Từ thực tế lịch sử, bài viết đã làm rõ ý nghĩa tích cực, cũng như những thách thức đặt ra đối với việc vận dụng chính sách “Một nước hai chế độ” trong quá trình đấu tranh thống nhất Đài
Trang 1Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007
Chính sách “Một nước hai chế độ”
trong quá trình đấu tranh thống nhất Đài Loan của
Cộng hoà nhân dân Trung Hoa
Phạm Ngọc Tân (a), Hắc Xuân Cảnh (b)
Tóm tắt Bài viết tập trung phân tích bối cảnh lịch sử, quá trình hình thành, nội dung cơ bản của chính sách “Một nước hai chế độ” và việc vận dụng chính sách đó vào qúa trình đấu tranh thống nhất Đài Loan của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa (CHNDTH) Từ thực tế lịch sử, bài viết đã làm rõ ý nghĩa tích cực, cũng như những thách thức đặt ra đối với việc vận dụng chính sách “Một nước hai chế độ” trong quá trình đấu tranh thống nhất Đài Loan của CHNDTH
1 Bối cảnh của sự ra đời chính
sách “Một nước hai chế độ”
“Một quốc gia, hai loại chế độ” (gọi
tắt là “Một nước hai chế độ”), là quốc
sách cơ bản của CHNDTH trong qúa
trình đấu tranh thống nhất đất nước
Đó chính là lý luận sáng tạo được Đặng
Tiểu Bình đề ra vào cuối thập kỷ 70 của
thế kỷ XX trên cơ sở tổng kết những
kinh nghiệm thực tiễn của cuộc đấu
tranh thống nhất đất nước của Trung
Quốc (TQ) Theo chúng tôi, chính sách
“Một nước hai chế độ” được hình thành
trên những cơ sở sau:
Thứ nhất, xuất phát từ yêu cầu và
thực tiễn của cuộc đấu tranh thống
nhất Đài Loan của CHNDTH Kể từ sau
khi có sự chia cắt giữa Đài Loan và Đại
lục, các nhà lãnh đạo CHNDTH đã tích
cực tìm con đường để thống nhất Đài
Loan Tuy nhiên, trải qua gần 3 thập kỷ
đấu tranh, CHNDTH vẫn không đạt
được kết quả đáng kể nào trong qúa
trình thống nhất đất nước Hơn nữa,
chủ trương dùng vũ lực để giải phóng
Đài Loan không những không giúp TQ thống nhất Đài Loan, mà còn tạo nên sự
đối kháng ngày càng lớn giữa hai bờ eo biển Điều đó nói lên rằng, quân sự không phải là biện pháp tối ưu trong qúa trình đấu tranh thống nhất Đài Loan Vì vậy, các nhà lãnh đạo CHNDTH nhận thấy cần phải chấp nhận thực tế là “hai bên đã không dễ nuốt sống nhau, thì phải tôn trọng hiện thực, thừa nhận sự khác biệt, hạ thấp tiêu chuẩn thống nhất xuống một chút, thực hiện biện pháp tôi không thanh toán anh, anh cũng không thanh toán tôi, hai bên đều có thể tiếp nhận, hai bờ
eo biển gác sang một bên sự khác biệt, thống nhất trong một quốc gia Còn chế
độ xã hội, lối sống và quan niệm giá trị mỗi bên thì cứ giữ, anh theo Chủ nghĩa Tam Dân, tôi theo CNXH, không ép nhau phải nhất trí Như vậy thì sự trở ngại cho thống nhất có thể gạt bỏ, hai bên có thể ngồi lại đàm phán với nhau” [5; tr 450-451] Đó chính là cơ sở ban
đầu của chính sách “Một nước hai chế
độ” Thứ hai, xuất phát từ sự thay đổi Nhận bài ngày 1/12/2006 Sửa chữa xong 25/12/2006
Trang 2Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007
của tình hình TQ vào cuối thập kỷ 70
của thế kỷ XX Tháng 12-1978, Hội
nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung
ương ĐCSTQ khoá XI, đã quyết định
đưa TQ đi theo con đường cải cách, mở
cửa Với tư tưởng “thực sự cầu thị”,
Hội nghị lần thứ 3 đã “giải phóng tư
tưởng” để ĐCSTQ tiến hành chủ
trương hoà hợp dân tộc Có thể nói,
nếu như không có công cuộc “giải
phóng tư tưởng” đó, thì không thể hình
thành được lý luận “Một nước hai chế
độ” và chính sách “Một nước hai chế
độ” sau này
Thứ ba, vào thập kỷ 70 của thế kỷ
XX, tình hình thế giới đã có sự chuyển
biến nhanh chóng Sự xích lại gần
nhau của các nước có chế độ xã hội
khác nhau đã mở ra những khả năng
hợp tác rộng lớn trong cộng đồng quốc
tế Hơn nữa, sự phát triển mạnh mẽ
của xu thế toàn cầu hoá đã làm gia
tăng sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các
quốc gia trên thế giới Điều đó đã
khiến cho Đặng Tiểu Bình nhận thấy
rằng, “… giữa các nước còn có thể bỏ
qua sự khác biệt về chế độ và hình thái
ý thức để bắt tay hoà hảo, tại sao cùng
là con cháu Viêm Hoàng lại không thể
vượt qua điểm đó, cứ để sự khác biệt về
chế độ xã hội gây trở ngại cho sự
nghiệp thống nhất? Chẳng lẽ máu
không đậm đặc hơn nước, không nuốt
sống đối phương thì không thoả dạ?
Tại sao không nghĩ thoáng hơn một
chút, gác sang một bên sự tranh chấp
về chế độ, trước hết nắm điều chủ yếu
là thống nhất đất nước”[5; tr 450] Đó
chính là cơ sở lý luận quan trọng cho
việc hình thành chính sách “Một nước hai chế độ”
Ngoài ra, việc Liên Hợp Quốc khôi phục quyền đại diện hợp pháp của CHNDTH vào năm 1971 đã tạo cơ sở pháp lý quốc tế cho nguyên tắc “một Trung Quốc” của CHNDTH Đó là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong việc biến những ý tưởng về thống nhất nhưng không loại trừ khác biệt của các nhà lãnh đạo CHNDTH có cơ sở thực hiện Đồng thời, đó cũng chính là cơ sở cho sự ra đời và tồn tại của chính sách “Một nước hai chế độ” của CHNDTH
Nói tóm lại, chính sách “Một nước hai chế độ” đã được hình thành trong bối cảnh lịch sử có nhiều chuyển biến quan trọng Sự chuyển biến của tình hình TQ cũng như trên thế giới đã cung cấp những cơ sở lý luận và thực tiễn cho các nhà lãnh đạo CHNDTH khái quát thành lý luận sáng tạo trong
sự nghiệp thống nhất đất nước
2 Quá trình hình thành và nội dung cơ bản của chính sách “Một nước hai chế độ”
2.1 Quá trình hình thành của chính sách “Một nước hai chế độ”:
- Giai đoạn từ giữa thập kỷ 50
đến cuối thập kỷ 70 của thế kỷ XX:
Đây là giai đoạn hình thành ý tưởng sơ khai ban đầu về “Một nước hai chế độ”
Từ giữa những năm 50 của thế kỷ
XX, các nhà lãnh đạo CHNDTH đã
đưa ra những ý tưởng về việc cùng tồn tại của các chế độ xã hội khác nhau Năm 1954, Thủ tướng CHNDTH Chu
Trang 3Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007
Ân Lai đã cùng với Thủ tướng ấn Độ
đưa ra “Năm nguyên tắc chung sống
hoà bình” với mong muốn loại bỏ sự
khác biệt về chế độ xã hội giữa các
nước để cùng tồn tại và phát triển
Tiếp đó, năm 1958, trên cơ sở những
kiến nghị hoà bình đã nêu, Chu Ân
Lai đã đúc kết những đối sách của Đại
lục đối với Đài Loan thành “Một việc
bốn điều”, hay còn gọi là “Một cương
bốn mục” Trong đó: “Một việc là Đài
Loan tất yếu phải thống nhất vào TQ
Bốn điều là: 1 Sau khi Đài Loan
thống nhất vào TQ, trừ công việc ngoại
giao phải sáp nhập vào Trung ương,
còn đại quyền quân chính, sắp xếp
nhân sự… đều do Tưởng Giới Thạch lo
liệu; 2 Tất cả chi phí về việc quân
chính, xây dựng kinh tế nếu thiếu sẽ
được Trung ương bổ sung; 3 Việc cải
cách xã hội Đài Loan có thể tạm hoãn,
chờ cho tới điều kiện chín muồi ; 4
Hai bên sẽ không phái gián điệp tới
đất đai của nhau và không có hành
động phá hoại đoàn kết của nhau”[10;
tr 18]
Có thể nói, mặc dù chưa nêu lên
được khái niệm “Một nước hai chế độ”
và cũng chưa xây dựng được thành
phương châm để thống nhất đất nước,
nhưng những kiến nghị nói trên là
những ý tưởng ban đầu về “Một nước
hai chế độ” Đó chính là tiền đề quan
trọng để các nhà lãnh đạo CHNDTH
sau này khái quát thành lý luận mang
tính sáng tạo và xây dựng thành
phương châm để thống nhất đất nước
- Giai đoạn từ cuối năm 1978
đến tháng 8-1981: Đây là giai đoạn đề
ra và xác lập ý tưởng ban đầu về “Một nước hai chế độ”
Từ ngày 18-22/12/1978, Hội nghị
TW lần thứ ba khoá XI ĐCSTQ đã được tiến hành Đây được xem là sự kiện đã phá vỡ sự trói buộc của lý luận “tả khuynh” tồn tại trong một thời gian dài
ở TQ, mở đường cho TQ tiến lên một giai đoạn mới
Trong chuyến thăm Hoa Kỳ vào tháng 1-1979, Đặng Tiểu Bình đã có bài phát biểu trước Quốc hội Mỹ, bày tỏ quan điểm của TQ trong việc giải quyết vấn đề Đài Loan Ông tuyên bố: “… Chúng tôi không dùng lại cách nói
“giải phóng Đài Loan”, chỉ cần thống nhất Tổ quốc, chúng tôi sẽ tôn trọng và thực hiện chế độ hiện hành ở đó”[4; tr 65] Tháng 3-1979, phát biểu với Tổng
đốc Hồng Công, Đặng Tiểu Bình đã nói:
“… trong thời gian tương đối dài của thế kỷ này và giai đoạn đầu của thế kỷ sau, Hồng Công có thể thực hiện chế độ TBCN của mình, còn chúng tôi thực hiện chế độ XHCN của chúng tôi”[4; tr 65] Những phát biểu nói trên của
Đặng Tiểu Bình đã cho thấy sự hình dung ban đầu của các nhà lãnh đạo CHNDTH về ý tưởng “Một nước hai chế
độ” Đến đây, về cơ bản, ý tưởng “Một nước hai chế độ” đã được nêu lên một cách rõ ràng Việc các nhà lãnh đạo CHNDTH coi ý tưởng “Một nước hai chế độ” là một trong những giải pháp
để thực hiện thống nhất đất nước, cho thấy tư tưởng “Một nước hai chế độ” đã
được xác lập
- Giai đoạn từ tháng 9-1981 đến 1984: Đây là giai đoạn hình thành chính sách “Một nước hai chế độ”
Trang 4Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007
Sau khi ý tưởng “Một nước hai chế
độ” được xác lập, các nhà lãnh đạo
CHNDTH đã vận dụng ý tưởng đó vào
qúa trình thống nhất đất nước Trong
bài phát biểu với các phóng viên của
Tân Hoa xã ngày 30-9-1981, Chủ tịch
Uỷ ban thường trực Quốc hội TQ Diệp
Kiếm Anh đã nêu lên phương châm 9
điều của TQ trong việc giải quyết vấn
đề Đài Loan Nội dung phương châm 9
điều là: 1 Để sớm kết thúc cục diện
chia cắt Trung Hoa, tôi kiến nghị cuộc
đàm phán giữa hai đảng, thực hiện hợp
tác lần thứ 3…; 2 Nhân dân các dân
tộc hai bên bờ eo biển có thể trao đổi tin
tức, đoàn tụ người thân…; 3 Sau khi
thực hiện thống nhất, Đài Loan có thể
là một khu vực hành chính đặc biệt,
được hưởng quyền tự trị cao độ…; 4
Chế độ kinh tế, xã hội hiện hành, quan
hệ kinh tế, văn hoá với nước ngoài ở
Đài Loan không thay đổi…; 5 Lãnh
đạo và nhân sĩ các giới ở Đài Loan có
thể đảm nhiệm các chức vụ trong bộ
máy chính trị, được tham dự quản lý
đất nước; 6 Nếu tài chính địa phương
Đài Loan gặp khó khăn, có thể được
chính phủ trung ương bù đắp; 7 Nếu
nhân dân và các nhân sĩ Đài Loan
muốn trở về Đại lục định cư, sẽ được
sắp xếp ổn thoả; 8 Hoan nghênh nhân
sĩ các giới công thương nghiệp Đài
Loan đầu tư vào Đại lục…; 9… Chúng
tôi chân thành và nhiệt liệt hoan
nghênh giới nhân sĩ, các đoàn thể ở Đài
Loan thông qua mọi con đường, áp
dụng các hình thức để đưa ra kiến nghị
thương thuyết việc nước.[2; tr 171-172]
Phương châm 9 điều mà Diệp Kiếm
Anh nêu ra đã được các nhà nghiên cứu
gọi là “Chín điểm của ông Diệp” Phương châm đó một lần nữa cho thấy
rõ hơn về tư tưởng “Một nước hai chế
độ”
Ngày 10-1-1982, trong khi trả lời một vị khách nước ngoài, Đặng Tiểu Bình đã chỉ rõ, phương châm 9 điều mà Diệp Kiếm Anh đã nêu thực chất là chính sách “Một quốc gia, hai loại chế
độ” (sau này được gọi tắt là “Một nước hai chế độ”) Đó là lần đầu tiên khái niệm “Một nước hai chế độ” được nêu lên Từ đây, tư tưởng “Một nước hai chế
độ” bắt đầu được xây dựng thành lý luận và trở thành phương châm, chính sách của CHNDTH trong việc thực hiện thống nhất đất nước
Tháng 9-1982, trong cuộc hội kiến với Thủ tướng Anh That-cher, Đặng Tiểu Bình đã nêu lên quan điểm của
TQ trong việc áp dụng chính sách “Một nước hai chế độ” để thu hồi Hồng Công
Điều 31 Hiến pháp 1982 của nước CHNDTH cũng đã quy định những nội dung cơ bản của chính sách “Một nước hai chế độ” Điều đó cho thấy, “chính sách “Một nước hai chế độ” đã trở nên thành thục” [4; tr 65]
- Giai đoạn từ 1984 đến nay: Đây
là giai đoạn áp dụng lý luận vào thực tiễn và không ngừng bổ sung, hoàn thiện chính sách “Một nước hai chế độ” Tháng 5-1984, tư tưởng “Một nước hai chế độ” đã được trình bày trong
“Báo cáo công tác Chính phủ” của Chính phủ CHNDTH và được Đại hội
đại biểu nhân dân toàn quốc TQ thông qua, trở thành quốc sách có hiệu lực trong qúa trình đấu tranh thống nhất
đất nước của TQ Từ đây, chính sách
Trang 5Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007
“Một nước hai chế độ” đã trở thành
phương châm cơ bản để giải quyết vấn
đề Đài Loan, Hồng Công, Ma Cao
Tháng 6-1984, trong buổi tiếp kiến các
danh sĩ Hồng Công, Đặng Tiểu Bình đã
trình bày một cách rõ ràng và hệ thống
về chính sách “Một nước hai chế độ”
Tiếp đó, trong các Tuyên bố chung
Trung – Anh và Trung – Bồ, CHNDTH
đã đưa ra những quy định cụ thể về
việc áp dụng chính sách “Một nước hai
chế độ” để thu hồi Hồng Công và Ma
Cao Ngày 4-4-1990, Đại hội đại biểu
nhân dân toàn quốc TQ đã thông qua
“Luật cơ bản khu hành chính đặc biệt
Hồng Công” và ngày 31-3-1993, “Luật
cơ bản khu hành chính đặc biệt Ma
Cao” cũng được thông qua Điều đó
đánh dấu qúa trình pháp chế hoá chính
sách “Một nước hai chế độ” về cơ bản
đã hoàn thành
Sau khi hoàn thành về cơ bản qúa
trình xây dựng và pháp chế hoá chính
sách “Một nước hai chế độ”, Chính phủ
CHNDTH đã vận dụng chính sách đó
để thu hồi Hồng Công và Ma Cao Ngày
1-7-1997, TQ đã thành công trong việc
thu hồi chủ quyền đối với Hồng Công
Ngày 20-12-1999, Ma Cao cũng trở về
với TQ bằng phương thức “Một nước
hai chế độ”, đánh dấu sự thành công
của chính sách này
Sau gần 10 năm áp dụng chính
sách “Một nước hai chế độ” vào thực tế,
chính sách này ngày càng chứng tỏ sức
sống và tính sáng tạo của nó Hiện nay
“Một nước hai chế độ” vẫn là phương
châm chỉ đạo cao nhất để thống nhất
Đài Loan của CHNDTH và nó đang
hứa hẹn thành công mới trên con
đường hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước của TQ
2.2 Nội dung cơ bản của chính sách
“Một nước hai chế độ”
Có thể nói, “Một nước hai chế độ” là
lý luận quan trọng, là tư tưởng khoa học có nội dung phong phú Trong đó, nội dung cốt lõi nhất của chính sách
“Một đất nước, hai chế độ”(One Country, Two Systems) là dưới tiền đề một nước TQ, chủ thể của quốc gia kiên trì chế độ XHCN, Đài Loan, Hồng Công
và Ma Cao là bộ phận không thể tách rời của TQ và duy trì chế độ TBCN Trong qúa trình hình thành và phát triển, nội dung cơ bản của chính sách “Một nước hai chế độ” được thể hiện ở các phương diện sau:
Một là, nguyên tắc cơ bản của chính sách “Một nước hai chế độ” là duy trì một nước TQ, Chính phủ CHNDTH là chính phủ duy nhất đại diện cho toàn
TQ, chủ quyền quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ của TQ là không thể chia cắt Dưới tiền đề chỉ có một TQ, Đài Loan, Hồng Công và Ma Cao có thể duy trì chế độ của mình và sự duy trì chế độ đó không ảnh hưởng đến sự thống nhất và
ổn định của TQ Đặng Tiểu Bình đã nhiều lần nói, “… Đài Loan khu hành chính đặc biệt, tuy là chính quyền địa phương, nhưng chính quyền địa phương này khác với các tỉnh thành và khu tự trị khác, có một số quyền lực riêng mà những nơi khác không có, với
điều kiện là không được làm tổn hại
đến lợi ích thống nhất của đất nước”[4;
tr 66]
Hai là, chủ thể của “Một nước hai chế độ” chính là CNXH Ngoài việc
Trang 6Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007
tuân thủ nguyên tắc chỉ có một TQ, thì
nội dung cơ bản của chính sách “Một
nước hai chế độ” đã khẳng định chủ thể
của “hai chế độ” là CNXH Đặng Tiểu
Bình đã nhấn mạnh “Một nước hai chế
độ”, ngoài CNTB còn có CNXH là chủ
thể của TQ, vùng rộng lớn hơn 1 tỉ dân
vững vàng xây dựng CNXH Đó là một
tiền đề Không có tiền đề đó thì không
được Dưới tiền đề đó, có thể cho phép
thực hiện CNTB trong khu vực nhỏ và
phạm vi nhỏ ngay bên cạnh mình”[5; tr
457]
Ba là, “hai chế độ” trong chính sách
“Một nước hai chế độ” là chỉ sự cùng
tồn tại và phát triển của hai loại chế độ
xã hội khác nhau ở TQ Sự tồn tại của
“hai chế độ” còn được thể hiện đó là,
sau khi thống nhất, tất cả các phương
diện về chế độ kinh tế – xã hội, quan hệ
kinh tế, văn hoá với nước ngoài… vốn
có trước đây của Đài Loan, Hồng Công
và Ma Cao đều không thay đổi, trong
khi đó, Đại lục với hơn 1 tỉ người vẫn
kiên trì CNXH Sự tồn tại của “hai chế
độ” là không nhằm loại trừ nhau, mà
bổ sung cho nhau trong sự thống nhất
của một nước
Như vậy, với nội dung phong phú
nói trên, chính sách “Một nước hai chế
độ” vừa thể hiện tính nguyên tắc trong
việc thực hiện thống nhất đất nước,
duy trì chủ quyền quốc gia của TQ, vừa
là sự đáp ứng trước nhu cầu thực tiễn
của Đài Loan, Hồng Công và Ma Cao
3 Quá trình vận dụng chính
sách “Một nước hai chế độ” vào
đấu tranh thống nhất Đài Loan
Kể từ sau khi Tưởng Giới Thạch
chạy ra cố thủ ở Đài Loan, ĐCSTQ
luôn cố gắng tìm con đường để thống nhất Đài Loan Trong những thập kỷ
đầu sau sự chia cắt giữa Đài Loan và
Đại lục, CHNDTH đã tranh thủ những
điều kiện có thể để giải quyết vấn đề
Đài Loan bằng con đường hoà bình Tuy nhiên, những kiến nghị hoà bình
mà các nhà lãnh đạo CHNDTH đề ra trong thập kỷ 50 và 60 của thế kỷ XX
đã không được thực hiện Nguyên nhân
là do sự khác nhau về lập trường và quan điểm giữa ĐCS và QDĐ về vấn đề thống nhất TQ Vì vậy, trước sự chuyển biến của tình hình quốc tế và trong nước, thế hệ lãnh đạo thứ hai của TQ
đã cố gắng tìm giải pháp nhằm loại trừ
sự khác biệt đó
Sau khi ý tưởng “Một nước hai chế
độ” về cơ bản được xác lập, CHNDTH
đã đưa ra những động thái nhằm vận dụng ý tưởng đó vào thống nhất Đài Loan Tháng 10-1978, Đặng Tiểu Bình
đã chỉ rõ: “… Trong việc giải quyết vấn
đề Đài Loan, chúng tôi sẽ tôn trọng hiện thực của Đài Loan… đầu tư của
Mỹ và Nhật vào Đài Loan, phương thức sinh hoạt của bên đó có thể không động
đến, nhưng phải thống nhất”[2; tr 171]
Đó chính là bước đầu của chính sách
“Một nước hai chế độ” được ĐCSTQ xây dựng thành phương châm thống nhất
Đài Loan
Ngày 1-1-1979, Uỷ ban thường vụ Quốc hội TQ đã công bố “Thư gửi đồng bào Đài Loan”, chỉ rõ, “… khi giải quyết vấn đề Đài Loan, tôn trọng hiện trạng
Đài Loan và ý kiến nhân sĩ các giới, không làm cho Đài Loan thiệt hại…”[1;
tr 4] Cùng ngày hôm đó, Ban thường
vụ Hội nghị nhân dân toàn quốc TQ đã
Trang 7Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007
nêu “Phương châm chính trị lớn về hoà
bình thống nhất Tổ quốc”, chỉ rõ:
“Phương châm của ĐCSTQ đối với Đài
Loan từ “giải phóng Đài Loan bằng vũ
lực”, điều chỉnh thành phương thức
thông qua hiệp thương hoà bình, đàm
phán chính trị”[2; tr 171] Những động
thái đó cho thấy ý tưởng “Một nước hai
chế độ” có thể trở thành phương châm
để thực hiện thống nhất Đài Loan bằng
con đường hoà bình
Ngày 30-9-1981, Diệp Kiếm Anh đã
trình bày về phương châm 9 điểm trong
việc giải quyết vấn đề Đài Loan, trong
đó đã nêu rõ về chính sách “Một nước
hai chế độ” và chủ trương dùng chính
sách đó vào việc thống nhất Đài Loan
Tiếp đó, ngày 26-6-1983, Đặng Tiểu
Bình đã nêu phương án 6 điểm về việc
áp dụng chính sách “Một nước hai chế
độ” để thống nhất Đài Loan Phương án
6 điểm mà Đặng Tiểu Bình đã nêu lên
đó là: “… Sau khi thống nhất, Đài Loan
trở thành khu hành chính đặc biệt, có
thể thực hiện chế độ khác với Đại lục…;
Đài Loan còn có quân đội riêng, nhưng
không được tạo sự đe doạ đối với Đại
lục; Đại lục không cử người đến Đài
Loan, các hệ thống đảng, chính quyền,
quân đội của Đài Loan đều do Đài
Loan tự quản lý; Chính phủ Trung
ương còn để dành ghế cho Đài Loan;
Hy vọng nhà đương cục Đài Loan
nghiên cứu tỉ mỉ ý kiến của chúng tôi
để xoá bỏ hiểu lầm”[1; tr 4]
Sau khi Đặng Tiểu Bình và Diệp
Kiếm Anh đưa ra những ý kiến về việc
áp dụng chính sách “Một nước hai chế
độ” để thống nhất Đài Loan, các nhà
lãnh đạo TQ đã nhiều lần nhắc lại và
xem đó là chủ trương cơ bản của TQ trong qúa trình đấu tranh thống nhất
Đài Loan Tháng 5-1984, kỳ họp thứ hai khoá VI Đại hội đại biểu nhân dân
TQ đã nhất trí thông qua việc áp dụng chính sách “Một nước hai chế độ” trong quá trình đấu tranh thống nhất Đài Loan Từ đó, về cơ bản đã hình thành nên phương châm “Hoà bình thống nhất, Một nước hai chế độ” trong đấu tranh thống nhất Đài Loan của CHNDTH
Tháng 12-1990, tại Hội nghị công tác toàn quốc về Đài Loan, Tổng bí thư
ĐCSTQ Giang Trạch Dân và Chủ tịch nước CHNDTH Dương Thượng Côn đã nhắc lại phương châm chung đối với
Đài Loan là “Hoà bình thống nhất, Một nước hai chế độ” Tiếp đó, tại Hội nghị lần thứ hai khoá VII Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc nước CHNDTH, Thủ tướng TQ Lý Bằng một lần nữa nhấn mạnh: “… chúng ta sẽ kiên định phương châm “Một nước hai chế độ” thúc đẩy sự nghiệp lớn hoà bình thống nhất Tổ quốc”[1; tr 5]
Từ giữa thập kỷ 90 của thế kỷ XX, phương châm “Hoà bình thống nhất, Một nước hai chế độ” luôn được các nhà lãnh đạo CHNDTH coi là phương châm chỉ đạo cao nhất để giải quyết vấn đề
Đài Loan Tại lễ giao thừa năm 1995, Chủ tịch nước CHNDTH Giang Trạch Dân đã có bài phát biểu nhan đề “Tiếp tục phấn đấu để hoàn thành thống nhất đất nước”, trong đó nêu lên Tám kiến nghị về hoà bình giải quyết vấn đề
Đài Loan Bài phát biểu nói trên của Giang Trạch Dân đã được các nhà nghiên cứu gọi là “Chủ trương tám
Trang 8Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007
điểm”, hay “Tám điểm của Giang” Đó
chính là sự thể hiện lập trường của
CHNDTH trong việc thực hiện thống
nhất Đài Loan bằng con đường hoà
bình Từ đó đến nay, “Chủ trương tám
điểm” là phương châm chỉ đạo cao nhất
để thực hiện hoà bình thống nhất Đài
Loan
Bên cạnh đó, việc vận dụng chính
sách “Một nước hai chế độ” để thống
nhất Đài Loan bằng con đường hoà
bình cũng đã được các Đại hội của
ĐCSTQ thảo luận và thông qua Đại
hội XVI ĐCSTQ (11-2002), khẳng định:
“ Chúng ta kiên trì phương châm cơ
bản “Hoà bình thống nhất, Một nước
hai chế độ” và “Chủ trương 8 điểm”,
phát triển quan hệ hai bờ, thúc đẩy tiến
trình hoà bình thống nhất Tổ quốc, kiên
quyết phản đối các thế lực chia rẽ Đài
Loan…” [8; tr 77-78]
Hiện nay, thế hệ lãnh đạo thứ tư
của TQ do Hồ Cẩm Đào làm hạt nhân
vẫn kiên trì chủ trương hoà bình thống
nhất Đài Loan của các thế hệ lãnh đạo
trước đây Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đang
nỗ lực cùng với các nhà lãnh đạo và
toàn thể nhân dân TQ tích cực thúc đẩy
thực hiện đàm phán hai bờ, đưa chủ
trương thống nhất Đài Loan bằng con
đường hoà bình tới thắng lợi
4 ý nghĩa của việc vận dụng lý
luận “Một nước hai chế độ” vào
đấu tranh thống nhất Đài Loan
“Một nước hai chế độ” là tư tưởng
chính trị và là giải pháp quan trọng
trong qúa trình đấu tranh thống nhất
Đài Loan của CHNDTH Mục đích của
việc thực hiện “Một nước hai chế độ” là
gạt bỏ trở ngại trong quan điểm chính
trị giữa hai bên để cùng nhau đàm phán về thống nhất đất nước Thực hiện “Một nước hai chế độ” có ý nghĩa tích cực trong qúa trình đấu tranh thống nhất Đài Loan của CHNDTH Một là, thực hiện chính sách “Một nước hai chế độ” đã tạo nên sự khác biệt cơ bản về chất so với chủ trương hoà bình giải phóng Đài Loan trước
đây Trong những thập kỷ 50 và 60 của thế kỷ XX, do mâu thuẫn về lập trường thống nhất giữa ĐCSTQ và QDĐ, nên những kiến nghị hoà bình
mà Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai nêu lên đã không được thực hiện Điều
đó đã khiến cho thế hệ lãnh đạo thứ hai của TQ phải trăn trở tìm ra giải pháp để loại trừ sự khác biệt đó Trong bối cảnh đó chính sách “Một nước hai chế độ” đã trở thành một giải pháp quan trọng Thực tế cho thấy, thực hiện chính sách “Một nước hai chế độ”, nghĩa là thống nhất nhưng không loại trừ khác biệt đã làm giảm mâu thuẫn trong lập trường thống nhất của hai bên Hai bờ eo biển có thể đàm phán
để thống nhất nhưng vẫn có thể giữ nguyên chế độ chính trị của mình Hai là, chính sách “Một nước hai chế độ” đã trở thành cơ sở quan trọng của chủ trương “Hoà bình thống nhất, Một nước hai chế độ” Trong suốt một thời gian dài cả ĐCSTQ và QDĐ đều muốn có sự thống nhất giữa Đài Loan
và Đại lục, tuy nhiên bên nào cũng muốn thống nhất dưới sự lãnh đạo của mình Điều đó đã làm cho hai bên không thể tiến hành đàm phán và mong muốn thống nhất Đài Loan bằng con đường hoà bình cũng không có cơ
Trang 9Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007
sở thực tế Chính vì vậy, áp dụng
chính sách “Một nước hai chế độ” sẽ
gạt bỏ được trở ngại đó để hai bên có
thể đàm phán về việc thống nhất
Nghĩa là chủ trương thống nhất hoà
bình có cơ sở thực tế để thực hiện
Ba là, thực hiện “Một nước hai chế
độ”, CHNDTH có thể duy trì được
nguyên tắc chỉ có một nước TQ, như
vậy mục đích chia cắt Đài Loan ra
khỏi TQ của các thế lực bên ngoài và
chính quyền Đài Loan sẽ thất bại, TQ
sẽ không bị mất Đài Loan Từ đó, hai
bên có thể tiến hành đàm phán và
thống nhất đất nước
Bốn là, thực hiện “Một nước hai
chế độ” mà chủ thể là CHNDTH với
việc kiên trì CNXH, thực tế là đã xác
lập quyền lãnh đạo của ĐCSTQ đối với
Đài Loan Hơn nữa, CHNDTH cũng sẽ
tranh thủ được sự ủng hộ của cộng
đồng quốc tế cũng như nhân dân hai
bờ eo biển Đài Loan trong việc thống
nhất đất nước
Năm là, thực hiện “Một nước hai
chế độ” mà chủ thể là CHNDTH, sẽ
loại bỏ được âm mưu của các thế lực
bên ngoài hòng can thiệp vào Đài
Loan Chính sách “Một nước hai chế
độ” đã khẳng định sự toàn vẹn về lãnh
thổ của TQ và chủ quyền của TQ đối
với Đài Loan, điều đó khiến cho các
thế lực bên ngoài không còn lý do để
“quốc tế hoá vấn đề Đài Loan” và can
thiệp vào công việc nội bộ của TQ
Cho đến nay, “Một nước hai chế độ”
vẫn là một giải pháp chính trị hữu
hiệu nhất cho công cuộc thống nhất
Đài Loan của CHNDTH Trước chính
sách đòi “Đài Loan độc lập” của chính
quyền Trần Thuỷ Biển, việc kiên trì nguyên tắc “một TQ” và phương châm
“Một nước hai chế độ” sẽ là điều kiện tiên quyết đảm bảo thành công cho sự nghiệp thống nhất Đài Loan của CHNDTH
5 Những thách thức đặt ra đối với việc vận dụng chính sách “Một nước hai chế độ” trong quá trình
đấu tranh thống nhất Đài Loan Chính sách “Một nước hai chế độ”
đã đem lại hiệu quả to lớn trong qua trình thu hồi Hồng Công và Ma Cao của CHNDTH Tuy nhiên, khi vận dụng chính sách đó để thống nhất Đài Loan, CHNDTH gặp phải không ít thách thức từ nhiều phía
Thứ nhất, sự phát triển trong lịch
sử của Đài Loan đã tạo nên thách thức không nhỏ đối với công thức “Một nước hai chế độ” Kể từ khi được coi là một phần của lãnh thổ TQ, thì thời gian thống nhất giữa Đại lục và Đài Loan là rất ít Trong khi đó, về mặt địa lý, Đài Loan có sự tách biệt với Đại lục Hơn nữa, hơn 20 triệu dân Đài Loan lại có
sự độc lập về kinh tế và phát triển xã hội đối với Đại lục Vì vậy, so với Hồng Công hay Ma Cao, mối quan hệ gắn bó giữa hai bờ eo biển rất hạn chế Điều
đó đã ảnh hưởng rất lớn đối với mong muốn thống nhất của cư dân Đài Loan Thứ hai, tính chất của vấn đề Đài Loan cũng hoàn toàn khác với vấn đề Hồng Công hay Mao Cao Có thể nói, vấn đề Đài Loan, “không phải là ngoại giao mà là nội chính, song lại động chạm ngoại giao; không phải là đấu tranh chống thực dân để thu hồi chủ quyền quốc gia từ tay thực dân, mà là
Trang 10Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007
sự tiếp tục chính quyền này lật đổ
chính quyền kia Thế lực nước ngoài
can thiệp vào Đài Loan là thông qua
nhà đương cục Đài Loan và thế lực
chính trị địa phương Đài Loan, trong
ngoài kết hợp, lợi dụng lẫn nhau, làm
tăng hẳn mức độ khó khăn trong việc
hoà bình thống nhất Đài Loan”[3; tr
556] Chính sự phát triển phức tạp của
vấn đề Đài Loan đã và đang tạo ra
thách thức rất lớn cho công thức “Một
nước hai chế độ” của CHNDTH
Thứ ba, sự chênh lệch về mức sống
giữa Đài Loan và Đại lục cũng là thách
thức lớn khác đối với chính sách “Một
nước hai chế độ” Cho đến nay, mặc dù
CHNDTH đã đạt được những bước tiến
vượt bậc trong qúa trình xây dựng và
phát triển kinh tế, nhưng so với thu
nhập và mức sống của Đài Loan thì
vẫn còn một khoảng cách khá xa Vì
vậy, “sức mạnh tổng hợp của Đại lục
tuy không nhỏ, tiềm lực rất lớn, nhưng
bình quân đầu người lại thấp hơn quá
nhiều so với Đài Loan… làm cho TQ
đại lục khó bề phát huy tác dụng lớn
trong các sự vụ quốc tế và ngăn chặn
Đài Loan thực hiện chính sách hai
nước TQ” [5; tr 557]
Thứ tư, trước đây, Đài Loan dưới sự
lãnh đạo của Tưởng Giới Thạch và
Tưởng Kinh Quốc, mặc dù đối lập về
quan điểm, nhưng trước sau vẫn muốn
thống nhất giữa Đài Loan và Đại lục
(tất nhiên là thống nhất dưới sự lãnh
đạo của QDĐ) và luôn kiên trì chủ
quyền của TQ đối với Đài Loan Đó
chính là cơ sở quan trọng để thực hiện
“Một nước hai chế độ” Thế nhưng, từ
sau khi Lý Đăng Huy và tiếp đó là
Trần Thuỷ Biển lên cầm quyền, các nhà lãnh đạo Đài Loan đã liên tục đưa
ra những chính sách nhằm phủ nhận nguyên tắc “một Trung Quốc” và chủ quyền của TQ đối với Đài Loan, điều đó
đồng nghĩa với việc họ muốn phủ nhận cơ sở tồn tại của chính sách “Một nước hai chế độ” Do vậy, sự thay đổi trong chính sách của chính quyền Đài Loan
là một trong những yếu tố gây cản trở lớn nhất đối với chính sách “Một nước hai chế độ” của CHNDTH
Thứ năm, trong qúa trình đấu tranh thống nhất Đài Loan, CHNDTH luôn nhấn mạnh “đặt hy vọng vào nhân dân Đài Loan” và coi việc phát triển mối quan hệ tình cảm dân tộc giữa nhân dân hai bờ là nhân tố thúc đẩy sự thành công của chính sách “Một nước hai chế độ” Tuy nhiên, thực tế cho thấy, thái độ của dân chúng Đài Loan ngày càng bất lợi đối với CHNDTH Sau một thời gian dài sống theo tư tưởng tự do, dân chủ của phương Tây, lại chịu ảnh hưởng từ sự tuyên truyền chính sách thù địch của chính quyền
Đài Loan, nên ngày càng có nhiều người Đài Loan phủ nhận mình là người TQ Điều đó làm cho việc lợi dụng “sợi dây tình cảm” để thống nhất hai bờ của CHNDTH ngày càng mất đi chỗ dựa quan trọng Theo nhiều cuộc
điều tra dư luận được tiến hành ở Đài Loan thì “trung bình khoảng 80% số người được hỏi cho rằng họ không nhận thấy công thức “Một nước hai chế độ” là một giải pháp Họ sợ rằng Đài Loan sẽ
bị “thui chột”(“ảo hoá”- chết), rằng thay vì được là chủ nhân của ngôi nhà của mình, người Đài Loan sẽ mất quyền