polyphenol có thể mang

lại vị chát hoặc mùi khó chịu đồng thời cũng

làm thay đổi màu sắc của yaourt, vì đa phần các

hợp chất phenolic đều có mùi vị không được ưa

thích Riêng về chỉ tiêu cấu trúc thì mẫu yaourt

bổ sung hạt vi bao được các cảm quan viên cho

điểm thấp hơn mẫu đối chứng vì lý do tạo cảm

giác lợn cợn khi ăn phần yaourt có các hạt vi

bao Tuy nhiên sự khác biệt về điểm số đánh giá

không nhiều, và điểm cảm quan về chỉ tiêu cấu

trúc cho sản phẩm yaourt có bổ sung hạt vi bao

vẫn nằm trong giới hạn chấp nhận được của sản

phẩm Điều này cho thấy sự phù hợp của sản

phẩm yaourt có bổ sung hạt vi bao với người

tiêu dùng

KẾT LUẬN

Như vậy, trong quá trình chế biến yaourt thì

giai đoạn gia nhiệt thanh trùng là có tác động

nhiều nhất đến sự ổn định hợp chất polyohenol

cũng như sự ổn định của màng bao

alginate-gelatin Chúng tôi nhận thấy thanh trùng 85oC

trong 10 phút là phù hợp cho điều kiện thanh

trùng khi sản xuất yaourt bổ sung hạt vi bao

polyphenol Lên men ở 37oC trong 4,5 giờ có

hiệu quả tốt hơn trong việc bảo vệ hợp chất

polyphenol tránh suy thoái Bảo quản lạnh hay

bảo quản lạnh đông đều không gây thất thoát

nhiều polyphenol Mặt khác sản phẩm yaourt bổ

sung hạt vi bao polyphenol có thể được tiêu thụ

trên thị trường như các sản phẩm yaourt thông

thường khác vì có các giá trị cảm quan gần như

không khác biệt so với yaourt thông thường

Trang 9

Trigueros L., Wojdylo A and Sendra E.,

2014 Antioxidant activity and interactions protein-polyphenol in pomergranate

(Punica granatum L.) yoghurt Journal of Agricultural and Food Chemistry,

62:6417-25

Journal of Science of Food and Agriculture,

92: 685-696

Scalbert A., Manach, C., Morand C., and

Remesy C., 2005 Dietary Polyphenols and

Prevention of Diseases Critical Reviews in

Food Science and Nutrition, 45: 238-306.

Sun-Waterhouse D, Zhou J and Wadhwa

S S., 2013 Dringking yoghurts with

berry polyphenols added before and after

fermentation Food control, 32: 450-460

Ngày đăng: 21/01/2021, 00:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w