1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo nghiên cứu khoa học: "Chính sách “Một nước hai chế độ” trong quá trình đấu tranh thống nhất Đài Loan của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa." potx

12 494 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 158,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ thực tế lịch sử, bài viết đã làm rõ ý nghĩa tích cực, cũng như những thách thức đặt ra đối với việc vận dụng chính sách “Một nước hai chế độ” trong quá trình đấu tranh thống nhất Đài

Trang 1

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007

Chính sách “Một nước hai chế độ”

trong quá trình đấu tranh thống nhất Đài Loan của

Cộng hoà nhân dân Trung Hoa

Phạm Ngọc Tân (a), Hắc Xuân Cảnh (b)

Tóm tắt Bài viết tập trung phân tích bối cảnh lịch sử, quá trình hình thành, nội dung cơ bản của chính sách “Một nước hai chế độ” và việc vận dụng chính sách đó vào qúa trình đấu tranh thống nhất Đài Loan của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa (CHNDTH) Từ thực tế lịch sử, bài viết đã làm rõ ý nghĩa tích cực, cũng như những thách thức đặt ra đối với việc vận dụng chính sách “Một nước hai chế độ” trong quá trình đấu tranh thống nhất Đài Loan của CHNDTH

1 Bối cảnh của sự ra đời chính

sách “Một nước hai chế độ”

“Một quốc gia, hai loại chế độ” (gọi

tắt là “Một nước hai chế độ”), là quốc

sách cơ bản của CHNDTH trong qúa

trình đấu tranh thống nhất đất nước

Đó chính là lý luận sáng tạo được Đặng

Tiểu Bình đề ra vào cuối thập kỷ 70 của

thế kỷ XX trên cơ sở tổng kết những

kinh nghiệm thực tiễn của cuộc đấu

tranh thống nhất đất nước của Trung

Quốc (TQ) Theo chúng tôi, chính sách

“Một nước hai chế độ” được hình thành

trên những cơ sở sau:

Thứ nhất, xuất phát từ yêu cầu và

thực tiễn của cuộc đấu tranh thống

nhất Đài Loan của CHNDTH Kể từ sau

khi có sự chia cắt giữa Đài Loan và Đại

lục, các nhà lãnh đạo CHNDTH đã tích

cực tìm con đường để thống nhất Đài

Loan Tuy nhiên, trải qua gần 3 thập kỷ

đấu tranh, CHNDTH vẫn không đạt

được kết quả đáng kể nào trong qúa

trình thống nhất đất nước Hơn nữa,

chủ trương dùng vũ lực để giải phóng

Đài Loan không những không giúp TQ thống nhất Đài Loan, mà còn tạo nên sự

đối kháng ngày càng lớn giữa hai bờ eo biển Điều đó nói lên rằng, quân sự không phải là biện pháp tối ưu trong qúa trình đấu tranh thống nhất Đài Loan Vì vậy, các nhà lãnh đạo CHNDTH nhận thấy cần phải chấp nhận thực tế là “hai bên đã không dễ nuốt sống nhau, thì phải tôn trọng hiện thực, thừa nhận sự khác biệt, hạ thấp tiêu chuẩn thống nhất xuống một chút, thực hiện biện pháp tôi không thanh toán anh, anh cũng không thanh toán tôi, hai bên đều có thể tiếp nhận, hai bờ

eo biển gác sang một bên sự khác biệt, thống nhất trong một quốc gia Còn chế

độ xã hội, lối sống và quan niệm giá trị mỗi bên thì cứ giữ, anh theo Chủ nghĩa Tam Dân, tôi theo CNXH, không ép nhau phải nhất trí Như vậy thì sự trở ngại cho thống nhất có thể gạt bỏ, hai bên có thể ngồi lại đàm phán với nhau” [5; tr 450-451] Đó chính là cơ sở ban

đầu của chính sách “Một nước hai chế

độ” Thứ hai, xuất phát từ sự thay đổi Nhận bài ngày 1/12/2006 Sửa chữa xong 25/12/2006

Trang 2

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007

của tình hình TQ vào cuối thập kỷ 70

của thế kỷ XX Tháng 12-1978, Hội

nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung

ương ĐCSTQ khoá XI, đã quyết định

đưa TQ đi theo con đường cải cách, mở

cửa Với tư tưởng “thực sự cầu thị”,

Hội nghị lần thứ 3 đã “giải phóng tư

tưởng” để ĐCSTQ tiến hành chủ

trương hoà hợp dân tộc Có thể nói,

nếu như không có công cuộc “giải

phóng tư tưởng” đó, thì không thể hình

thành được lý luận “Một nước hai chế

độ” và chính sách “Một nước hai chế

độ” sau này

Thứ ba, vào thập kỷ 70 của thế kỷ

XX, tình hình thế giới đã có sự chuyển

biến nhanh chóng Sự xích lại gần

nhau của các nước có chế độ xã hội

khác nhau đã mở ra những khả năng

hợp tác rộng lớn trong cộng đồng quốc

tế Hơn nữa, sự phát triển mạnh mẽ

của xu thế toàn cầu hoá đã làm gia

tăng sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các

quốc gia trên thế giới Điều đó đã

khiến cho Đặng Tiểu Bình nhận thấy

rằng, “… giữa các nước còn có thể bỏ

qua sự khác biệt về chế độ và hình thái

ý thức để bắt tay hoà hảo, tại sao cùng

là con cháu Viêm Hoàng lại không thể

vượt qua điểm đó, cứ để sự khác biệt về

chế độ xã hội gây trở ngại cho sự

nghiệp thống nhất? Chẳng lẽ máu

không đậm đặc hơn nước, không nuốt

sống đối phương thì không thoả dạ?

Tại sao không nghĩ thoáng hơn một

chút, gác sang một bên sự tranh chấp

về chế độ, trước hết nắm điều chủ yếu

là thống nhất đất nước”[5; tr 450] Đó

chính là cơ sở lý luận quan trọng cho

việc hình thành chính sách “Một nước hai chế độ”

Ngoài ra, việc Liên Hợp Quốc khôi phục quyền đại diện hợp pháp của CHNDTH vào năm 1971 đã tạo cơ sở pháp lý quốc tế cho nguyên tắc “một Trung Quốc” của CHNDTH Đó là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong việc biến những ý tưởng về thống nhất nhưng không loại trừ khác biệt của các nhà lãnh đạo CHNDTH có cơ sở thực hiện Đồng thời, đó cũng chính là cơ sở cho sự ra đời và tồn tại của chính sách “Một nước hai chế độ” của CHNDTH

Nói tóm lại, chính sách “Một nước hai chế độ” đã được hình thành trong bối cảnh lịch sử có nhiều chuyển biến quan trọng Sự chuyển biến của tình hình TQ cũng như trên thế giới đã cung cấp những cơ sở lý luận và thực tiễn cho các nhà lãnh đạo CHNDTH khái quát thành lý luận sáng tạo trong

sự nghiệp thống nhất đất nước

2 Quá trình hình thành và nội dung cơ bản của chính sách “Một nước hai chế độ”

2.1 Quá trình hình thành của chính sách “Một nước hai chế độ”:

- Giai đoạn từ giữa thập kỷ 50

đến cuối thập kỷ 70 của thế kỷ XX:

Đây là giai đoạn hình thành ý tưởng sơ khai ban đầu về “Một nước hai chế độ”

Từ giữa những năm 50 của thế kỷ

XX, các nhà lãnh đạo CHNDTH đã

đưa ra những ý tưởng về việc cùng tồn tại của các chế độ xã hội khác nhau Năm 1954, Thủ tướng CHNDTH Chu

Trang 3

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007

Ân Lai đã cùng với Thủ tướng ấn Độ

đưa ra “Năm nguyên tắc chung sống

hoà bình” với mong muốn loại bỏ sự

khác biệt về chế độ xã hội giữa các

nước để cùng tồn tại và phát triển

Tiếp đó, năm 1958, trên cơ sở những

kiến nghị hoà bình đã nêu, Chu Ân

Lai đã đúc kết những đối sách của Đại

lục đối với Đài Loan thành “Một việc

bốn điều”, hay còn gọi là “Một cương

bốn mục” Trong đó: “Một việc là Đài

Loan tất yếu phải thống nhất vào TQ

Bốn điều là: 1 Sau khi Đài Loan

thống nhất vào TQ, trừ công việc ngoại

giao phải sáp nhập vào Trung ương,

còn đại quyền quân chính, sắp xếp

nhân sự… đều do Tưởng Giới Thạch lo

liệu; 2 Tất cả chi phí về việc quân

chính, xây dựng kinh tế nếu thiếu sẽ

được Trung ương bổ sung; 3 Việc cải

cách xã hội Đài Loan có thể tạm hoãn,

chờ cho tới điều kiện chín muồi ; 4

Hai bên sẽ không phái gián điệp tới

đất đai của nhau và không có hành

động phá hoại đoàn kết của nhau”[10;

tr 18]

Có thể nói, mặc dù chưa nêu lên

được khái niệm “Một nước hai chế độ”

và cũng chưa xây dựng được thành

phương châm để thống nhất đất nước,

nhưng những kiến nghị nói trên là

những ý tưởng ban đầu về “Một nước

hai chế độ” Đó chính là tiền đề quan

trọng để các nhà lãnh đạo CHNDTH

sau này khái quát thành lý luận mang

tính sáng tạo và xây dựng thành

phương châm để thống nhất đất nước

- Giai đoạn từ cuối năm 1978

đến tháng 8-1981: Đây là giai đoạn đề

ra và xác lập ý tưởng ban đầu về “Một nước hai chế độ”

Từ ngày 18-22/12/1978, Hội nghị

TW lần thứ ba khoá XI ĐCSTQ đã được tiến hành Đây được xem là sự kiện đã phá vỡ sự trói buộc của lý luận “tả khuynh” tồn tại trong một thời gian dài

ở TQ, mở đường cho TQ tiến lên một giai đoạn mới

Trong chuyến thăm Hoa Kỳ vào tháng 1-1979, Đặng Tiểu Bình đã có bài phát biểu trước Quốc hội Mỹ, bày tỏ quan điểm của TQ trong việc giải quyết vấn đề Đài Loan Ông tuyên bố: “… Chúng tôi không dùng lại cách nói

“giải phóng Đài Loan”, chỉ cần thống nhất Tổ quốc, chúng tôi sẽ tôn trọng và thực hiện chế độ hiện hành ở đó”[4; tr 65] Tháng 3-1979, phát biểu với Tổng

đốc Hồng Công, Đặng Tiểu Bình đã nói:

“… trong thời gian tương đối dài của thế kỷ này và giai đoạn đầu của thế kỷ sau, Hồng Công có thể thực hiện chế độ TBCN của mình, còn chúng tôi thực hiện chế độ XHCN của chúng tôi”[4; tr 65] Những phát biểu nói trên của

Đặng Tiểu Bình đã cho thấy sự hình dung ban đầu của các nhà lãnh đạo CHNDTH về ý tưởng “Một nước hai chế

độ” Đến đây, về cơ bản, ý tưởng “Một nước hai chế độ” đã được nêu lên một cách rõ ràng Việc các nhà lãnh đạo CHNDTH coi ý tưởng “Một nước hai chế độ” là một trong những giải pháp

để thực hiện thống nhất đất nước, cho thấy tư tưởng “Một nước hai chế độ” đã

được xác lập

- Giai đoạn từ tháng 9-1981 đến 1984: Đây là giai đoạn hình thành chính sách “Một nước hai chế độ”

Trang 4

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007

Sau khi ý tưởng “Một nước hai chế

độ” được xác lập, các nhà lãnh đạo

CHNDTH đã vận dụng ý tưởng đó vào

qúa trình thống nhất đất nước Trong

bài phát biểu với các phóng viên của

Tân Hoa xã ngày 30-9-1981, Chủ tịch

Uỷ ban thường trực Quốc hội TQ Diệp

Kiếm Anh đã nêu lên phương châm 9

điều của TQ trong việc giải quyết vấn

đề Đài Loan Nội dung phương châm 9

điều là: 1 Để sớm kết thúc cục diện

chia cắt Trung Hoa, tôi kiến nghị cuộc

đàm phán giữa hai đảng, thực hiện hợp

tác lần thứ 3…; 2 Nhân dân các dân

tộc hai bên bờ eo biển có thể trao đổi tin

tức, đoàn tụ người thân…; 3 Sau khi

thực hiện thống nhất, Đài Loan có thể

là một khu vực hành chính đặc biệt,

được hưởng quyền tự trị cao độ…; 4

Chế độ kinh tế, xã hội hiện hành, quan

hệ kinh tế, văn hoá với nước ngoài ở

Đài Loan không thay đổi…; 5 Lãnh

đạo và nhân sĩ các giới ở Đài Loan có

thể đảm nhiệm các chức vụ trong bộ

máy chính trị, được tham dự quản lý

đất nước; 6 Nếu tài chính địa phương

Đài Loan gặp khó khăn, có thể được

chính phủ trung ương bù đắp; 7 Nếu

nhân dân và các nhân sĩ Đài Loan

muốn trở về Đại lục định cư, sẽ được

sắp xếp ổn thoả; 8 Hoan nghênh nhân

sĩ các giới công thương nghiệp Đài

Loan đầu tư vào Đại lục…; 9… Chúng

tôi chân thành và nhiệt liệt hoan

nghênh giới nhân sĩ, các đoàn thể ở Đài

Loan thông qua mọi con đường, áp

dụng các hình thức để đưa ra kiến nghị

thương thuyết việc nước.[2; tr 171-172]

Phương châm 9 điều mà Diệp Kiếm

Anh nêu ra đã được các nhà nghiên cứu

gọi là “Chín điểm của ông Diệp” Phương châm đó một lần nữa cho thấy

rõ hơn về tư tưởng “Một nước hai chế

độ”

Ngày 10-1-1982, trong khi trả lời một vị khách nước ngoài, Đặng Tiểu Bình đã chỉ rõ, phương châm 9 điều mà Diệp Kiếm Anh đã nêu thực chất là chính sách “Một quốc gia, hai loại chế

độ” (sau này được gọi tắt là “Một nước hai chế độ”) Đó là lần đầu tiên khái niệm “Một nước hai chế độ” được nêu lên Từ đây, tư tưởng “Một nước hai chế

độ” bắt đầu được xây dựng thành lý luận và trở thành phương châm, chính sách của CHNDTH trong việc thực hiện thống nhất đất nước

Tháng 9-1982, trong cuộc hội kiến với Thủ tướng Anh That-cher, Đặng Tiểu Bình đã nêu lên quan điểm của

TQ trong việc áp dụng chính sách “Một nước hai chế độ” để thu hồi Hồng Công

Điều 31 Hiến pháp 1982 của nước CHNDTH cũng đã quy định những nội dung cơ bản của chính sách “Một nước hai chế độ” Điều đó cho thấy, “chính sách “Một nước hai chế độ” đã trở nên thành thục” [4; tr 65]

- Giai đoạn từ 1984 đến nay: Đây

là giai đoạn áp dụng lý luận vào thực tiễn và không ngừng bổ sung, hoàn thiện chính sách “Một nước hai chế độ” Tháng 5-1984, tư tưởng “Một nước hai chế độ” đã được trình bày trong

“Báo cáo công tác Chính phủ” của Chính phủ CHNDTH và được Đại hội

đại biểu nhân dân toàn quốc TQ thông qua, trở thành quốc sách có hiệu lực trong qúa trình đấu tranh thống nhất

đất nước của TQ Từ đây, chính sách

Trang 5

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007

“Một nước hai chế độ” đã trở thành

phương châm cơ bản để giải quyết vấn

đề Đài Loan, Hồng Công, Ma Cao

Tháng 6-1984, trong buổi tiếp kiến các

danh sĩ Hồng Công, Đặng Tiểu Bình đã

trình bày một cách rõ ràng và hệ thống

về chính sách “Một nước hai chế độ”

Tiếp đó, trong các Tuyên bố chung

Trung – Anh và Trung – Bồ, CHNDTH

đã đưa ra những quy định cụ thể về

việc áp dụng chính sách “Một nước hai

chế độ” để thu hồi Hồng Công và Ma

Cao Ngày 4-4-1990, Đại hội đại biểu

nhân dân toàn quốc TQ đã thông qua

“Luật cơ bản khu hành chính đặc biệt

Hồng Công” và ngày 31-3-1993, “Luật

cơ bản khu hành chính đặc biệt Ma

Cao” cũng được thông qua Điều đó

đánh dấu qúa trình pháp chế hoá chính

sách “Một nước hai chế độ” về cơ bản

đã hoàn thành

Sau khi hoàn thành về cơ bản qúa

trình xây dựng và pháp chế hoá chính

sách “Một nước hai chế độ”, Chính phủ

CHNDTH đã vận dụng chính sách đó

để thu hồi Hồng Công và Ma Cao Ngày

1-7-1997, TQ đã thành công trong việc

thu hồi chủ quyền đối với Hồng Công

Ngày 20-12-1999, Ma Cao cũng trở về

với TQ bằng phương thức “Một nước

hai chế độ”, đánh dấu sự thành công

của chính sách này

Sau gần 10 năm áp dụng chính

sách “Một nước hai chế độ” vào thực tế,

chính sách này ngày càng chứng tỏ sức

sống và tính sáng tạo của nó Hiện nay

“Một nước hai chế độ” vẫn là phương

châm chỉ đạo cao nhất để thống nhất

Đài Loan của CHNDTH và nó đang

hứa hẹn thành công mới trên con

đường hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước của TQ

2.2 Nội dung cơ bản của chính sách

“Một nước hai chế độ”

Có thể nói, “Một nước hai chế độ” là

lý luận quan trọng, là tư tưởng khoa học có nội dung phong phú Trong đó, nội dung cốt lõi nhất của chính sách

“Một đất nước, hai chế độ”(One Country, Two Systems) là dưới tiền đề một nước TQ, chủ thể của quốc gia kiên trì chế độ XHCN, Đài Loan, Hồng Công

và Ma Cao là bộ phận không thể tách rời của TQ và duy trì chế độ TBCN Trong qúa trình hình thành và phát triển, nội dung cơ bản của chính sách “Một nước hai chế độ” được thể hiện ở các phương diện sau:

Một là, nguyên tắc cơ bản của chính sách “Một nước hai chế độ” là duy trì một nước TQ, Chính phủ CHNDTH là chính phủ duy nhất đại diện cho toàn

TQ, chủ quyền quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ của TQ là không thể chia cắt Dưới tiền đề chỉ có một TQ, Đài Loan, Hồng Công và Ma Cao có thể duy trì chế độ của mình và sự duy trì chế độ đó không ảnh hưởng đến sự thống nhất và

ổn định của TQ Đặng Tiểu Bình đã nhiều lần nói, “… Đài Loan khu hành chính đặc biệt, tuy là chính quyền địa phương, nhưng chính quyền địa phương này khác với các tỉnh thành và khu tự trị khác, có một số quyền lực riêng mà những nơi khác không có, với

điều kiện là không được làm tổn hại

đến lợi ích thống nhất của đất nước”[4;

tr 66]

Hai là, chủ thể của “Một nước hai chế độ” chính là CNXH Ngoài việc

Trang 6

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007

tuân thủ nguyên tắc chỉ có một TQ, thì

nội dung cơ bản của chính sách “Một

nước hai chế độ” đã khẳng định chủ thể

của “hai chế độ” là CNXH Đặng Tiểu

Bình đã nhấn mạnh “Một nước hai chế

độ”, ngoài CNTB còn có CNXH là chủ

thể của TQ, vùng rộng lớn hơn 1 tỉ dân

vững vàng xây dựng CNXH Đó là một

tiền đề Không có tiền đề đó thì không

được Dưới tiền đề đó, có thể cho phép

thực hiện CNTB trong khu vực nhỏ và

phạm vi nhỏ ngay bên cạnh mình”[5; tr

457]

Ba là, “hai chế độ” trong chính sách

“Một nước hai chế độ” là chỉ sự cùng

tồn tại và phát triển của hai loại chế độ

xã hội khác nhau ở TQ Sự tồn tại của

“hai chế độ” còn được thể hiện đó là,

sau khi thống nhất, tất cả các phương

diện về chế độ kinh tế – xã hội, quan hệ

kinh tế, văn hoá với nước ngoài… vốn

có trước đây của Đài Loan, Hồng Công

và Ma Cao đều không thay đổi, trong

khi đó, Đại lục với hơn 1 tỉ người vẫn

kiên trì CNXH Sự tồn tại của “hai chế

độ” là không nhằm loại trừ nhau, mà

bổ sung cho nhau trong sự thống nhất

của một nước

Như vậy, với nội dung phong phú

nói trên, chính sách “Một nước hai chế

độ” vừa thể hiện tính nguyên tắc trong

việc thực hiện thống nhất đất nước,

duy trì chủ quyền quốc gia của TQ, vừa

là sự đáp ứng trước nhu cầu thực tiễn

của Đài Loan, Hồng Công và Ma Cao

3 Quá trình vận dụng chính

sách “Một nước hai chế độ” vào

đấu tranh thống nhất Đài Loan

Kể từ sau khi Tưởng Giới Thạch

chạy ra cố thủ ở Đài Loan, ĐCSTQ

luôn cố gắng tìm con đường để thống nhất Đài Loan Trong những thập kỷ

đầu sau sự chia cắt giữa Đài Loan và

Đại lục, CHNDTH đã tranh thủ những

điều kiện có thể để giải quyết vấn đề

Đài Loan bằng con đường hoà bình Tuy nhiên, những kiến nghị hoà bình

mà các nhà lãnh đạo CHNDTH đề ra trong thập kỷ 50 và 60 của thế kỷ XX

đã không được thực hiện Nguyên nhân

là do sự khác nhau về lập trường và quan điểm giữa ĐCS và QDĐ về vấn đề thống nhất TQ Vì vậy, trước sự chuyển biến của tình hình quốc tế và trong nước, thế hệ lãnh đạo thứ hai của TQ

đã cố gắng tìm giải pháp nhằm loại trừ

sự khác biệt đó

Sau khi ý tưởng “Một nước hai chế

độ” về cơ bản được xác lập, CHNDTH

đã đưa ra những động thái nhằm vận dụng ý tưởng đó vào thống nhất Đài Loan Tháng 10-1978, Đặng Tiểu Bình

đã chỉ rõ: “… Trong việc giải quyết vấn

đề Đài Loan, chúng tôi sẽ tôn trọng hiện thực của Đài Loan… đầu tư của

Mỹ và Nhật vào Đài Loan, phương thức sinh hoạt của bên đó có thể không động

đến, nhưng phải thống nhất”[2; tr 171]

Đó chính là bước đầu của chính sách

“Một nước hai chế độ” được ĐCSTQ xây dựng thành phương châm thống nhất

Đài Loan

Ngày 1-1-1979, Uỷ ban thường vụ Quốc hội TQ đã công bố “Thư gửi đồng bào Đài Loan”, chỉ rõ, “… khi giải quyết vấn đề Đài Loan, tôn trọng hiện trạng

Đài Loan và ý kiến nhân sĩ các giới, không làm cho Đài Loan thiệt hại…”[1;

tr 4] Cùng ngày hôm đó, Ban thường

vụ Hội nghị nhân dân toàn quốc TQ đã

Trang 7

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007

nêu “Phương châm chính trị lớn về hoà

bình thống nhất Tổ quốc”, chỉ rõ:

“Phương châm của ĐCSTQ đối với Đài

Loan từ “giải phóng Đài Loan bằng vũ

lực”, điều chỉnh thành phương thức

thông qua hiệp thương hoà bình, đàm

phán chính trị”[2; tr 171] Những động

thái đó cho thấy ý tưởng “Một nước hai

chế độ” có thể trở thành phương châm

để thực hiện thống nhất Đài Loan bằng

con đường hoà bình

Ngày 30-9-1981, Diệp Kiếm Anh đã

trình bày về phương châm 9 điểm trong

việc giải quyết vấn đề Đài Loan, trong

đó đã nêu rõ về chính sách “Một nước

hai chế độ” và chủ trương dùng chính

sách đó vào việc thống nhất Đài Loan

Tiếp đó, ngày 26-6-1983, Đặng Tiểu

Bình đã nêu phương án 6 điểm về việc

áp dụng chính sách “Một nước hai chế

độ” để thống nhất Đài Loan Phương án

6 điểm mà Đặng Tiểu Bình đã nêu lên

đó là: “… Sau khi thống nhất, Đài Loan

trở thành khu hành chính đặc biệt, có

thể thực hiện chế độ khác với Đại lục…;

Đài Loan còn có quân đội riêng, nhưng

không được tạo sự đe doạ đối với Đại

lục; Đại lục không cử người đến Đài

Loan, các hệ thống đảng, chính quyền,

quân đội của Đài Loan đều do Đài

Loan tự quản lý; Chính phủ Trung

ương còn để dành ghế cho Đài Loan;

Hy vọng nhà đương cục Đài Loan

nghiên cứu tỉ mỉ ý kiến của chúng tôi

để xoá bỏ hiểu lầm”[1; tr 4]

Sau khi Đặng Tiểu Bình và Diệp

Kiếm Anh đưa ra những ý kiến về việc

áp dụng chính sách “Một nước hai chế

độ” để thống nhất Đài Loan, các nhà

lãnh đạo TQ đã nhiều lần nhắc lại và

xem đó là chủ trương cơ bản của TQ trong qúa trình đấu tranh thống nhất

Đài Loan Tháng 5-1984, kỳ họp thứ hai khoá VI Đại hội đại biểu nhân dân

TQ đã nhất trí thông qua việc áp dụng chính sách “Một nước hai chế độ” trong quá trình đấu tranh thống nhất Đài Loan Từ đó, về cơ bản đã hình thành nên phương châm “Hoà bình thống nhất, Một nước hai chế độ” trong đấu tranh thống nhất Đài Loan của CHNDTH

Tháng 12-1990, tại Hội nghị công tác toàn quốc về Đài Loan, Tổng bí thư

ĐCSTQ Giang Trạch Dân và Chủ tịch nước CHNDTH Dương Thượng Côn đã nhắc lại phương châm chung đối với

Đài Loan là “Hoà bình thống nhất, Một nước hai chế độ” Tiếp đó, tại Hội nghị lần thứ hai khoá VII Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc nước CHNDTH, Thủ tướng TQ Lý Bằng một lần nữa nhấn mạnh: “… chúng ta sẽ kiên định phương châm “Một nước hai chế độ” thúc đẩy sự nghiệp lớn hoà bình thống nhất Tổ quốc”[1; tr 5]

Từ giữa thập kỷ 90 của thế kỷ XX, phương châm “Hoà bình thống nhất, Một nước hai chế độ” luôn được các nhà lãnh đạo CHNDTH coi là phương châm chỉ đạo cao nhất để giải quyết vấn đề

Đài Loan Tại lễ giao thừa năm 1995, Chủ tịch nước CHNDTH Giang Trạch Dân đã có bài phát biểu nhan đề “Tiếp tục phấn đấu để hoàn thành thống nhất đất nước”, trong đó nêu lên Tám kiến nghị về hoà bình giải quyết vấn đề

Đài Loan Bài phát biểu nói trên của Giang Trạch Dân đã được các nhà nghiên cứu gọi là “Chủ trương tám

Trang 8

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007

điểm”, hay “Tám điểm của Giang” Đó

chính là sự thể hiện lập trường của

CHNDTH trong việc thực hiện thống

nhất Đài Loan bằng con đường hoà

bình Từ đó đến nay, “Chủ trương tám

điểm” là phương châm chỉ đạo cao nhất

để thực hiện hoà bình thống nhất Đài

Loan

Bên cạnh đó, việc vận dụng chính

sách “Một nước hai chế độ” để thống

nhất Đài Loan bằng con đường hoà

bình cũng đã được các Đại hội của

ĐCSTQ thảo luận và thông qua Đại

hội XVI ĐCSTQ (11-2002), khẳng định:

“ Chúng ta kiên trì phương châm cơ

bản “Hoà bình thống nhất, Một nước

hai chế độ” và “Chủ trương 8 điểm”,

phát triển quan hệ hai bờ, thúc đẩy tiến

trình hoà bình thống nhất Tổ quốc, kiên

quyết phản đối các thế lực chia rẽ Đài

Loan…” [8; tr 77-78]

Hiện nay, thế hệ lãnh đạo thứ tư

của TQ do Hồ Cẩm Đào làm hạt nhân

vẫn kiên trì chủ trương hoà bình thống

nhất Đài Loan của các thế hệ lãnh đạo

trước đây Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đang

nỗ lực cùng với các nhà lãnh đạo và

toàn thể nhân dân TQ tích cực thúc đẩy

thực hiện đàm phán hai bờ, đưa chủ

trương thống nhất Đài Loan bằng con

đường hoà bình tới thắng lợi

4 ý nghĩa của việc vận dụng lý

luận “Một nước hai chế độ” vào

đấu tranh thống nhất Đài Loan

“Một nước hai chế độ” là tư tưởng

chính trị và là giải pháp quan trọng

trong qúa trình đấu tranh thống nhất

Đài Loan của CHNDTH Mục đích của

việc thực hiện “Một nước hai chế độ” là

gạt bỏ trở ngại trong quan điểm chính

trị giữa hai bên để cùng nhau đàm phán về thống nhất đất nước Thực hiện “Một nước hai chế độ” có ý nghĩa tích cực trong qúa trình đấu tranh thống nhất Đài Loan của CHNDTH Một là, thực hiện chính sách “Một nước hai chế độ” đã tạo nên sự khác biệt cơ bản về chất so với chủ trương hoà bình giải phóng Đài Loan trước

đây Trong những thập kỷ 50 và 60 của thế kỷ XX, do mâu thuẫn về lập trường thống nhất giữa ĐCSTQ và QDĐ, nên những kiến nghị hoà bình

mà Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai nêu lên đã không được thực hiện Điều

đó đã khiến cho thế hệ lãnh đạo thứ hai của TQ phải trăn trở tìm ra giải pháp để loại trừ sự khác biệt đó Trong bối cảnh đó chính sách “Một nước hai chế độ” đã trở thành một giải pháp quan trọng Thực tế cho thấy, thực hiện chính sách “Một nước hai chế độ”, nghĩa là thống nhất nhưng không loại trừ khác biệt đã làm giảm mâu thuẫn trong lập trường thống nhất của hai bên Hai bờ eo biển có thể đàm phán

để thống nhất nhưng vẫn có thể giữ nguyên chế độ chính trị của mình Hai là, chính sách “Một nước hai chế độ” đã trở thành cơ sở quan trọng của chủ trương “Hoà bình thống nhất, Một nước hai chế độ” Trong suốt một thời gian dài cả ĐCSTQ và QDĐ đều muốn có sự thống nhất giữa Đài Loan

và Đại lục, tuy nhiên bên nào cũng muốn thống nhất dưới sự lãnh đạo của mình Điều đó đã làm cho hai bên không thể tiến hành đàm phán và mong muốn thống nhất Đài Loan bằng con đường hoà bình cũng không có cơ

Trang 9

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007

sở thực tế Chính vì vậy, áp dụng

chính sách “Một nước hai chế độ” sẽ

gạt bỏ được trở ngại đó để hai bên có

thể đàm phán về việc thống nhất

Nghĩa là chủ trương thống nhất hoà

bình có cơ sở thực tế để thực hiện

Ba là, thực hiện “Một nước hai chế

độ”, CHNDTH có thể duy trì được

nguyên tắc chỉ có một nước TQ, như

vậy mục đích chia cắt Đài Loan ra

khỏi TQ của các thế lực bên ngoài và

chính quyền Đài Loan sẽ thất bại, TQ

sẽ không bị mất Đài Loan Từ đó, hai

bên có thể tiến hành đàm phán và

thống nhất đất nước

Bốn là, thực hiện “Một nước hai

chế độ” mà chủ thể là CHNDTH với

việc kiên trì CNXH, thực tế là đã xác

lập quyền lãnh đạo của ĐCSTQ đối với

Đài Loan Hơn nữa, CHNDTH cũng sẽ

tranh thủ được sự ủng hộ của cộng

đồng quốc tế cũng như nhân dân hai

bờ eo biển Đài Loan trong việc thống

nhất đất nước

Năm là, thực hiện “Một nước hai

chế độ” mà chủ thể là CHNDTH, sẽ

loại bỏ được âm mưu của các thế lực

bên ngoài hòng can thiệp vào Đài

Loan Chính sách “Một nước hai chế

độ” đã khẳng định sự toàn vẹn về lãnh

thổ của TQ và chủ quyền của TQ đối

với Đài Loan, điều đó khiến cho các

thế lực bên ngoài không còn lý do để

“quốc tế hoá vấn đề Đài Loan” và can

thiệp vào công việc nội bộ của TQ

Cho đến nay, “Một nước hai chế độ”

vẫn là một giải pháp chính trị hữu

hiệu nhất cho công cuộc thống nhất

Đài Loan của CHNDTH Trước chính

sách đòi “Đài Loan độc lập” của chính

quyền Trần Thuỷ Biển, việc kiên trì nguyên tắc “một TQ” và phương châm

“Một nước hai chế độ” sẽ là điều kiện tiên quyết đảm bảo thành công cho sự nghiệp thống nhất Đài Loan của CHNDTH

5 Những thách thức đặt ra đối với việc vận dụng chính sách “Một nước hai chế độ” trong quá trình

đấu tranh thống nhất Đài Loan Chính sách “Một nước hai chế độ”

đã đem lại hiệu quả to lớn trong qua trình thu hồi Hồng Công và Ma Cao của CHNDTH Tuy nhiên, khi vận dụng chính sách đó để thống nhất Đài Loan, CHNDTH gặp phải không ít thách thức từ nhiều phía

Thứ nhất, sự phát triển trong lịch

sử của Đài Loan đã tạo nên thách thức không nhỏ đối với công thức “Một nước hai chế độ” Kể từ khi được coi là một phần của lãnh thổ TQ, thì thời gian thống nhất giữa Đại lục và Đài Loan là rất ít Trong khi đó, về mặt địa lý, Đài Loan có sự tách biệt với Đại lục Hơn nữa, hơn 20 triệu dân Đài Loan lại có

sự độc lập về kinh tế và phát triển xã hội đối với Đại lục Vì vậy, so với Hồng Công hay Ma Cao, mối quan hệ gắn bó giữa hai bờ eo biển rất hạn chế Điều

đó đã ảnh hưởng rất lớn đối với mong muốn thống nhất của cư dân Đài Loan Thứ hai, tính chất của vấn đề Đài Loan cũng hoàn toàn khác với vấn đề Hồng Công hay Mao Cao Có thể nói, vấn đề Đài Loan, “không phải là ngoại giao mà là nội chính, song lại động chạm ngoại giao; không phải là đấu tranh chống thực dân để thu hồi chủ quyền quốc gia từ tay thực dân, mà là

Trang 10

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007

sự tiếp tục chính quyền này lật đổ

chính quyền kia Thế lực nước ngoài

can thiệp vào Đài Loan là thông qua

nhà đương cục Đài Loan và thế lực

chính trị địa phương Đài Loan, trong

ngoài kết hợp, lợi dụng lẫn nhau, làm

tăng hẳn mức độ khó khăn trong việc

hoà bình thống nhất Đài Loan”[3; tr

556] Chính sự phát triển phức tạp của

vấn đề Đài Loan đã và đang tạo ra

thách thức rất lớn cho công thức “Một

nước hai chế độ” của CHNDTH

Thứ ba, sự chênh lệch về mức sống

giữa Đài Loan và Đại lục cũng là thách

thức lớn khác đối với chính sách “Một

nước hai chế độ” Cho đến nay, mặc dù

CHNDTH đã đạt được những bước tiến

vượt bậc trong qúa trình xây dựng và

phát triển kinh tế, nhưng so với thu

nhập và mức sống của Đài Loan thì

vẫn còn một khoảng cách khá xa Vì

vậy, “sức mạnh tổng hợp của Đại lục

tuy không nhỏ, tiềm lực rất lớn, nhưng

bình quân đầu người lại thấp hơn quá

nhiều so với Đài Loan… làm cho TQ

đại lục khó bề phát huy tác dụng lớn

trong các sự vụ quốc tế và ngăn chặn

Đài Loan thực hiện chính sách hai

nước TQ” [5; tr 557]

Thứ tư, trước đây, Đài Loan dưới sự

lãnh đạo của Tưởng Giới Thạch và

Tưởng Kinh Quốc, mặc dù đối lập về

quan điểm, nhưng trước sau vẫn muốn

thống nhất giữa Đài Loan và Đại lục

(tất nhiên là thống nhất dưới sự lãnh

đạo của QDĐ) và luôn kiên trì chủ

quyền của TQ đối với Đài Loan Đó

chính là cơ sở quan trọng để thực hiện

“Một nước hai chế độ” Thế nhưng, từ

sau khi Lý Đăng Huy và tiếp đó là

Trần Thuỷ Biển lên cầm quyền, các nhà lãnh đạo Đài Loan đã liên tục đưa

ra những chính sách nhằm phủ nhận nguyên tắc “một Trung Quốc” và chủ quyền của TQ đối với Đài Loan, điều đó

đồng nghĩa với việc họ muốn phủ nhận cơ sở tồn tại của chính sách “Một nước hai chế độ” Do vậy, sự thay đổi trong chính sách của chính quyền Đài Loan

là một trong những yếu tố gây cản trở lớn nhất đối với chính sách “Một nước hai chế độ” của CHNDTH

Thứ năm, trong qúa trình đấu tranh thống nhất Đài Loan, CHNDTH luôn nhấn mạnh “đặt hy vọng vào nhân dân Đài Loan” và coi việc phát triển mối quan hệ tình cảm dân tộc giữa nhân dân hai bờ là nhân tố thúc đẩy sự thành công của chính sách “Một nước hai chế độ” Tuy nhiên, thực tế cho thấy, thái độ của dân chúng Đài Loan ngày càng bất lợi đối với CHNDTH Sau một thời gian dài sống theo tư tưởng tự do, dân chủ của phương Tây, lại chịu ảnh hưởng từ sự tuyên truyền chính sách thù địch của chính quyền

Đài Loan, nên ngày càng có nhiều người Đài Loan phủ nhận mình là người TQ Điều đó làm cho việc lợi dụng “sợi dây tình cảm” để thống nhất hai bờ của CHNDTH ngày càng mất đi chỗ dựa quan trọng Theo nhiều cuộc

điều tra dư luận được tiến hành ở Đài Loan thì “trung bình khoảng 80% số người được hỏi cho rằng họ không nhận thấy công thức “Một nước hai chế độ” là một giải pháp Họ sợ rằng Đài Loan sẽ

bị “thui chột”(“ảo hoá”- chết), rằng thay vì được là chủ nhân của ngôi nhà của mình, người Đài Loan sẽ mất quyền

Ngày đăng: 23/07/2014, 14:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm