1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Việc làm cho lao động thuộc diện bị thu hồi đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa ở quận Cầu Giấyc

87 914 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Việc làm cho lao động thuộc diện bị thu hồi đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa ở quận Cầu Giấy
Tác giả Phạm Lê Mai
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế lao động
Thể loại Chuyên đề thực tập
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 679 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn : Việc làm cho lao động thuộc diện bị thu hồi đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa ở quận Cầu Giấy

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Tính cấp thiết của đề tài

Đất nước ta đang trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa HĐH) với mục tiêu “chuyển nền kinh tế chủ yếu dựa trên nông nghiệp sang nềnkinh tế chủ yếu dựa trên công nghiệp Hệ quả tất yếu của quá trình đó là quátrình đô thị hóa được hình thành và phát triển, tạo ra sự thay đổi không chỉ vềmặt kinh tế xã hội mà còn đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết, trong đó đặc biệt làvấn đề việc làm cho người lao động

(CNH-Quận Cầu Giấy cũng nằm trong xu thế chung của cả nước, thực hiện sựnghiệp CNH, HĐH Thủ đô theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốclần thứ VIII và lần thứ IX, trong hơn 10 năm qua (1998-2008) nhà nước đã thuhồi hàng trăm ha đất nông nghiệp để xây dựng các công trình đô thị, như: đườnggiao thông, các trường học, bệnh viện, khu chung cư, đặc biệt là các công trìnhphục vụ cho Đại hội Thể dục thể thao Đông Nam Á lần thứ 22 được tổ chức tạiViệt Nam

Những thành tựu mà Đảng bộ và nhân dân quận Cầu Giấy đạt được trong

10 năm qua trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội đã được Chủ tịchnước tặng Huân chương lao động hạng 3 năm 2002 và Huân chương lao độnghạng nhì năm 2006, khẳng định sự nỗ lực phấn đấu của Đảng bộ và nhân dânQuận Tuy nhiên những vấn đề hậu giải phóng mặt bằng, trong đó vấn đề giảiquyết việc làm cho người lao động thuộc diện thu hồi đất nông nghiệp vẫn đang

là vấn đề bức thiết cần được quan tâm giải quyết Công tác tạo việc làm gặpkhông ít khó khăn do trình độ của người lao động thuộc diện mất đất thườngthấp, khả năng nhanh chóng chuyển đổi nghề nghiệp thấp, trong khi yêu cầu củadoanh nghiệp đòi hỏi cao để có khả năng thích ứng ngay với yêu cầu công việc.Vấn đề tạo việc làm cho những đối tượng này để họ ổn định và nâng cao đờisống không thể một sớm một chiều là có thể giải quyết, đòi hỏi chính quyền địa

Trang 2

phương cùng với các cơ quan chức năng phải có chính sách phù hợp, phươngthức thực hiện hiệu quả.

Từ thực tế đời sống, việc làm của người lao động nông nghiệp tại quận,tôi chọn đề tài “Việc làm cho lao động thuộc diện bị thu hồi đất nông nghiệptrong quá trình đô thị hóa ở quận Cầu Giấy”

Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là:

- Đánh giá thực trạng việc làm và tạo việc làm cho lao động nông nghiệp

bị thu hồi đất tren địa bàn quận Cầu Giấy giai đoạn 1998-2008

- Đề xuất các giải pháp tạo việc làm cho người lao động nông nghiệp bịthu hồi đất trong giai đoạn tới trên địa bàn quận Cầu Giấy

Đối tượng nghiên cứu: Việc làm của lao động bị thu hồi đất nông nghiệp

Phạm vi nghiên cứu: Giới hạn trên địa bàn quận Cầu Giấy, thời gian nghiên

cứu là từ năm 1998 đến nay

Phương pháp nghiên cứu:

- Sử dụng phương pháp thu thập số liệu từ các nguồn có sẵn, tài liệu sơcấp thông qua điều tra xã hội học đối tượng lao động trong hộ gia đình bị thu hồiđất nông nghiệp, phương pháp phỏng vấn

- Phương pháp xử lý, tổng hợp và phân tích số liệu, thống kê-so sánh

Bố cục đề tài bao gồm 3 chương:

Chương I: Sự cấn thiết tạo việc làm cho lao động thuộc diện giải tỏa đất nôngnghiệp trong quá trình dô thị hóa

Chương II: Phân tích thực trạng việc làm và tạo việc việc làm cho người laođộng trong diện bị thu hồi đất nông nghiệp do quá trình đô thị hóa ở quận CầuGiấy giai đoạn 1998-2008

Chương III: Những giải pháp chủ yếu nhằm tạo việc làm cho lao động thuộcdiện bị thu hồi đất nông nghiệp do quá trình đô thị hóa ở quận Cầu Giấy trongthời gian tới

Trang 3

Chương I: SỰ CẦN THIẾT TẠO VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG THUỘC DIỆN THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP DO QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA

1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Đô thị hóa

1.1.1.1 Khái niệm Đô thị hóa

Trước khi đi vào khái niệm đô thị hóa ta tìm hiểu sơ qua thế nào là đô thị

Do trình độ phát triển khác nhau mà hiện nay trên thế giới ở mỗi nướckhác nhau có những tiêu thức khác nhau về đô thị, có những tiêu chuẩn địnhlượng và định tính khác nhau để phân biệt thành thị và nông thôn Nhìn chung

có thể tóm tắt và nêu năm tiêu thức tương đối thống nhất là:

 Đô thị thường là trung tâm của một vùng và lãnh thổ được hình thành dođiều kiện địa lý, bối cảnh kinh tế, chính trị mang tính chất lịch sử

 Quy mô dân số phải đảm bảo ở mức tối thiểu cần thiết, mức này có thểkhác nhau giữa các nước

 Đô thị phải có bộ máy hành chính được phân quyền quản lý theo chứcnăng quản lý nhà nước

 Đô thị phải là nơi có cơ sở hạ tầng như giao thông, thông tin liên lạc, cấpthoát nước, cơ sở vui chơi giải trí và các dịch vụ xã hội như bệnh viện,trường học… tương đối thuận tiện

 Đô thị phải là nơi có hoạt động phi nông nghiệp chiếm ưu thế, mà thước

đo để đánh giá là tỷ lệ lao động phi nông nghiệp so với tổng số lao độngcủa nội thị

Ở Việt Nam, ngày 5/5/1990 Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Quyết định

số 132/HĐBT và nghị định số 72/2001/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày5/10/2001 quy định về phân loại đô thị và phân cấp đô thị Theo đó, điểm dân cưgọi là đô thị phải có các chỉ tiêu cơ bản sau:

Trang 4

 Là trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triểnkinh tế xã hội của cả nước, của một miền lãnh thổ, của một tỉnh, huyệnhoặc một vùng trong tỉnh hoặc trong huyện.

 Quy mô dân số (nội thị) tối thiểu là 4000-6000 người, con số này có thểthấp hơn ở các vùng núi

 Mật độ dân cư (nội thị) cao hơn vùng nông thôn và được xác định theotừng loại đô thị, tối thiểu có mật độ là 2000 người/km2

 Có cơ sở hạ tầng kỹ thuật như giao thông, thông tin liên lạc, hệ thống cấpthoát nước, và các công trình công cộng phục vụ khu dân cư đô thị từngphần hoặc đồng bộ

 Có tỷ lệ lao động phi nông nghiệp chiếm 60% trở lên trong tổng số laođộng của nội thị

Đô thị hóa

Theo giáo trình Dân số và phát triển: “Đô thị hóa là quá trình hình thành

và phát triển các thành phố không chỉ về bề rộng mà cả về bề sâu”

Theo từ điển Tiếng Việt: “Đô thị hóa là quá trình tập trung dân cư ngàycàng đông vào các đô thị và làm nâng cao vai trò của đô thị đối với sự tồn tại vàphát triển của xã hội”

Theo Bách khoa toàn thư thì “Đô thị hóa là sự mở rộng của đô thị, tínhtheo tỷ lệ phần trăm giữa số dân đô thị hay diện tích đô thị trên tổng số dân haydiện tích của một vùng hay khu vực Nó cũng có thể tính theo tỷ lệ gia tăng củahai yếu tố đó theo thời gian Nếu tính theo cách đầu thì nó còn được gọi là mức

độ đô thị hóa, còn theo cách thứ hai, nó có tên là tốc độ đô thị hóa.”

Từ các khái niệm ở trên ta có thể hiểu Đô thị hóa là quá trình hình thành

và phát triển các thành phố mà ở đó không chỉ là sự gia tăng số lượng và quy môcác thành phố về diện tích cũng như dân số, mà còn là sự phát triển về cả chấtlượng đô thị được đánh giá bởi vai trò kinh tế, chính trị và văn hóa của các thànhphố cũng như môi trường sống đô thị, phong cách và lối sống đô thị…

1.1.1.2 Đặc trưng của đô thị hóa

Trang 5

Đô thị hóa bao gồm nhiều đặc trưng nhưng ta có thể thấy 5 đặc trưng chủyếu, đó là:

Thứ nhất, đô thị hóa làm số lượng thành phố kể cả những thành phố lớn

có xu hướng tăng nhanh Khi đó, nếu hình thành và phát triển nhiều thành phốgần nhau về mặt địa lý, liên quan chặt chẽ với nhau do sự phân công lao động đãtạo nên các vùng đô thị Vùng đô thị thường là vùng bao gồm một vài thành phốlớn, xung quanh là các thành phố vệ tinh

Thứ hai, quy mô dân số tập trung trong mỗi ngày càng lớn

Thứ ba, di dân từ nông thôn ra thành phố với cường độ ngày càng cao làmdân số thành thị tăng nhanh, thay đổi tương quan dân số thành thị và nông thôn

Thứ tư, đặc điểm đô thị hóa ở các nước có trình độ phát triển khác nhau làkhông giống nhau Đô thị hóa theo “chiều rộng”, thường thấy ở những nướcđang phát triển, tức là số lượng dân cư đô thị tăng lên và đang gây ra nhiều khókhăn cho đô thị như vấn đề thất nghiệp, đói nghèo, bất bình đẳng, ô nhiễm môitrường và tệ nạn xã hội Đối với các nước phát triển, đô thị hóa chủ yếu diễn ratheo “chiều sâu”, đó là việc ngày càng nâng cao chất lượng cuộc sống của dân

cư ở các đô thị

1.1.1.3 Tác động của đô thị hóa đối với sự phát triển kinh tế-xã hội

Đô thị hóa một mặt góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội ngày càng pháttriển, mặt khác nếu đô thị hóa quá nhanh lại tạo ra những nhân tố cản trở, bất lợicho quá trình phát triển kinh tế - xã hội

Những tác động tích cực của đô thị hóa:

 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại:

Đô thị hóa là quá trình tập trung dân cư ngày càng đông tại các khu đô thị,đòi hỏi phải có sự mở rộng quy mô đô thị Điều này làm cho diện tích đất nôngnghiệp ngày càng bị thu hẹp Vì thế chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệpsang công nghiệp là điều tất yếu

Bên cạnh đó, cùng với quá trình đô thị hóa, các trung tâm kinh tế, các khucông nghiệp tập trung với quy mô lớn dẫn đến sự phát triển ngày càng cao của

Trang 6

khu vực công nghiệp Các khu công nghiệp, các nhà máy cần có một kết cấu hạtần dịch vụ, giao thông vận tải, hệ thống thông tin liên lạc, phân phối, tài chính,bảo hiểm … rất rộng lớn Các dịch vụ này cần phát triển rộng rãi để tạo điềukiện thuận lợi cho sự phát triển của các khu công nghiệp Thêm vào đó, một sốdịch vụ mà trước đây được thực hiện bởi chính nội bộ các doanh nghiệp như laurửa, xử lý thông tin, quảng cáo… thì nay được đưa ra ký kết thực hiện với cácdoanh nghiệp trong khu vực dịch vụ Tất cả những yêu cầu thay đổi trên đã dẫnđến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, làm tăng tỷ trọng của khu vực dịch vụ.

Đối với một số ngành của nông thôn còn tồn tại trong các đô thị , tính chất

đô thị hóa đã tạo nên sắc thái đặc trưng mới, đặt ra những yêu cầu mới cho sựphát triển của chúng Các sản phẩm nông nghiệp phải đảm bảo yêu cầu sạch và

có chất lượng cao, không gây ảnh hưởng đến môi trường sinh thái

 Nâng cao thu nhập và gia tăng GDP:

Các vùng đô thị được coi là điểm trung tâm, là động lực cho sự chuyểnbiến kinh tế và khuyêch tán ra các vùng phụ cận theo quy mô và trật tự nhấtđịnh Các vùng đô thị vừa đảm nhận chức năng hợp tác và hội nhập quốc tế, vừađảm nhận vai trò tiếp nhận thông tin, vốn đầu tư, các thành tựu khoa học vàcông nghệ cả trong và ngoài nước Những cơ hội kinh tế ở các khu vực đô thị đãthu hút ngày càng nhiều người sản xuất cũng như dân cư di dân từ nông thôn rathành thị Sự gia tăng dân số đô thị làm tăng nhu cầu tiêu dùng, từ đó mở rộngcác ngành sản xuất hiện có, phát triển các ngành nghề mới, tăng nhu cầu sảnphẩm dịch vụ… làm tăng quy mô của nền kinh tế Với quy mô sản xuất, diệntích, dân số lớn và không ngừng gia tăng Sự tập trung lớn các năng lực sảnxuất, các đô thị có khả năng cung cấp một khối lượng đáng kể các sản phẩmcông nghiệp và dịch vụ với chất lượng tốt, đáp ứng nhu cầu không chỉ của các

đô thị mà của cả trong nước và xuất khẩu Có thể nói, các khu vực đô thị là độnglực thúc đẩy tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội, và có đóng góp quan trọngvào việc tăng giá trị xuất khẩu của cả nước

 Nâng cao năng suất lao động, trình độ lao động:

Trang 7

Các đô thị là các trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, là nơi tiếp nhận cácthành tựu khoa học kỹ thuật Cùng với quá trình đô thị hóa, cơ sở vật chất hạtầng kỹ thuật ngày càng phát triển, máy móc thiết bị được hiện đại hóa, trình độquản lý tổ chức sản xuất được nâng cao, điều kiện làm việc được cải thiện… tạicác khu công nghiệp Để đáp ứng yêu cầu của quá trình phát triển sản xuất đòihỏi lao động phải có trình độ cao.

Các đô thị thường là nơi tập trung số lượng lớn các cơ sở đào tạo và khoahọc, giữ vai trò đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước, góp phầntừng bước nâng cao chất lượng nguồn lao động cho nền kinh tế Bên cạnh đó,các đô thị cũng là nơi có ưu thế thu hút ngày càng nhiều nhân lực có chất lượngcao Trình độ của người lao động kết hợp với với những ứng dụng khoa học kỹthuật tiên tiến, các trang thiết bị hiện đại sẽ góp phần nâng cao năng suất laođộng không chỉ cho khu vực đô thị mà cho toàn bộ nền kinh tế

Tại các đô thị đã dần dần hình thành đội ngũ lao động và cán bộ quản lý

có trình độ và tác phong lao động công nghiệp hiện đại Tay nghề của người laođộng cùng với các kinh nghiệm quản trị kinh doanh … được tiếp tục lan tỏasang các địa phương khác trên phạm vi cả nước thông qua việc phát triển các chinhánh, các cơ sở sản xuất kinh doanh đặt tại các địa phương đó, gốp phần từngbước nâng cao chất lượng lao động, hiệu quả quản lý kinh doanh, từ đó nâng caonăng suất của các vùng kém phát triển nói riêng, và của toàn bộ nền kinh tế nóichung

Những tác động tiêu cựccủa đô thị hóa:

Bên cạnh những tác động tích cực mà đô thị hóa mang lại thì các đô thịcũng là nguyên nhân chính gây ảnh hưởng đáng kể đến môi trường và tàinguyên thiên nhiên, đến cân bằng sinh thái Tài nguyên đất bị khai thác triệt đểcho xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất, bên cạnh đó là ô nhiễm cácchất thải công nghiệp và chất thải sinh hoạt, giảm diện tích cây xanh và mặtnước gây ra ngập úng; bùng nổ giao thông cơ giới, tắc nghẽn giao thông tại cáckhu đô thị đang là vấn đề bức xúc hiện nay

Trang 8

Đô thị là những vùng kinh tế - xã hội phát triển, các cơ sở vật chất, kỹthuật hạ tầng phục vụ cho nhu cầu vật chất và tinh thần của con người khá đầy

đủ, hiện đại và đa dạng Vì vậy, có thể nói đô thị là nơi có điều kiện sống và làmviệc thuận lợi hơn khu vực nông thôn Mật khác, cùng với sự phát triển kinh tế -

xã hội, các điều kiện này (nơi vui chơi giải trí, học tập… ) ngày càng phát triển,làm cho trình độ văn hóa, mức sống của con người tại các thành phố ngày càngtăng, từ đó tạo khoảng cách ngày càng lớn giữa thành thị và nông thôn

Mức sống, thu nhập tại các thành phố lớn, các khu đô thị cao hơn cácvùng nông thôn đã tạo ra lực hút di dân từ nông thôn ra thành thị với hy vọngtìm được công việc có thu nhập cao hoặc nâng cao mức sống Tốc độ tăng dân

số và lao động đô thị, đặc biệt là tăng cơ học do dòng di dân ồ ạt gây ra sự quátải đối với các đô thị.Việc tập trung quá đông dân cư tại các vùng đô thị kéo theonhững yêu cầu mở rộng các cơ sở vật chất hạ tầng kỹ thuật phục vụ nhu cầu pháttriển của con người như: nhà ở, trường hoc, thức ăn, việc làm, các dịch vụ xãhội, giao thông vận tải… trong khi đó, sự phát triển của các đô thị không thể đápứng hết những nhu cầu này của con người Từ đó nảy sinh một loạt những vấn

đề bất ổn xã hội như: vấn đề nghèo đói, thất nghiệp, khan hiếm nguồn nước, ônhiễm môi trường, bênh dịch và tệ nạn xã hội… gia tăng

Vấn đề về quản lý hành chính: Đô thị hóa theo chiều rộng dẫn đến sựbiến động liên tục về ranh giới các đơn vị hành chính, gây khó khăn đối với bộmáy quản lý đô thị vẫn còn nhỏ yếu

1.1.1.4 Tác động của đô thị hóa đến lao động, việc làm

Tác động tích cực:

- Chuyển dịch cơ cấu lao động:

Đô thị hóa là quá trình tạo ra cuộc cách mạng về phân công lao động xãhội, phát triển công nghiệp và dịch vụ, tạo thêm nhiều ngành nghề mới Từ đógóp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và việc làm từ các hoạt động nông nghiệpsang các hoạt động công nghiệp, thương mại và dịch vụ

Trang 9

- Sự phát triển của các đô thị đã tạo ra một số lượng lớn việc làm cho laođộng tại các đô thị, đồng thời cũng giải quyết việc làm cho lực lượng lao độngnông nhàn ở các vùng nông thôn Ngoài số lao động làm việc chính thức tại các

cơ sở sản xuất kinh doanh, còn phải kể đến một lực lượng lớn lao động làm việctrong các khu vực phi chính thức, các ngành xây dựng cơ bản, dịch vụ phục vụcho sự phát triển các đô thị này

- Quá trình đô thị hóa đi cùng với CNH – HĐH làm cho năng suất laođộng cao hơn, tăng thu nhập, đồng thời cũng đòi hỏi sự lựa chọn lao động kỹhơn, yêu cầu lực lượng lao động có trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kỹthuật cao hơn Do đó, tự nó sẽ hướng một bộ phận lớn dân số vào các chươngtrình giáo dục đào tạo chuyên môn nghiệp vụ Trong tương lai, chất lượng độingũ lao động được cải thiện, lao động có chuyên môn, có tri thức tăng và laođộng phổ thông có xu hướng giảm đi

Tác động tiêu cực:

- Đô thị hóa kéo theo việc thu hồi đất nông nghiệp phục vụ xây dựng cơ

sở hạ tầng kỹ thuật, xây dựng các khu công nghiệp, các công trình công cộng tạikhu đô thị Từ đó dẫn tới một số lượng đáng kể lao động thuộc diện bị thu hồiđất nông nghiệp lâm vào tình trạng mất việc làm do mất đất sản xuất

- Đô thị thường là trung tâm giáo dục, văn hóa, đồng thời cũng là nơi có

cơ sở hạ tầng tốt hơn cả, do vậy các khu công nghiệp, thương mại, ngân hàng,

cơ quan lãnh đạo… đều tập trung ở đô thị Quá trình đô thị hóa do đó thu hútđược nhiều lao động từ các địa phương có trình độ có trình độ phát triển thấphơn, đặc biệt là dòng di dân từ nông thôn ra thành thị với mong muốn tìm đượcviệc làm có thu nhập cao và nâng cao mức sống Việc bùng nổ dân số đô thị làmgia tăng tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động, cùng với lượng lao động di dân rathành thị đã tạo nên sức ép rất lớn về việc làm cho đô thị Trong khi đó, số lượngviệc làm được tạo ra tại các khu đô thị không thể đáp ứng hết nhu cầu của ngườilao động, đây là nguyên nhân gây ra tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm với

tỷ lệ khá cao tại các khu đô thị

Trang 10

- Cùng với quá trình đô thị hóa, trong các khu công nghiệp trình độ tổchức sản xuất ngày càng được nâng cao, ứng dụng phổ biến những thành tựukhoa học kỹ thuật tiên tiến, cải tiến máy móc, trang thiết bị Quá trình sản xuấtcông nghiệp cũng đòi hỏi khắt khe đối với người lao động Do đó, tuy cơ hộiviệc làm có nhiều, nhưng để có được công việc và thu nhập ổn định lâu dài lạirất khó khăn.

Như vậy, một hoạt động được coi là việc làm khi nó thỏa mãn hai điềukiện, đó là: Thứ nhất, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho người laođộng và cho các thành viên trong gia đình; Thứ hai, hoạt động đó không bị phápluật cấm Hai điều kiện này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, đó là điều kiệncần và đủ để một hoạt động được thừa nhận là việc làm Mọi hoạt động nào đónếu chỉ thỏa mãn một điều kiện ở trên đều không được công nhận là việc làm, ví

dụ, hoạt động mại dâm, buôn bán hêrôin, trộm cắp… tuy tạo ra thu nhập nhưnglại phi pháp; hoặc là hoạt động nội trợ trong chính gia đình mình tuy có ích vàhợp pháp nhưng lại không được trả công thì vẫn không được thừa nhận là việclàm

Tuy nhiên, khái niệm nêu trên còn nhiều hạn chế Thứ nhất, tùy thuộc vàoluật pháp và thể chế của từng quốc gia mà tính hộp pháp của một hoạt động cóđược thừa nhận hay không Ví dụ, theo luật pháp của Thái Lan hoặc Philippinesthì hoạt động mại dâm của phụ nữ được thừa nhận là việc làm vì nó được luậtpháp các nước này bảo hộ và quản lý, được Bộ Y tế và các cơ quan quản lý sứckhỏe theo dõi, kiểm tra sức khỏe định kỳ và cấp giấy phép hành nghề Tuy

Trang 11

nhiên, theo luật pháp Việt Nam thì hoạt động mại dâm của phụ nữ bị coi là phipháp và không được thừa nhận là việc làm Thứ hai, có những hoạt động tuykhông tạo ra thu nhập nhưng lại có ích và cần thiết mà không được thừa nhận làviệc làm, ví dụ, công việc nội trợ của người phụ nữ trong chính gia đình mìnhtuy không tạo ra thu nhập nhưng góp phần giảm chi tiêu cho gia đình thay vìthuê người làm công Rõ ràng, trong trường hợp này nếu người phụ nữ đó đảmnhận một công việc bên ngoài xã hội và được trả công thì sẽ được thừa nhận làviệc làm Như vậy, ngay trong bản thân khái niệm việc làm theo Bộ luật Laođộng đã cho thấy sự bất bình đẳng trong đối xử với lao động nữ.

Trong đề tài này tôi đồng tình với khái niệm: “Việc làm là phạm trù để chỉtrạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệusản xuất, công nghệ… ) để sử dụng sức lao động đó”2 Trạng thái phù hợp đóđược thể hiện qua công thức:

∑VL = C/VTrong đó: C là chi phí ban đầu như nhà xưởng, máy móc, trang thiết bị,nguyên vật liệu…

V là chi phí về sức lao động

Quan hệ tỷ lệ biểu hiện sự kết hợp giữa C và V phải phù hợp với trình độcông nghệ sản xuất Khi trình độ công nghệ thay đổi, như theo hướng công nghệ

sử dụng nhiều vốn hoặc theo hướng công nghệ sử dụng nhiều sức lao động, thì

sự kết hợp giữa C và V cũng thay đổi theo Ví dụ, trong điều kiện kỹ thuật thủcông, với một đơn vị chi phí ban đầu về tư liệu sản xuất, về vốn đòi hỏi kết hợpvới nhiều đơn vị sức lao động (công nghệ sử dụng nhiều lao động) Ngược lại,trong điều kiện tự động hóa, chi phí về vốn, công nghệ, thiết bị rất cao nhưngchỉ đòi hỏi một tỷ lệ thấp sức lao động (công nghệ sử dụng nhiều vốn)

Trong điều kiện khoa học kỹ thuật phát triển như hiện nay, việc ứng dụngnhững thành tựu khoa học công nghệ vào thực tiễn sản xuất ngày càng phổ biến

và mạnh mẽ, thì quan hệ tỷ lệ giữa C và V thường xuyên biến đổi Từ công thứcnêu trên ta có, nếu tỷ lệ C/V = 1 cho thấy sự phù hợp giữa chi phí ban đầu và

Trang 12

sức lao động, nghĩa là mọi người có khả năng lao động và có nhu cầu làm việcđều có việc làm Nếu tỷ lệ C/V <1 cho thấy sự không phù hợp giữa chi phí banđầu và sức lao động, lúc này là sử dụng sức lao động không hết khả năng haylãng phí sức lao động, gây ra thiếu việc làm hoặc thất nghiệp.

1.1.2.2 Thiếu việc làm

Thiếu việc làm (còn gọi là bán thất nghiệp hoặc thất nghiệp trá hình) làhiện tượng những người làm việc ít hơn mức mà mình mong muốn

Thiếu việc làm biểu hiện dưới 2 dạng : Thứ nhất, người lao động không

có đủ việc làm theo thời gian quy định trong tuần, trong tháng ; thứ hai, ngườilao động phải đang làm những công việc có thu nhập quá thấp không đảm bảocuộc sống, họ muốn làm thêm để có thêm thu nhập nhưng không tìm được việclàm khác

1.1.2.3 Thất nghiệp

Thất nghiệp là sự mất việc làm hay là sự tách rời sức lao động khỏi tư liệusản xuất, nó gắn liền với người có khả năng lao động nhưng không được sửdụng có hiệu quả

Thất nghiệp thường được phân loại như sau :

Thất nghiệp tạm thời là loại thất nghiệp phát sinh do sự di chuyển khôngngừng của con người giữa các khu vực địa lý, các công việc hay các giai đoạnkhác nhau của cuộc sống, và người lao động cần có thời gian để tìm kiếm việclàm thích hợp nhất với chuyên môn và sở thích của họ Ví dụ, học sinh, sinhviên tìm việc làm sau khi tốt nghiệp các trường, di chuyển đến nơi ở mới, hoặcphụ nữ sau khi sinh con quay lại hoạt động kinh tế

Thất nghiệp cơ cấu là thất nghiệp xuất hiện khi trình độ, tay nghề, kỹnăng làm việc của người lao động không đáp ứng được yêu cầu tuyển dụng củacác ngành nghề đang cần lao động

Thất nghiệp chu kỳ là thất nghiệp gắn với chu kỳ của ngành và của nềnkinh tế Vào giai đoạn suy thoái, mức cầu chung về lao động của ngành và của

Trang 13

nền kinh tế giảm, khi đó người lao động có nhu cầu làm việc ở mức lương thịnhhành nhưng không tìm được việc làm.

Thất nghiệp do thiếu cầu là Thất nghiệp xuất hiện khi tổng cầu giảm kéotheo giảm cầu về lao động, tuy nhiên tiền lương và giá cả chưa kịp điều chỉnh đểphục hồi mức toàn dụng lao động

Thất nghiệp thiếu thông tin là Thất nghiệp do hai bên người sử dụng laođộng và người lao động cần có thời gian để tìm kiếm, xử lý, xác nhận thông tin

để dưa ra quyết định thuê lao động hoặc làm thuê

Thất nghiệp mùa vụ là thất nghiệp thường xảy ra vào những thời kỳ nhấtđịnh trong năm do tính chất thời vụ của công việc như xây dựng, gặt hái mùamàng

1.1.2.4 Người có việc làm, người thiếu việc làm, người thất nghiệp

Người có việc làm: “gồm những người làm việc trong khoảng thời gian xác định

của cuộc điều tra kể cả lao động làm nghề giúp việc gia đình được trả công,hoặc tạm thời nghỉ việc do ốm đau, tai nạn, nghỉ lễ, nghỉ phép hoặc tạm thờinghỉ việc do thời tiết xấu” Như vậy, từ khái niệm trên ta có thể thấy, người cóviệc làm gồm hai loại : Thứ nhất là những người có việc làm và hiện đang làmviệc, thứ hai là những người có việc làm nhưng hiện đang không làm việc

Người thất nghiệp: “gồm những người trong khoảng thời gian xác định của

cuộc điều tra không có việc làm nhưng đang tích cực tìm việc làm và có nhu cầuđược làm việc Tiêu thức để xác định người thất nghiệp là đang không có việclàm, tích cực tìm việc làm và có khả năng lao động, có nhu cầu làm việc”

Người thiếu việc làm: “gồm những người trong khoảng thời gian xác định của

cuộc điều tra có tổng số giờ làm việc nhỏ hơn số giờ quy định trong tuần, trongtháng hoặc trong năm và có nhu cầu làm thêm giờ; hoặc là những người có tổng

số giờ làm việc bằng số giờ quy định trong tuần, tháng, năm nhưng có thu nhậpquá thấp nên muốn làm thêm để có thu nhập”

1.2 Cơ chế tạo việc làm

Trang 14

Tạo việc làm là “quá trình tạo ra số lượng, chất lượng tư liệu sản xuất, sốlượng và chất lượng sức lao động và các điều kiện kinh tế xã hội khác để kếthợp tư liệu sản xuất và sức lao động”

Để tạo việc làm đòi hỏi phải có sự phối hợp của nhiều cơ quan, tổ chứccùng với các cá nhân người lao động, tạo thành cơ chế tạo việc làm Cơ chế tạoviệc làm là cơ chế ba bên với sự tham gia của người lao động – người sử dụnglao động – nhà nước Mỗi bên đảm nhận một chức năng, nhiệm vụ nhất địnhsong lại có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau để cộng tác tạothành việc làm một cách có hiệu quả Suy cho cùng, nếu công tác tạo việ làm cóhiệu quả cao thì cả ba bên đều có lợi Về phía người lao động, họ có việc làm cóthể có thu nhập, ổn định cuộc sống, nâng cao vị thế của mình trong xã hội Đốivới người sử dụng lao động, tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động cũng làduy trì và mở rộng kinh doanh cho doanh nghiệp Còn đối với nhà nước, nếu laođộng được tạo việc làm đầy đủ thì sẽ giảm thất nghiệp, từ đó giảm các khoản trợcấp của chính phủ, tăng cường nguồn đầu tư vào các lĩnh vực khác, đặc biệt làlĩnh vực xây dựng các công trình phúc lợi, nâng cao xã hội về nhiều mặt

Để có được kết quả như trên cần có sự tham gia đóng góp tích cực của cácbên Trước hết, về phía người bản thân người lao động, họ mong muốn tìm đượccông việc phù hợp, có mức thu nhập cao.Muốn vậy, người lao động phải đầu tưphát triển SLĐ của mình để đáp ứng yêu cầu của nhà tuyển dụng Họ có thể tựdựa vào mình hoặc dựa vào các nguồn tài trợ từ gia đình hoặc các cá nhân, các

tổ chức xã hội bên ngoài…để có thể tham gia đào tạo, nắm vững, nâng cao mộtnghề nhưng nhất định thông qua các khóa học đào tạo, các lớp dạy nghề

Về phía người sử dụng lao động, đó là các doanh nghiệp, các tổ chức kinh

tế xã hội trong và ngoài nước, họ cần phải có thông tin đầy đủ và kịp thời về thịtrường đầu vào và thị trường đầu ra để không chỉ tạo ra chỗ làm việc mà cònphải duy trì và tăng cường chỗ làm việc cho người lao động Điều đó cũng gópphần duy trì sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Để có thể duy trì sản xuất,

mở rộng qui mô, nâng cao hiệu quả của sản xuất, người sử dụng lao động không

Trang 15

chỉ cần vốn để mua hoặc thuê nhà xưởng, công nhân, máy móc, trang thiết bị,nguyên vật liệu, nhân công, mà cần thiết phải có cả kinh nghiệm tổ chức quản

lý, khả năng vận dụng linh hoạt chính sách về lao động, việc làm của nhà nước,biết quản lý một cách khoa học và nghệ thuật để không những nâng cao sự thỏamãn của người lao động trong công việc, thu hút, giữ chân người lao động giỏi

mà vẫn đạt được mục tiêu mà doanh nghiệp đã đề ra

Về phía nhà nước, nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc tạo hànhlang pháp lý thông qua việc ban hành các luật lệ, chính sách liên quan trực tiếpđến người lao động và người sử dụng lao động, tạo môi trường pháp lý để kếthợp sức lao động với tư liệu sản xuất Nhà nước cũng có chức năng cung cấpcác thông tin về thị trương lao động một cách kịp thời để tạo cơ hội việc làm vàmong muốn nguyện vọng được lao động của người lao động gặp nhau trên thịtrường lao động đúng lúc và đúng chỗ

1.3 Những nhân tố ảnh hưởng tới tạo việc làm

1.3.1 Điều kiện tự nhiên, vốn và con người

Cầu việc làm bắt nguồn từ đòi hỏi của sản xuất, sự phát triển của nền kinh

tế Sản xuất càng tăng, qui mô ngày càng mở rộng thì cầu lao động càng lớn, do

đó khả năng tạo việc làm ngày càng tăng Nhưng muốn mở rộng sản xuất, pháttriển kinh tế cần phải dựa vào những tiền đề vật chất, đó là nhân tố tiên quyếttrước hết ảnh hưởng đến tạo việc làm Trong những tiền đề vật chất, đầu tiênphải kể đến điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên của một quốc gia, mộtvùng, một địa phương Chúng được hình thành một cách tự nhiên, ngoài ý muốnchủ quan của con người Ví dụ như điều kiện khí hậu, độ màu mỡ của đất đai,diện tích đất canh tác bình quân đầu người, trữ lượng tài nguyên thiên nhiên…của địa phương Trên thế giới, có những nước rất giàu tài nguyên, điều kiện tựnhiên thuận lợi cho phát triển các ngành sản xuất, thu hút được người lao động.Tuy nhiên, lại có những nước thiên nhiên không ưu đãi, tài nguyên thiên nhiênhạn hẹp, thường xuyên xảy ra thiên tai, động đất, bão lụt…gây ảnh hưởng bất lợi

Trang 16

cho sản xuất Chính vì vậy, mỗi quốc gia, mỗi địa phương cần phải biết tận dụngcác lợi thế của mình để phát triển kinh tế, mở rộng sản xuất tạo việc làm.

Tuy nhiên, điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên nếu không đượckhai thác và sử dụng thì cũng chỉ là những vật chết Chính vì vậy, để biến cácđiều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên sẵn có trở thành nguồn nguyên vậtliệu phục vụ sản xuất và đời sống thì phải có vốn để mua công nghệ khai tháchiện đại, máy móc trang thiết bị để khai thác, chế biến chúng Trong thực tế, cónhững nước mà tài nguyên thiên nhiên rất nghèo như Nhật Bản nhưng lại cócông nghệ tiên tiến, máy móc hiện đại, phương pháp quản lý tiến bộ đã tạo rađược nhiều việc làm và việc làm có chất lượng cao

Vốn đầu tư càng tăng sẽ ngày càng mở rộng qui mô sản xuất kinh doanh.Hơn nữa, việc thay đổi công nghệ sản xuất tiên tiến, máy móc thiết bị hiện đại sẽlàm tăng năng suất lao động, chất lượng hàng hóa từ đó nâng cao sức cạnh tranhcủa hàng hóa trên thị trường Hệ quả là hoạt động sản xuất phát triển, cầu laođộng tăng

1.3.2 Nhân tố thuộc về sức lao động

Điều kiện tự nhiên, vốn và công nghệ là yếu tố vật chất quyết định qui môcủa sản xuất, từ đó tác động đến cầu lao động hay khả năng tạo việc làm Tuynhiên, để có thể đáp ứng yêu cầu lao động hay đáp ứng các đòi hỏi và yêu cầucủa người sử dụng lao động thì phải kể đến nhân tố sức lao động của người laođộng trên hai phương diện là số lượng và chất lượng lao động Đây cũng là nhân

tố có ảnh hưởng quyết định đến tạo việc làm cho người lao động trong cơ chếtạo việc làm có sự tham gia của ba bên: người lao động – người sử dụng laođộng – nhà nước Trong bối cảnh của một nước đang phát triển của Việt Namhiện nay thì số lượng lao động không phải là vấn đề lo ngại vì trên thực tế, hàngnăm số người bước vào độ tuổi lao động lớn hơn rất nhiều so với số người bước

ra khỏi độ tuổi lao động Vấn đề đáng lo ngại hiện nay là chất lượng sức laođộng của nước ta còn thấp, lao động chưa qua đào tạo còn chiếm tỉ lệ cao trong

Trang 17

lực lượng lao động Do đó, người lao động muốn tìm được việc làm và nhất làviệc làm có thu nhập cao trước hết cần thu thập các thông tin về thị trường laođộng để lựa chọn được ngành nghề phù hợp, từ đó thực hiện đầu tư vào vốn conngười có hiệu quả, chủ động tìm kiếm việc làm và nắm bắt các cơ hội việc làm.Người lao động có thể tự dựa vào điều kiện, hoàn cảnh của mình, hoặc tranh thủcác nguồn tài trợ từ gia đình, các cá nhân, các tổ chức xã hội bên ngoài để có thểtham gia học tập, đào tạo, nâng cao kiến thức, trình độ, kĩ năng cho bản thân Đócũng là những điều kiện cần thiết để duy trì việc làm

1.3.3 Cơ chế, chính sách kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến tạo việc làm

Cơ chế, chính sách kinh tế - xã hội của chính phủ quốc gia, của chínhquyền địa phương là nhân tố rất quan trọng tạo ra việc làm cho người lao động.Trong mỗi thời kì khác nhau, chính phủ quốc gia sẽ đề ra những chính sách cụthể, có thể mở rộng hay thu hẹp, ngành này, lĩnh vực này, khuyến khích pháttriển ngành khác, lĩnh vực khác, tạo hành lang pháp lý cho phát triển sản xuất.Nhóm công cụ này rất đa dạng, từ chính sách vĩ mô đến vi mô, có thể theongành, lĩnh vực, vùng…Các chính sách, cơ chế kinh tế - xã hội sẽ tác động đếncầu lao động của thị trường lao động, cầu lao động của các doanh nghiệp, từ đó

sẽ làm thay đổi cách ứng xử của người sử dụng lao động đối với người lao động,không chỉ làm thay đổi số lượng lao động thông qua cầu lao động mà còn làmthay đổi chất lượng lao động để đáp ứng các yêu cầu của nhà tuyển dụng

Một ví dụ cụ thể về việc thay đổi chính sách kinh tế ở nước ta đó là việcchuyển từ nền kinh tế KHH tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa, chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần, thay vì trước đâychỉ chú trọng phát triển kinh tế nông nghiệp, kinh tế tập thể thì hiện nay pháttriển đa dạng hóa nhiều thành phần kinh tế, trong đó có thêm thành phần kinh tế

tư nhân, thành phần kinh tế cá thể, thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.Việc kết hợp và đan xen giữa sản xuất kinh doanh qui mô lớn với qui mô vừa và

Trang 18

nhỏ, khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế đã thúc đẩy nền kinh tế pháttriển, sản xuất mở rộng, tăng cầu lao động, nâng cao khả năng tạo việc làm.

1.4 Sự cần thiết tạo việc làm cho người lao động

Tạo việc làm cho người lao động là vô cùng cần thiết, trước hết là nhằmgiảm lao động thất nghiệp cho nền kinh tế Công nghiệp hóa là xu hướng tất yếuđối với các quốc gia chậm phát triển muốn nhanh chóng thoát ra khỏi nền kinh

tế nông nghiệp lạc hậu, chuyển sang nền kinh tế công nghiệp hiện đại, năng suấtcao Trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa, việc chuyển dịch cơ cấukinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ kéo theo chuyển dịch cơ cấulao động Hơn nữa, cùng với quá trình phát triển kinh tế, nhiều ngành nghề mới,hoạt động sản xuất mới ra đời thay thế cho một số hoạt động sản xuất cũ dẫn đếnthất nghiệp phát sinh Như vậy, tạo việc làm cho người lao động trước hết nhằmgiảm lượng lao động thất nghiệp, đồng thời góp phần làm tăng sản lượng quốcdân, tăng tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, tạo điều kiện cho nền kinh tế pháttriển bền vững

Vấn đề việc làm và giải quyết việc làm là một trong những vấn đề có tínhchất toàn cầu, là mối quan tâm rất lớn không những của nước ta mà là tất cả cácnước trên thế giới Việc làm có ý nghĩa to lớn trong việc làm ra của cải vật chất

để nuôi sống con người Tạo việc làm cho người lao động giúp họ có thu nhập,góp phần xóa đói giảm nghèo, tạo điều kiện thỏa mãn các nhu cầu chính đáng vềvật chất và tinh thần của người lao động, ngày một nâng cao chất lượng cuộcsống, nâng cao vị thế của người lao động trong gia đình và ngoài xã hội

Tạo việc làm cho lao động không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn có

ý nghĩa về mặt xã hội Nếu không có việc làm, thất nghiệp sẽ tăng, đó là nguồngốc của các tệ nạn xã hội như: trộm cắp, cờ bạc, ma túy…Như vậy, tạo việc làmkhông những góp phần đẩy lùi được các tệ nạn xã hội mà còn có thể kích thíchngười lao động sáng tạo, thúc đẩy sản xuất, thúc đẩy xã hội phát triển, đảm bảocông bằng xã hội

Trang 19

Vấn đề tạo việc làm cho lao động là vấn đề cần thiết trong mọi thời kỳ,đặc biệt đối với đối tượng lao động trong diện giải tỏa đất nông nghiệp do quátrình đô thị hóa thì vấn đề này càng trở nên bức thiết vì họ là những người cótrình độ chuyên môn thấp, khả năng tìm việc làm và chuyển đổi nghề nghiệpthường thấp hơn so với các đối tượng khác.

Trong quá trình đô thị hóa, nhà nước thu hồi đất nông nghiệp để xây dựngcác công trình đô thị phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa Do

đó, hàng nghìn hộ nông dân kéo theo hàng vạn nhân khẩu nông nghiệp mất tưliệu sản xuất dẫn tới mất việc làm, cuộc sống và thu nhập của họ gặp không ítkhó khăn Một bộ phận nông dân có kiến thức, có trình độ đã chủ động mởmang các ngành nghề, dịch vụ, phát triển tiểu thủ công nghiệp… tạo việc làm và

có cuộc sống ổn định Song bên cạnh đó còn rất nhiều hộ còn lúng túng trongchuyển dịch cơ cấu kinh tế do họ không bắt kịp với cơ chế thị trường, trình độthấp, không có nghề, hay tuổi đời cao…họ gặp phải nhiều khó khăn trong việctìm và tạo việc làm mới Do hạn chế về văn hóa và nhận thức, nếu như lực lượngnày không được tạo việc làm, không có thu nhập để trang trải cuộc sống, cộngvới việc có nhiều thời gian rảnh rỗi thì họ dễ bị lôi kéo, dụ dỗ vào các hoạt độngphi pháp như trộm cắp, cướp giật, ma túy, cờ bạc…Vì vậy, tạo việc làm chonhững lao động này cũng chính là biện pháp làm giảm tệ nạn xã hội, góp phầnđảm bảo trật tự an ninh xã hội, môi trường sống xã hội sẽ trở nên tốt hơn

Như vậy, vấn đề tạo việc làm cho người lao động nói chung, cho ngườilao động bị thu hồi đất nông nghiệp nói riêng là vô cùng cần thiết vì nó khôngchỉ làm cho nền kinh tế tăng trưởng và phát triển, mà còn góp phần làm ổn định

xã hội, giảm thất nghiệp và các tệ nạn xã hội, đồng thời cũng góp phần chuyểndịch cơ cấu lao động theo đúng hướng đó là tăng tỉ trọng lao động trong ngànhcông nghiệp, dịch vụ, giảm tỉ trọng lao động trong ngành nông nghiệp

Trang 21

Chương II: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VIỆC LÀM VÀ TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG THUỘC DIỆN BỊ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP DO QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA Ở QUẬN

CẦU GIẤY GIAI ĐOẠN 1998-2008.

2.1 Những đặc điểm của Quận ảnh hưởng đến tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp do quá trình đô thị hóa

2.1.1 Khái quát chung về sự hình thành và phát triển của quận Cầu Giấy

Quận Cầu Giấy thành phố Hà Nội là một đơn vị hành chính mới đượcthành lập theo Nghị định 74/CP ngày 21/11/1996 của Chính phủ, và chính thức

đi vào hoạt động ngày 1/9/1997, tính đến nay đã được hơn 10 năm Quận CầuGiấy khi mới thành lập bao gồm 4 thị trấn (Nghĩa Đô, Nghĩa Tân, Mai Dịch,Cầu Giấy) và 3 xã (Dịch Vọng, Yên Hòa, Trung Hòa) tách ra từ huyện Từ Liêm.Nay tất cả gọi là phường, trị trấn Cầu Giấy được chuyển tên thành phường QuanHoa Năm 2005, phường Dịch Vọng Hậu được thành lập trên cơ sở tách từ haiphường Quan Hoa và Dịch Vọng Từ đó đến nay, quận Cầu Giấy có 8 phường

Thời gian hơn 10 năm – chặng đường tuy ngắn ngủi so với chiều dài lịch

sử của Thăng Long – Hà Nội nhưng quận Cầu Giấy đã có rất nhiều đổi thay.Năm 1998, một năm sau khi quận đi vào hoạt động, quận mới chỉ là một vùngđất ven nội, sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, kinh tế còn nghèo nàn, cơ sở hạtầng yếu kém, giờ đây vùng Cầu Giấy trở thành quận nội thành với kết cấu hạtầng đô thị ngày càng văn minh – hiện đại; kinh tế phát triển mạnh; văn hóa, xãhội có nhiều tiến bộ; đời sống vật chất, tinh thần của người dân được cải thiện rõrệt; an ninh quốc phòng được đảm bảo; công tác xây dựng Đảng và hệ thốngchính trị được tăng cường Năm 2002, nhân dân và cán bộ Quận Cầu Giấy đượcnhà nước trao tặng huân chương lao động hạng ba Năm 2006, quận là đơn vịdẫn đầu phong trào thi đua, được nhà nước trao tặng huân chương lao động hạngnhì Mọi người dân quận Cầu Giấy đều vô cùng tự hào về những kết quả đạtđược trong công cuộc đổi mới

Trang 22

2.1.2 Đặc điểm của Quận ảnh hưởng tới tạo việc làm cho người lao động trong diện thu hồi đất nông nghiệp do quá trình đô thị hóa

2.1.2.1 Đặc điểm tự nhiên

 Vị trí địa lý

Quận Cầu Giấy có vị trí địa lý rất quan trọng ở phía Tây-Tây Bắc thủ đô

Hà Nội, phía Bắc giáp quận Tây Hồ và huyện Từ Liêm, phía đông giáp quậnĐống Đa và quận Ba Đình, phía nam giáp quận Thanh Xuân, phía tây giáphuyện Từ Liêm Quận nằm ở cửa ngõ phía tây của thủ đô Hà Nội nhưng liền kềvới quận trung tâm, một trong những khu phát triển chính của thành phố Hà Nội,cách trung tâm thành phố chừng 6 km Trong quận có sông Tô Lịch chạy dọctheo chiều dài phía Đông của quận, có các trục đường giao thông vành đai nốithủ đô Hà Nội với sân bay quốc tế Nội Bài và trục đường chính nối trung tâm

Hà Nội với chuỗi đô thị vệ tinh Hòa Lạc – Sơn Tây – Xuân Mai (đường TrầnDuy Hưng, đường Cầu Giấy – Xuân Thủy – 32) Có thể nói, Quận Cầu Giấy lànơi đầu mối giao thông, có nhiều lợi thế giao lưu kinh tế, lưu thông hàng hóa vàtiếp nhận những thành tựu khoa học – kỹ thuật, đó là điều kiện thuận lợi để pháttriển kinh tế - xã hội, đặc biệt các ngành thương mại dịch vụ, tạo ra nhiều việclàm cho người lao động trong Quận

Quận Cầu Giấy nằm trong điểm giao nhau của trục phát triển công nghiệp

và các vành đai phát triển công nghiệp của toàn thành phố Hà Nội.Phân bốkhông gian công nghiệp của Hà Nội được bố trí theo hai hướng, đó là theo cáctrục chính và theo các vành đai Trong đó, trục phát triển công nghiệp xuyên quaquận Cầu Giấy là trục Mai Dịch – Cầu Diễn – Sơn Tây, vành đai công nghiệpqua Quận là hệ thống các khu cụm công nghiệp theo đường vành đai 3 (PhápVân - Thượng Đình – Mai Dịch – Nam Thăng Long – Bắc Thăng Long – YênViên…) Sự phát triển của hệ thống giao thông cùng với sự phân bố không giancông nghiệp nói trên tạo cho Quận có cơ hội và điều kiện thuận lợi trong việclựa chọn và tổ chức, phát triển sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp vàdịch vụ trên địa bàn, thu hút ngày càng nhiều lao động

Trang 23

Quận Cầu Giấy tiếp giáp với quận Tây Hồ, quận Ba Đình và huyện TừLiêm, đó là những nơi có nhiều tiềm năng du lịch Những lợi thế của Quận sẽtạo thành một quần thể du lịch thu hút khách du lịch không chỉ trong nước mà cảngoài nước Từ đó, thu hút được nhiều lao động hoạt động trong các ngành dịch

vụ phục vụ khách du lịch

Quận Cầu Giấy là trung tâm văn hóa, khoa học kỹ thuật, là nơi tập trungnhiều các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, các viện nghiêncứu, từ đó góp phần nâng cao chất lượng của đội ngũ lao động của quận

Như vậym quận Cầu Giấy có vị trí địa lý quan trọng, tạo ra nhiều điềukiện thuận lợi để phát triển các ngành thương mại, dịch vụ, công nghiệp và tiểuthủ công nghiệp, từ đó phát triển kinh tế - xã hội của quận, giải quyết việc làmcho một lực lượng lớn lao động không những trong quận mà của nhiều địaphương khác

 Đất đai, địa hình

Cầu Giấy là quận có diện tích đất tự nhiên đứng thứ 4 trong số 9 quận nộithành (12,045 km2) Quận có địa hình tương đối bằng phẳng Về địa chất côngtrình, đất của quận thuận lợi cho xây dựng đô thị Cùng với quá trình đô thị hóanhanh trong những năm qua, quận đã triển khai nhiều dự án lớn trên các lĩnhvực kinh tế - xã hội, xây dựng nhà ở và các công trình hạ tầng cơ sở kỹ thuật đôthị trên địa bàn quận Theo đó, thúc đẩy phát triển các ngành xây dựng cơ bản vàcác ngành công nghiệp, dịch vụ phục vụ xây dựng, thu hút được nhiều lao động

Để phục vụ cho quá trình đô thị hóa ở quận Cầu GIấy trong những nămqua, Nhà nước đã tiến hành thu hồi đất nông nghiệp lam cho diện tích đất nôngnghiệp ngày càng giảm mạnh Năm 1998 toàn quận có 404,09 ha đất nôngnghiệp thì đến năm 2007 toàn quận chỉ còn 53 ha; đến năm 2008 diện tích đấtnông nghiệp còn lại là 40 ha Việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất nôngnghiệp phục vụ cho xây dựng cơ sở hạ tầng và các công trình đô thị đã làm chohàng nghìn lao động trong lĩnh vực nông nghiệp và một số ngành kinh doanh

Trang 24

dịch vụ và sản xuất bị mất việc làm do mất đất sản xuất Đời sống và việc làmcủa người lao động thuộc diện thu hồi đất nông nghiệp gặp rất nhiều khó khăn

 Tài nguyên thiên nhiên

Tài nguyên du lịch là tiềm năng phát triển của quận Trên địa bàn quận cónhiều di tích lịch sử - văn hóa và cách mạng kháng chiến Có thể kể đến như:Tại Nghĩa Đô có đền thờ Tướng quân Trần Công Tích và miếu thờ hai chị em họ

Lê có công giúp vua Lê Đai Hành phá quân Tống (năm 981); chùa Dụ Ân ở Bái

Ân (Nghĩa Đô) là nơi tu hành và dạy học của vị tôn thất nhà Lý là Lý Công Uẩn;nhà thờ Tổ nghề giấy sắc (năm 2006 Bộ VHTT đã công nhận là di tích cấp quốcgia) Ở Dịch Vọng Tiền (nay thuộc địa phận phường Quan Hoa) có chùa HoaLăng thờ mẹ của thiền sư Từ Đạo Hạnh, người đã dạy dố, nuôi dưỡng vua LýThái Tổ (tức Lý Công Uẩn) Ở phường DỊch Vọng có chùa Hà là di tích lịch sửvăn hóa là di tích cách mạng; chùa Thánh Chúa, một di tích lịch sử văn hóađược xây dựng từ thời nhà Lý…

Tiềm nămg du lịch hứa hẹn thu hút một lượng lớn khách tham quan dulịch và phát triển các dịch vụ phục vụ kèm theo Từ đó sẽ tạo nhiều việc làm mớicho lao động trong quận tham gia cung cấp hàng hóa và dịch vụ phục vụ khách

88.62949,74

96.80550,95

98.95649,683.Mật độ dân số Người/km2 12.456 14.795 15.774 16.537

Trang 25

Nguồn: Phòng thống kê quận Cầu Giấy

Theo số liệu thống kê từ bảng trên,năm 2002 dân số quận là 150029người, đến năm 2007 dân số TB là 190002 người, tăng 6,6% so với năm 2006.Tốc độ tăng dân số giai đoạn 2002 – 2007 đạt mức trung bình 5,8%/năm, đếnnăm 2008, tốc độ tăng dân số của quận có giảm còn 4,53% và dân số TB củaquận là 199187 người là do lượng dân nhập cư vào quận giảm so với những nămtrước vì ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng kinh tế 2008 Tốc độ tăng dân số củaquận Cầu Giấy là tương đối cao, trong đó chủ yếu là tăng cơ học, bình quân giaiđoạn 2002 – 2006 đạt 4,8%/năm, đến năm 2008 tỉ lệ tăng cơ học giảm còn3,728% Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên của quận biến động thất thường, bình quântrên 1%/năm

Dân số của quận liên tục tăng qua các năm làm cho mật độ dân số cũngtăng lên nhanh chóng Năm 2007, mật độ dân số toàn quận là 15774 người/km2,gấp 1,33 lần mức trung bình của khu vực nội thành Hà Nội và gấp 4,3 lần mứctrung bình toàn thành phố Hà Nội Điều đó tạo áp lực rất lớn cho quận trongviệc đảm bảo nhu cầu về kết cấu hạ tầng kinh tế (như giao thông, điện, nước…),kết cấu hạ tầng xã hội (nhà ở, bệnh viện, trường học…) và xử lý các vấn đề xãhội, môi trường

Trong tổng dân số toàn quận, không có sự chênh lệch lớn về tỉ lệ dân số

nữ và nam Năm 2002, dân số nữ của quận là 74367 người, chiếm 49,57% dân

số toàn quận Đến năm 2007, tỉ lệ nữ trong tổng dân số tăng lên 50,95% và đếnnăm 2008, con số này giảm xuống còn 49,68%

Trong tổng dân số toàn quận thì số người trong độ tuổi lao động chiếm tỉ

lệ khá cao và liên tục tăng qua các năm, ta có thể thấy qua bảng sau

Trang 26

Bảng 2.2: Biến động lao động quận Cầu Giấy

1 Dân số TB Người 150.029 178.200 190.002 199.1872

Số người trong độ

tuổi lao động Người 105.433 136.910 148.440 149.948

Tỉ lệ % so với dân số % 70,28 76,83 78,12 75,283

Nguồn: Phòng Lao động, thương binh vầ Xã hội, quận Cầu Giấy

Theo số liệu từ bảng trên ta thấy, số người trong độ tuổi lao động củaquận tăng từ 105433 người năm 2002 lên 148440 người năm 2007, đến năm

2008 con số này là 149948 người Tuy nhiên, tốc độ tăng số người trong độ tuổilao động năm 2008 giảm so với các năm trước, đó là do ảnh hưởng của cuộckhủng hoảng kinh tế 2008 làm cho lao động di cư đến địa bàn quận giảm đáng

kể Số người trong độ tuổi lao động chiếm tỉ lệ khá cao trong tổng dân số toànquận (trên 70%)

Nguồn lao động của quận cũng rất dồi dào và tăng nhanh qua các năm.Năm 2002, nguồn lao động của quận là 99476 người chiếm tỉ lệ 66,30% thì đếnnăm 2006 tăng lên là 129763 người chiếm 72,82% dân số và đến năm 2007,nguồn lao động đã là 141000 người chiếm 74,21% dân số Trong cơ cấu nguồnlao động, còn một số lượng khá lớn học sinh phổ thông, sinh viên các trường đạihọc, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp…đến tuổi lao động còn đang đi học.Điều đó làm cho lực lượng lao động của quận nhỏ hơn nguồn lao động của quận.Qui mô lực lượng lao động của quận trong thời gian qua liên tục tăng, từ 96933

Trang 27

người chiếm 64,61% dân số năm 2002 lên 135235 người chiếm tỉ lệ 71,18% dân

số năm 2007 Việc gia tăng lực lượng lao động chủ yếu từ các nguồn:

- Số người bước vào độ tuổi lao động trên địa bàn khá cao

- Số lao động chuyển đến Cầu Giấy từ các địa phương khác ngoài HàNội và từ các địa bàn của Hà Nội với nhiều lý do: thay đổi địa bànkinh doanh, chuyển chỗ ở, chuyển công tác, tìm việc làm mới…

- Sinh viên tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng ở lại tìm việc và làmviệc trên địa bàn Hà Nội và quận Cầu Giấy

Tóm lại, dân số và lao động tăng nhanh qua các năm đã và đang đặt ranhững vấn đề về bố trí lao động, tạo việc làm và quản lý nguồn lao động đang

có xu hướng gia tăng dưới sự tác động của quá trình đô thị hóa

 Về chất lượng:

Chất lượng lao động của quận Cầu Giấy có thể nói là khá cao Trước hết,

về trình độ học vấn, theo số liệu thống kê từ bảng dưới ta thấy có sự tiến bộ rõrệt qua các năm:

Bảng 2.3: Trình độ học vấn của lực lượng lao động quận Cầu Giấy

qua các năm

Đơn vị tính: %

Nguồn: Phòng Lao động, thương binh và Xã hội, quận Cầu Giấy

Nét nổi bật về trình độ học vấn của lực lượng lao động quận Cầu Giấy làkhông còn tỉ lệ lao động mù chữ và chưa tốt nghiệp tiểu học Trong lực lượnglao động, tỉ lệ lao động tốt nghiệp tiểu học chiếm tỉ lệ nhỏ và giảm dần qua cácnăm, từ 9,31% năm 2002 xuống còn 9,25% năm 2004 và chỉ còn 7,17% năm

2007 Số lao động này chủ yếu là những lao động thuần nông nghiệp trước đây,

Trang 28

thường tập trung ở ba phường chuyển đổi từ xã thuộc huyện Từ Liêm cũ, đó làDịch Vọng, Yên Hòa và Trung Hòa.

Trong lực lượng lao động của quận đa số lao độn tốt nghiệp cấp hai trởlên, tuy nhiên tỉ lệ này cũng giảm dần qua các năm và thay vào đó là tỉ lệ laođộng tốt nghiệp trung học phổ thông tăng lên nhanh chóng Năm 2002, tỉ lệ laođộng tốt nghiệp trung học cơ sở là 54,99%, tốt nghiệp trung học phổ thông là35,7%; đến năm 2007, con số này tương ứng là 48,51% và 44,32% Nhìn chung,cùng với quá trình đô thị hóa và do đời sống và thu nhập của người dân đượcnâng cao, các gia đình ngày càng quan tâm đến việc học hành của con em họlàm cho trình độ học vấn của lao động quận có những bước tiến vượt bậc, tạo cơ

sở cho sự gia tăng nguồn lao động có trình độ chuyên môn kĩ thuật trong thờigian qua và trong tương lai

Về trình độ chuyên môn kĩ thuật của lực lượng lao động của quận, qua sốliệu thống kê ở bảng dưới đây tình trạng khá khả quan

Bảng 2.4: Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lực lượng lao động

quận Cầu Giấy qua các năm

Trang 29

Trong những năm qua tỉ lệ lao động được đào tạo chuyên môn kĩ thuật đã

có những tiến bộ rõ nét, trong lực lượng lao động quận tỉ lệ lao động có trình độchuyên môn kĩ thuật luôn lớn hơn tỉ lệ lao động không có chuyên môn kĩ thuật

và lao động qua đào tạo hàng năm liên tục tăng cả về sô tuyệt đối và tương đối.Năm 2002, tỉ lệ lao động có chuyên môn kĩ thuật trong tổng số lực lượng laođộng của quận là 52,67%, đến năm 2004 tăng lên là 55,02% và đến năm 2007 đã

có 60,72% lao động có chuyên môn kĩ thuật Cùng với đó, tỉ lệ lao động không

có chuyên môn kĩ thuật giảm dần từ 47,33% năm 2002 xuống còn 44,98% năm

đã quan tâm đầu tư phát triển qui mô lực lượng lao động có chuyên môn kĩ thuật

và bản thân người lao động cũng đã có ý thức tự học tập nâng cao trình độchuyên môn kĩ thuật để đáp ứng yêu cầu công việc Tuy nhiên, trong thời giansắp tới quận cần quan tâm hơn nữa đến vấn đề đào tạo nghề cho lao động, đặcbiệt là lao động thuộc diện bị thu hồi đất nông nghiệp vì nhóm đối tượng nàythường có trình độ thấp, gặp phải nhiều khó khăn trong việc chuyển đổi nghềnghiệp, nếu không được đào tạo một trình độ chuyên môn kĩ thuật nhất định thìkhó có thể cạnh tranh được với những lao động có chất lượng cao của quận, đặcbiệt là những lao động trẻ, khỏe, có năng lực từ nơi khác đến

2.1.2.3 Điều kiện kinh tế

Trang 30

Kinh tế của quận có tốc độ tăng trưởng nhanh trong những năm qua, pháttriển theo hướng bền vững, ưu tiên phát triển các lĩnh vực có sử dụng công nghệcao và ngành nghề sử dụng nhiều lao động, hiệu quả kinh tế lớn, ít làm ảnhhưởng đến môi trường Thời gian qua, thực hiện luật doanh nghiệp và chủtrương về phân cấp quản lý, đổi mới cơ chế quản lý, khuyến khích phát triểnkinh tế tư nhân, quận đã tạo điều kiện thuận lợi về đăng ký kinh doanh, môitrường hoạt động cho các doanh nghiệp, các hợp tác xã, các hộ gia đình sản xuấtkinh doanh Các thành phần kinh tế được khuyến khích phát triển, tự chủ trongsản xuất kinh doanh Tận dụng những lợi thế về vị trí địa lý, tài nguyên thiênnhiên, lại đang trong quá trình đô thị hóa mạnh, quận đã thu hút được một sốlượng vốn đầu tư trong nước và ngoài nước vào các ngành xây dựng, côngnghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ làm cho tốc độ phát triểncủa các ngành này tăng không ngừng qua các năm.

Bảng 2.5: Kết quả giá trị sản xuất_giá hiện hành của các ngành kinh tế

quận Cầu Giấy.

I Tổng giá trị sản

xuất

Triệu đồng 3.212.124 4.161.910 8.038.562 10.177.161

1 Nông, lâm, thủy sản Triệu

2 Công nghiệp –

XDCB

Triệuđồng 2.165.296 2.916.495 6.160.047 7.722.522

3 Dịch vụ, thương mại Triệu

Trang 31

vụ của doanh nghiệp, hộ kinh doanh đa dạng góp phần đẩy nhanh lưu chuyểnhàng hóa, không những tạo được nhiều việc làm cho người lao động mà còn làmcho giá trị sản xuất ngành dịch vụ, thương mai tăng không ngừng qua các năm,

từ 1.041.697 triệu đồng năm 2004 lên 1.242.457 triệu đồng năm 2005, giá trị sảnxuất năm 2006 là 1.876.140 triệu đồng, tăng 51% so với năm 2005 và năm 2007

là 2.452.652 triệu đồng, tăng 30,73 % so với năm 2006

Về Công nghiệp – Xây dựng

Quận khuyến khích đầu tư và phát triển các ngành, nghề sản xuất kinhdoanh như: chế biến lương thực thực phẩm, gia công cơ khí, may mặc, dồ mộcdân dụng… Vì vậy, sản xuất công nghiệp ngoài quốc soanh nhiều năm qua tiếptục tăng trưởng Giá trị sản xuất hàng năm tăng bình quân 40%, sản phẩm côngnghiệp ngoài quốc doanh ngày càng phong phú

Cùng với quá trình đô thị hóa nhanh trong thời gian qua trên địa bàn quậnthì thị trườn xây dựng ngày càng mở rộng, trong đó tập trung vào các lĩnh vựcxây dựng cơ bản, các cơ sở hạ tầng kỹ thuật và cơ sở hạ tầng xã hội Ngành côngnghiệp phục vụ xây dựng cũng tăng theo, thu hút ngày càng nhiều lao động Từ

đó dẫn đến giá trị sản xuất ngành công nghiệp – xây dựng liên tục tăng trongnhững năm qua Năm 2004 đạt 2165296 triệu đồng, đến năm 2005 là 2916495

Trang 32

triệu đồng, trăng 34,69 % so với năm 2005, quả là một kết quả ấn tượng, đó là

do giá trị sản xuất ngành xây dựng tăng đột ngột từ 1658855 triệu đồng năm

2005 lên 4074998 triệu đồng năm 2006

Về nông nghiệp, tốc độ tăng giảm dần qua các năm là do diện tích đất nông

nghiệp bị thu hẹp dần bởi Nhà nước thu hồi đất xây dựng khu công nghiệp, khu

đô thị phục vụ quá trình đô thị hóa Năm 2004, giá trị sản xuất nông nghiệp là

5131 triệu đồng đến năm 2005 chỉ còn 2958 triệu đồng Và mặc dù diện tích đấtnông nghiệp giảm mạnh, nhưng do Quận chỉ đạo đẩy mạnh công tác tập huấnchuyển giao khoa học kỹ thuật, khuyến khích nông dân mạnh dạn chuyển dịch

cơ cấu cây trồng vật nuôi, đưa các giống cây con có giá trị kinh tế cao vào sảnxuất, áp dụng tốt các tiến bộ khoa học kỹ thuật, phòng trừ sâu bệnh kịp thời, do

đó năng suất cây trồng, vật nuôi ngày càng tăng, vì vậy đến năm 2007 giá trị sảnxuất nông nghiệp vẫn đạt 1987 triệu đồng Tuy nhiên, đầu tư vào nông nghiệpkhông cho hiệu quả cao bằng các ngành khác, nên nhiều hộ gia đình, nhiều laođộng đã lựa chọn việc chuyển sang ngành nghề khác thay vì làm nông nghiệp.Đời sống việc làm và thu nhập của người lao động gặp nhiều khó khăn do trình

độ thấp, không dễ dàng để chuyển đổi nghề nghiệp hoặc cạnh tranh trên thịtrường lao động

Về cơ cấu kinh tế

Từ năm 2000, cơ cấu kinh tế trên lãnh thổ của Quận liên tục phát triểntheo hướng CN, TTCN,XD – TM, DV – NN như NQ Đại hội đại biểu lần thứnhất Đảng bộ Quận Cầu Giấy đã xác định: Đến năm 2007, ngành công nghiệpchiếm tỷ trọng 75,88% trong cơ cấu kinh tế; ngành Thương mại - dịch vụ chiếm

tỷ trọng 24,1%; còn 0,02% là của ngành nông nghiệp

Tuy nhiên theo Quận quản lý thì cơ cấu nổi trội chiếm ưu thế bền vững lại

là thương mại, dịch vụ - Công nghiệp, xây dựng – Nông nghiệp Năm 2004,Thương mại, dịch vụ chiếm tỷ trọng 68,1%; Công nghiệp là 31,44% và nôngnghiệp là 0,49% trong cơ cấu kinh tế; đến năm 2007, các con số tương ứng là70,79%; 28,93% và 0,28%

Trang 33

Nhìn chung, cơ cấu kinh tế có bước chuyển theo đúng hướng và phù hợpvới xu thế công nghiệp hóa – hiện đại hóa của đất nước Tỷ trọng ngành thươngmại và công nghiệp ngày càng tăng và trong tương lai hứa hẹn thu hút nhiều laođộng hoạt động trong các lĩnh vực này.

2.1.3 Tình hình thu hồi đất nông nghiệp phục vụ cho quá trình đô thị hóa ở quận Cầu Giấy

Biến động diện tích đất đai của quận Cầu Giấy

Trong thời kỳ 1998 – 2008, do sự tác động mạnh của quá trình đô thị hóalàm cơ cấu đất đai của Quận có nhiều thay đổi

Bảng 2.6: Biến động diện tích đất đai của quận Cầu Giấy

Đơn vị: ha

Diện tích đất tự nhiên 1195,4 1204,5 1204,5 1204,5 1204,5 1204,5Diện tích đất nông

Đất phi nông nghiệp 739,01 809,7 1116,2 1130,4 1144,3 1158,7

Nguồn: Phòng tài nguyên môi trường, quận Cầu Giấy

Trước hết là sự thay đổi nhỏ về tổng diện tích đất tự nhiên của Quận, tăng

từ 1195,4 ha năm 1998 lên 1204,5 ha năm 2002 và giữ nguyên cho đến thờiđiểm hiện nay Sở dĩ có sự thay đổi như vậy là do khi tiến hành bàn giao đất trên

sổ sách của huyện Từ Liêm cho Quận Cầu Giấy mới thành lập thì con số báocáo chưa đúng với thực tế Đến khi Quận Cầu Giấy tiến hành điều tra lại thì tổngdiện tích đất tự nhiên của Quận thực tế là 1204,5 hà chứ không phải là 1195,4 hanhư trên sổ sách

Trong tổng số diện tích đất tự nhiên của quận thì cơ cấu đất đai có sự biệnđộng mạnh qua các năm Diện tích đất nông nghiệp giảm mạnh Năm 1998, diệntích đất nông nghiệp của quận là 404,09 ha chiếm 33,8% trong tổng diện tích đất

Trang 34

tự nhiên; giảm xuống còn 362 ha năm 2000, chiếm 30,05 % diện tích đất tựnhiên Giai đoạn 2000 – 2005, diện tích đất nông nghiệp giảm mạnh do giaiđoạn này Nhà nước tăng cường thu hồi đất để xây dựng các khu công nghiệp,khu đô thị Đến năm 2005, diện tích đất nông nghiệp chỉ còn 78 ha, chiếm 6,48

% diện tích đất tự nhiên Từ năm 2006, nhịp độ xây dựng đã giảm, qua trình đôthị hóa đi vào giai đoạn ổn định, diện tích đất nông nghiệp biến động khôngnghiều Năm 2006, diện tích đất nông nghiệp là 65 ha, giảm xuống còng 40 hanăm 2008

Như vậy, cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và quá trình đôthị hóa ở quận Cầu Giấy, Nhà nước đã tiến hành thu hồi đất nông nghiệp đểphục vụ cho việc xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị mới, các công trìnhcông cộng, cơ cở hạ tầng đô thị … Diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thuhẹp lại cho đến lúc mất dần đi, thay vào đó là diện tích đất phi nông nghiệp baogồm đất chuyên dùng (đất giao thông, đất xây dựng, đất an ninh quốc phòng, đấtnghĩa trang, nghĩa địa …) và đất ở tăng lên nhanh chóng Năm 1998, diện tíchđất phi nông nghiệp của quận là 739,01 ha chiếm 61,82 % tổng diện tích đất tựnhiên thì đến năm 2008,con số này đã là 1158,7 ha chiếm 96,1 tổng diện tích đất

tự nhiên Nhu cầu xây dựng tăng lên làm cho diện tích đất chưa sử dụng cũngđược tận dụng đáng kể, do đó làm giảm diện tích đất này từ 52,3 ha năm 1998xuống chỉ còn 5,8 ha năm 2008 chiếm 0,5 % tổng diện tích đất tự nhiên toànquận Việc thu hồi đất và đưa vào sử dụng các diện tích đất chưa sử dụng, tránhlãng phí đất là hoàn toàn phù hợp với chủ trương của Đảng và Nhà nước ta trongquá trình đô thị hóa, phù hợp với quy hoạch chung của thành phố Hà Nội và quyhoạch tổng thể của quận Cầu Giấy Các khu công nghiệp mọc lên, cùng với cáclợi thế từ một đô thị mới thành lập hứa hẹn trong tương lai sẽ tạo ra nhiều việclàm cho lao động của quận nói riêng và của cả nước nói chung Tuy nhiên, Đảng

bộ và chính quyền quận Cầu Giấy cũng cần qua tâm hỗ trợ tạo việc làm, chuyểnđổi nghề nghiệp chó các đối tượng trong diện bị thu hồi đất nông nghiệp, gópphần ngày càng ổn định xã hội

Trang 35

Tình hình thu hồi đất nông nghiệp:

Thống kê hàng năm của UBND quận Cầu Giấy về tiến độ giải phóng mặtbằng, thực hiện các dự án xây dựng đô thị từ 1998 – 2008, ta có bảng dưới đây:

Bảng 2.7: Tình hình thu hồi đất nông nghiệp của quận Cầu Giấy

Nguồn: Phòng Tài nguyên môi trường quận Cầu Giấy

Qua số liệu thống kê cho thấy trong 10 năm từ 1998 đến 2008 tổng diệntích đất nông nghiệp Nhà nước đã thu hồi trên địa bàn quận xg là 358,2 ha.Trong đó, diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi nhiều nhất là giai đoạn 2001 –

2005, bình quân mỗi năm Nhà nước thu hồi gần 46 ha để phục vụ cho việc xâydựng đô thị Từ năm 2006 diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi giảm dần, năm

2006 thu hồi 26,9 ha, năm 2007 là 20,7 ha và năm 2008 chỉ còn 15 ha diện tíchđất nông nghiệp bị thu hồi Tuy nhiên, kế hoạch của quận là tiếp tục thu hồi diệntích đất nông nghiệp phục vụ xây dựng cơ sở hạ tầng, khu công nghiệp, khu kinh

Trang 36

các công trình công cộng, khu công nghiệp … Hiện tại, ở quận đã có 2 khu côngnghiệp, 6 khu đô thị mới là: Khu đô thị mưois Trung Hòa – Nhân Chính(67,27ha), khu đô thị mới Trung Yên (37,5 ha), khu đô thị mới Dịch Vọng, khu đô thịmới Nam Trung Yên, Làng Quốc tế Thăng Long (10,2 ha), khu đô thị 63 tỉnhthành Diện tích đất nông nghiệp còn lại trong quận không lớn (45,89 ha), đa số

bị kẹt giữa các khu dân cư hay khu công nghiệp, đô thị Tình hình sản xuất nôngnghiệp của người dân địa phương trong những năm qua gặp không ít khó khăn

do đất nông nghiệp bị chia cắt bởi các công trình xây dựng, hệ thống kênhmương bị ách tắc, nước thải, cát bụi do quá trình thi công gây ô nhiễm môitrường, làm chết hoa màu Nhiều diện tích đã bị nhân dân bỏ hoang hóa hoặctrồng cây chờ đền bù

2.1.4 Đặc điểm của người lao động thuộc diện bị thu hồi đất nông nghiệp.

Nhằm tìm hiểu về cơ cấu lao động, thực trạng việc làm, nhu cầu việc làmcủa lao động thuộc diện bị thu hồi đất nông nghiệp, Tháng 3/2009 tôi đã tiếnhành điều tra 90 hộ nhân dân với 405 nhân khẩu thuộc 5 phường có diện tích đấtnông nghiệp bị thu hồi là: Trung Hòa, Yên Hòa, Nghĩa Đô, Dịch Vọng và MaiDịch Số hộ được chọn điều tra phân bố không đều nhau theo các phường và tậptrung hơn vào các phường có nhiều đất bị thu hồi Trong 90 hộ điều tra có 293lao động được phân bố theo địa bàn điều tra như sau:

Bảng 2.8: Lao động bị thu hồi đất theo địa bàn điều tra

Trang 37

Tổng 158 135 293 100

Nguồn: Điều tra lao động thuộc diện thu hồi đất nông nghiệp quận Cầu GIấy 2009

Theo điều tra mẫu lao động, trong tổng số 293 lao động thuộc diện thu hồiđất được khảo sát thì lao động nam chiếm tỷ lệ nhiều hơn nữ, có 18 lao độngnam chiếm 53,92 % trong tổng số và 135 lao động nữ chiếm 46,18 % Tuy nhiênkhông có sự chênh lệch nhiều giữa tỷ lệ lao động năm và nữ Tỷ lệ lao động ởcác nhóm tuổi như sau:

Bảng 2.9: Cơ cấu tuổi của lao động thuộc diện bị thu hồi đất nông nghiệp

được điều tra

lao động được điều tra

Nguồn: Điều tra lao động thuộc diện thu hồi đất nông nghiệp quận Cầu GIấy 2009

Qua số liệu bảng trên ta thấy lao động trong độ tuổi 20 - 24 chiếm tỷ lệcao nhất 14,33 %, đây là một thuận lợi cho quận trong việc tạo việc làm cho đốitượng này vì đa số lao động ở độ tuổi này vừa học xong phổ thông trung học nên

có khả năng chuyển đổi nghề nghiệp, tiếp thu nghề cao hơn vì khả năng thíchứng với đào tạo nhanh hơn Người lao động trong độ tuổi thanh niên (từ 15 - 30tuổi) chiếm tỷ lệ 32,42 %, đây là những lao động trẻ, năng động, dễ thích ứngvới những thay đổi của cơ chế thị trường, dễ dàng học tập nghề mới và có thể tựkiếm việc làm cho họ Lao động có độ tuổi từ 30 – 45 cũng chiếm tỷ lệ khá cao(39,3%), đây là những lao động giàu kinh nghiệm trong sản xuất, chịu khó tìmtòi học hỏi để mở thêm nghề mới, song khả năng tiếp thu nghề đao tạo của họ

Trang 38

gặp nhiều hạn chế Đối tượng này chỉ có thể hướng dẫn tại chỗ thông qua thực tếsản xuất – kinh doanh Và cuối cùng, lao động thuộc từ 45 tuổi trở lên vẫnchiếm tỷ lệ tương đối lớn (27,98%), phần lớn trong số họ có khả năng chuyểnđổi nghề nghiệp thấp, khả năng tiếp thu trong đào tạo nghề gặp nhiều hạn chế.Trước khi thu hồi đất phần lớn lao động này đều làm nông nghiệp hoặc làmthêm một số nghề thủ công, tiểu thủ công nghiệp, vì vậy trong thời gian tới đòihỏi cần nhiều sự quan tâm, hỗ trợ hơn nữa của chính quyền các cấp để tạo việclàm cho đối tượng này

Về chất lượng lao động:

Trình độ học vấn của lao động thuộc diện mất đất theo điều tra là tườn đốicao,phần lớn đều tốt nghiệp Trung học cơ sở và Trung học phổ thông

Bảng 2.10: Trình độ học vấn của lao động thuộc diện mất đất được điều tra

ở quận Cầu Giấy.

Chưa biết chữ

và chưa tốt

nghiệp tiểu học

Tốt nghiệp tiểu học

Tốt nghiệp THCS

Tốt nghiệp THPT

Số

lượng

Tỷ lệ(%)

Sốlượng

Tỷ lệ(%)

Sốlượng

Tỷ lệ(%)

Sốlượng

Tỷ lệ(%)

Nguồn: Điều tra lao động thuộc diện thu hồi đất nông nghiệp quận Cầu GIấy 2009

Theo số liệu điều tra trên ta thấy, trong tổng số lao động mất đất đượcđiều tra, tỷ lệ lao động tốt nghiệp THCS và THPT là rất cao (84,3%), trong đó,nam là 46,41%, nữ là 37,89%; không còn tỷ lệ lao động chưa biết chữ và chưatốt nghiệp tiểu học, tỷ lệ lao động tốt nghiệp tiểu học thấp chiếm (15,7%) tổng

số lao động Tỷ lệ lao động tốt nghiệp tiểu học của nam nhỏ hơn của nữ, tuynhiên tỷ lệ lao động tốt nghiệp THCS và THPT của nam lại lớn hơn của nữ Sở

dĩ như vậy vì ở nông thôn hoặc trong các hộ gia đình làm nông nghiệp thì nữthường nghỉ học sớm hơn nam và tỷ lệ nữ học lên cao cũng thấp hơn nam Nữ

Trang 39

thường lập gia đình sớm, sau đó ở nhà làm công việc nội trợ, chăm sóc con cái,hoặc làm nông nghiệp, hoặc làm các công việc không đòi hỏi trình độ hay trình

độ thấp Mặc dù tỷ lệ lao động mất đất đẫ tốt nghiệp THCS và THPT vẫn thấphơn so với mặt bằng chung toàn quận, nhưng nhìn chung là khá cao so với cáchuyện ngoại thành Hà Nội, và nó tạo nhiều thuận lợi cho việc chuyển đổi nghềnghiệp, tạo cơ sở cho việc nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật cho lao động

để họ có thể tìm được việc làm mới sau khi mất việc làm do bị thu hồi đất

Cùng với trình độ học vấn, một chỉ tiêu khác quan trọng không kém dùng

để đánh giá chất lượng lao động, đó chính là trình độ chuyên môn kỹ thuật Vềtrình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động thuộc diện bị thu hồi đất nông nghiệpphục vụ quá trình đô thị hóa ta có thấy qua số liệu bảng dưới:

Bảng 2.11: Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động mất đất được

điều tra ở quận Cầu Giấy.

Chỉ tiêu

Sốlượng

Tỷ lệ

%

Sốlượng

Tỷ lệ

%

Sốlượng

Nguồn: Điều tra lao động thuộc diện thu hồi đất nông nghiệp quận Cầu GIấy 2009

Theo số liệu bảng trên ta thấy lao động mất đất không có chuyên môn kỹthuật chiếm tỷ lệ cao, tới 62,12%, cao hơn rất nhiều so với mức trung bình củaquận năm 2007 là 39,28%, đây cũng là khó khăn trong việc chuyển ngành nghề,tạo việc làm cho đối tượng này Trong tổng số lao động có chuyên môn kỹ thuậtthì tỷ lệ CNKT không bằng là cao nhất 11,95%, đó là do sau khi tốt nghiệp

Trang 40

THCS và THPT một số lượng lớn lao động đi học nghề trực tiếp tại các cơ sởnhư sửa xe, sử chữa điện tử, tin học… hoặc đi làm công nhân trong các nhà máy

mà không được đào tạo, không cấp chứng chỉ hay bằng cấp

Nhìn chung, trong số lao động có trình độ chuyên môn kĩ thuật thì không

có sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ Sự chênh lệch có thể thấy rõ nhất là ởtrình độ công nhân kĩ thuật không bằng cấp (tỉ lệ nam ở trình độ này là 7,85% và

ở nữ là 4,10%), và ở trình độ trung học chuyên nghiệp (tỉ lệ nam là 5,12% và ở

nữ là 3,41%) Sở dĩ như vậy là do, sau khi tốt nghiệp trung học cơ sở hay trunghọc phổ thông thì lao động nam thường tham gia học nghề trực tiếp ở các cơ sởsửa chữa, đi làm công nhân, thợ xây dựng hay đi làm bộ đội chuyên nghiệp…trong khi đó, lao động nữ thường có xu hướng làm công nhân hoặc học tiếp lêntrung cấp và cao đẳng

2.2 Phân tích thực trạng việc làm của người lao động thuộc diện bị thu hồi đất nông nghiệp do quá trình đô thị hóa ở quận Cầu Giấy trong thời gian vừa qua

2.2.1 Khái quát thực trạng việc làm, thất nghiệp, thiếu việc làm của lao động mất đất

2.2.1.1 Số hộ nông nghiệp hàng năm có đất bị thu hồi và số lao động bị mất việc làm do mất đất sản xuất.

Theo số liệu thống kê hàng năm của Ủy ban nhân dân quận Cầu Giấy vềtình hình thu hồi đất nông nghiệp phục vụ cho các dự án xây dựng đô thị thìtrong 10 năm (1998 – 2008), tổng số diện tích đất nông nghiệp nhà nước thu hồi

là 358,2 ha của 18378 hộ nông dân

Bảng 2.12: Số hộ nông nghiệp hàng năm có đất bị thu hồi

ở quận Cầu Giấy (1998-2008) Phường 1998 - 2000 2001 - 2005 2006 2007 2008 Tổng

Ngày đăng: 12/12/2012, 09:57

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1:  Biến động dân số quận Cầu Giấy - Việc làm cho lao động thuộc diện bị thu hồi đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa ở quận Cầu Giấyc
Bảng 2.1 Biến động dân số quận Cầu Giấy (Trang 24)
Bảng 2.2:  Biến động lao động quận Cầu Giấy - Việc làm cho lao động thuộc diện bị thu hồi đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa ở quận Cầu Giấyc
Bảng 2.2 Biến động lao động quận Cầu Giấy (Trang 26)
Bảng 2.4: Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lực lượng lao động  quận Cầu Giấy qua các năm - Việc làm cho lao động thuộc diện bị thu hồi đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa ở quận Cầu Giấyc
Bảng 2.4 Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lực lượng lao động quận Cầu Giấy qua các năm (Trang 28)
Bảng 2.5:  Kết quả giá trị sản xuất_giá hiện hành của các ngành kinh tế  quận Cầu Giấy. - Việc làm cho lao động thuộc diện bị thu hồi đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa ở quận Cầu Giấyc
Bảng 2.5 Kết quả giá trị sản xuất_giá hiện hành của các ngành kinh tế quận Cầu Giấy (Trang 30)
Bảng 2.6:  Biến động diện tích đất đai của quận Cầu Giấy - Việc làm cho lao động thuộc diện bị thu hồi đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa ở quận Cầu Giấyc
Bảng 2.6 Biến động diện tích đất đai của quận Cầu Giấy (Trang 33)
Bảng 2.7: Tình hình thu hồi đất nông nghiệp của quận Cầu Giấy (1998 – 2008) - Việc làm cho lao động thuộc diện bị thu hồi đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa ở quận Cầu Giấyc
Bảng 2.7 Tình hình thu hồi đất nông nghiệp của quận Cầu Giấy (1998 – 2008) (Trang 35)
Bảng 2.9: Cơ cấu tuổi của lao động thuộc diện bị thu hồi đất nông nghiệp  được điều tra - Việc làm cho lao động thuộc diện bị thu hồi đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa ở quận Cầu Giấyc
Bảng 2.9 Cơ cấu tuổi của lao động thuộc diện bị thu hồi đất nông nghiệp được điều tra (Trang 37)
Bảng 2.10: Trình độ học vấn của lao động thuộc diện mất đất được điều tra  ở quận Cầu Giấy. - Việc làm cho lao động thuộc diện bị thu hồi đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa ở quận Cầu Giấyc
Bảng 2.10 Trình độ học vấn của lao động thuộc diện mất đất được điều tra ở quận Cầu Giấy (Trang 38)
Bảng 2.13: Số lao động bị mất việc làm do mất đất sản xuất nông nghiệp - Việc làm cho lao động thuộc diện bị thu hồi đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa ở quận Cầu Giấyc
Bảng 2.13 Số lao động bị mất việc làm do mất đất sản xuất nông nghiệp (Trang 42)
Bảng 2.14: Thực trạng hoạt động kinh tế của lao động trong diện bị thu hồi đất nông nghiệp được điều tra Thất nghiệp Đang làm việc Không làm việc - Việc làm cho lao động thuộc diện bị thu hồi đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa ở quận Cầu Giấyc
Bảng 2.14 Thực trạng hoạt động kinh tế của lao động trong diện bị thu hồi đất nông nghiệp được điều tra Thất nghiệp Đang làm việc Không làm việc (Trang 44)
Bảng 2.15: Nguyên nhân thất nghiệp của lao động bị thu hồi đất nông  nghiệp - Việc làm cho lao động thuộc diện bị thu hồi đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa ở quận Cầu Giấyc
Bảng 2.15 Nguyên nhân thất nghiệp của lao động bị thu hồi đất nông nghiệp (Trang 46)
Bảng 2.16:  Cơ cấu lao động mất đất được điều tra theo ngành kinh tế - Việc làm cho lao động thuộc diện bị thu hồi đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa ở quận Cầu Giấyc
Bảng 2.16 Cơ cấu lao động mất đất được điều tra theo ngành kinh tế (Trang 48)
Bảng 2.17: Thực trạng việc làm của lao động mất đất được điều tra theo thành phần kinh tế trước khi thu hồi đất - Việc làm cho lao động thuộc diện bị thu hồi đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa ở quận Cầu Giấyc
Bảng 2.17 Thực trạng việc làm của lao động mất đất được điều tra theo thành phần kinh tế trước khi thu hồi đất (Trang 49)
Bảng  2.18: Thực trạng việc làm của lao động thuộc diện bị thu hồi đất   nông nghiệp theo khu vực hành chính sau thời điểm thu hồi đất - Việc làm cho lao động thuộc diện bị thu hồi đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa ở quận Cầu Giấyc
ng 2.18: Thực trạng việc làm của lao động thuộc diện bị thu hồi đất nông nghiệp theo khu vực hành chính sau thời điểm thu hồi đất (Trang 52)
Bảng 2.19: Tỷ lệ người lao động được trợ giúp sau khi thu hồi đất - Việc làm cho lao động thuộc diện bị thu hồi đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa ở quận Cầu Giấyc
Bảng 2.19 Tỷ lệ người lao động được trợ giúp sau khi thu hồi đất (Trang 56)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w