1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bài giảng môn công pháp quốc tế 2022

357 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 357
Dung lượng 421,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

bình đẳng, thông qua đấu tranh thương lượng, nhằm điều chỉnh mối quan hệ nhiều mặt chủ yếu là quan hệ chính trị giữa các chủ thể của luật quốc tế với nhau chủ yếu là các quốc gia và tron

Trang 1

BÀI GIẢNG MÔN CÔNG PHÁP QUỐC TẾ Tín chỉ: 5 Năm học: 2022-2023

GVGD: TS Đào Thị Thu Hường

CHƯƠNG I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LUẬT QUỐC TẾ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Giáo trình Luật Quốc tế, Trường Đại học Pháp lý Hà Nội, Nxb Pháp lý, Hà Nội, 1984; PTS Đoàn Năng (chủ biên),

2 Giáo trình Luật Quốc tế, Khoa Luật Trường Đại học Khoa học, xã hội và nhân văn, Hà Nội, 1994;

3.Giáo trình Luật quốc tế, Trường đại học Luật Hà Nội, Nxb CAND, 2010; PGS.TS Nguyễn Bá Diến (chủ biên),

4 Giáo trình Tư pháp quốc tế, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2001; Nguyễn Hồng Thao (2000),

5.Toà án công lý quốc tế, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Tòa án hình sự quốc tế và việc gia nhập của Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo Khoa học 25-26/10/2006, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2007;

7.Giáo trình Công pháp quốc tế, George Scelle, Paris, 1948; Introduction to the Principle

of Morals and Legislation, London, 1780;

8 Antonio Cassese, International law divided world, Clarendon Press – Oxford, 1994;

9 Malcolm N.Shaw, International law, Cambridge University Press (Fifth edition), 2003.

I KHÁI NIỆM LUẬT QUỐC TẾ

1 Định nghĩa

Pháp luật là một phạm trù lịch sử, có quá trình hình thành và phát triển gắn với sựhình thành và phát triển của Nhà nước Trong quá trình hoạt động, Nhà nước đã sử dụngpháp luật như một trong những công cụ để quản lý, điều hành và điều chỉnh các quan hệ

xã hội Để thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại của mình, Nhà nước đã sử dụng haicông cụ pháp lý khác nhau là luật quốc gia và luật quốc tế Các quan hệ xã hội trong mộtquốc gia được điều chỉnh bởi hệ thống luật quốc gia, còn quan hệ giữa các quốc gia vớinhau lại được điều chỉnh bởi hệ thống luật quốc tế

Trang 2

Trên thực tế, quan hệ pháp lý quốc tế giữa các quốc gia đã có từ thời kỳ cổ đạinhưng thuật ngữ “luật quốc tế” ra đời muộn hơn Trong nhà nước chiếm hữu nô lệ La Mã,

để phân biệt pháp luật điều chỉnh quan hệ pháp lý giữa những người dân La Mã với nhau

(jus civile), người ta thấy xuất hiện một khái niệm mới luật vạn dân (jus gentium) “Luật

vạn dân” bao gồm: Những quy phạm điều chỉnh quan hệ pháp lý giữa những người dân

La Mã với những người nước ngoài và giữa những người nước ngoài với nhau trên lãnhthổ La Mã; những quy phạm pháp lý chung cho các nước; những quy phạm pháp lý điềuchỉnh quan hệ giữa các nước với nhau

Đến thế kỷ XVI, nhà triết học, thần học, luật học người Tây Ba Nha Francisco deVictoria (1480-1546) đã đưa ra thuật ngữ “Luật các dân tộc” (jus inter gentes) Năm 1789,

nhà triết học, luật học người Anh Jeremy Bentham (1748-1832) trong tác phẩm “Những nguyên tắc của đạo đức và pháp luật” đã sử dụng thuật ngữ “Luật quốc tế” để chỉ hệ thống pháp luật giữa các quốc gia Từ đó, thuật ngữ luật quốc tế trở nên thông dụng trong

lý luận cũng như trong thực tiễn ngoại giao của các nước Trong tiếng Anh, thuật ngữ

La-tinh jus inter gentes được dùng là International Law, tiếng Pháp là Droit international,

tiếng Đức là Volkerrecht Ngoài ra, một số thuật ngữ tương đồng khác như “Pháp luậtquốc tế”, “Luật quốc tế chung”… cũng đang được sử dụng rộng rãi trong khoa học pháplý

Các thuật ngữ trên đều có sự tương đồng về những nội dung cơ bản với ý nghĩadùng để chỉ hệ thống các nguyên tắc và quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ quốc tếphát sinh giữa các quốc gia và chủ thể khác của luật quốc tế Tuy nhiên, cần phân biệt cácthuật ngữ trên với “luật quốc tế khu vực” Luật quốc tế khu vực là tổng thể các quy phạmđiều chỉnh quan hệ giữa các quốc gia trong cùng một khu vực địa lý hoặc cùng xu hướngchính trị, tôn giáo hay các liên kết khu vực như: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á(ASEAN), Liên minh châu Âu (EU)…

Bên cạnh đó, cần phân biệt giữa luật quốc tế với khoa học luật quốc tế Khoa học

luật quốc tế là môn khoa học pháp lý chuyên ngành nghiên cứu các vấn đề lý luận và thựctiễn đặt ra trong quan hệ quốc tế giữa các quốc gia và các chủ thể quốc tế khác thuộcphạm vi điều chỉnh của luật quốc tế

Luật quốc tế được phân chia thành luật xung đột (hay đôi khi còn được gọi là tưpháp quốc tế) và công pháp quốc tế (thường được gọi là luật quốc tế)1 Đối tượng điềuchỉnh của tư pháp quốc tế là các quan hệ dân sự - kinh tế - thương mại, quan hệ lao động,quan hệ hôn nhân và gia đình mang yếu tố nước ngoài (yếu tố quốc tế) Ngoài ra, Tư phápquốc tế còn tham gia nghiên cứu việc xác định thẩm quyền xét xử của cơ quan tư phápđối với các vụ án kiện dân sự, lao động, hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài; xácđịnh địa vị pháp lý của công dân, pháp nhân nước này trước cơ quan tư pháp của nước

1 This term was fisrt used by J.Bentham: see Introduction to the Principle of Morals and Legislation, London, 1780.

Trang 3

khác; quy định nguyên tắc và thủ tục ủy thác tư pháp; vấn đề công nhận và cho thi hànhbản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài; công nhận và cho thi hành các quyếtđịnh của Trọng tài nước ngoài…2 Trong khi đó, công pháp quốc tế điều chỉnh mối quan

hệ giữa các quốc gia, các quan hệ mang tính liên chính phủ phát sinh trong các lĩnh vực

(chính trị, kinh tế, xã hội…) của đời sống quốc tế Thuật ngữ “luật quốc tế” trong cuốn

giáo trình này được dùng để chỉ công pháp quốc tế

Luật quốc tế đã trải qua một chặng đường dài hình thành và phát triển Theo từnggiai đoạn và bối cảnh lịch sử, xã hội mà luật quốc tế có những đặc điểm khác nhau Ngàynay, trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập khu vực và thế giới, Luật quốc tế hiện đại làkết quả và là sự phản ánh các quan hệ quốc tế trong điều kiện hợp tác, phát triển của cộngđồng thế giới đang có những thay đổi to lớn về mọi phương diện, cấp độ, tuân theo quyluật vận động khách quan ở từng quốc gia cũng như trên phạm vi toàn cầu Pháp luật quốc

tế hiện đại thể hiện xu thế phát triển và kết quả đấu tranh chung của các lực lượng vì hòabình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ trên thế giới

Xét trên bình diện chung, vấn đề định nghĩa “luật quốc tế” là một vấn đề phức tạpbởi đây không thuần túy là vấn đề học thuật mà là vấn đề mang tính chính trị, pháp lý

Dựa trên chủ nghĩa duy tâm siêu hình, các học giả và luật gia các nước phươngTây đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về luật quốc tế

Luật gia người Pháp – Ch.Routsseau cho rằng: “Luật quốc tế là ngành luật điều chỉnh quan hệ giữa các nước hay đúng hơn giữa các chủ thể của luật quốc tế với nhau”

Trong giáo trình Công pháp quốc tế xuất bản tại Paris năm 1948, Giáo sư người

Pháp George Scelle đã định nghĩa: “Luật quốc tế là tổng hợp các quy phạm hay quy tắc của cộng đồng các dân tộc” 3

Còn theo luật gia người Áo – Verdross: “Luật quốc tế là tổng hợp các quy phạm có tính chất điều ước hay tập quán cũng như các nguyên tắc pháp lý thông thường nhằm điều chỉnh các quan hệ quốc tế ”

Như vậy, theo quan điểm của một số luật gia nêu trên, luật quốc tế là tổng hợpnhững quy phạm (hay quy tắc) pháp lý nhằm điều chỉnh quan hệ giữa các quốc gia vớinhau Những định nghĩa này đã nêu lên được một số đặc trưng quan trọng của luật quốc tếnhư đặc điểm về chủ thể, đặc điểm về chức năng, đối tượng điều chỉnh tuy nhiên chúngvẫn chưa nêu bật và thể hiện được bản chất của luật quốc tế

Trong khi đó, các nhà luật học tại của hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa lại nhận

định: “Luật quốc tế là tổng thể những nguyên tắc, quy phạm pháp lý, được các quốc gia

và các chủ thể khác tham gia quan hệ pháp lý quốc tế xây dựng trên cơ sở tự nguyện và

2 PGS.TS Nguyễn Bá Diến (chủ biên), Giáo trình Tư pháp quốc tế, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội,

200.

3 Giáo trình Công pháp quốc tế, George Scelle, Paris, 1948

Trang 4

bình đẳng, thông qua đấu tranh thương lượng, nhằm điều chỉnh mối quan hệ nhiều mặt (chủ yếu là quan hệ chính trị) giữa các chủ thể của luật quốc tế với nhau (chủ yếu là các quốc gia) và trong những trường hợp cần thiết, được đảm bảo thực hiện bằng những biện pháp cưỡng chế riêng lẻ hoặc tập thể do chính các chủ thể của luật quốc tế thi hành, và bằng sức đấu tranh của nhân dân và dư luận tiến bộ thế giới” Có thể thấy bản chất của

luật quốc tế đã được khắc họa rõ nét qua định nghĩa này Trên cơ sở đó, tạo tiền đề choviệc xây dựng, hoàn thiện lý luận về luật quốc tế trong các giai đoạn sau

Từ góc độ lý luận và thực tiễn, ta có thể định nghĩa: “Luật quốc tế là hệ thống các nguyên tắc và quy phạm pháp luật, được các quốc gia và các chủ thể khác của luật quốc

tế thỏa thuận tạo dựng nên trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng, nhằm điều chỉnh những quan hệ phát sinh giữa các chủ thể của luật quốc tế với nhau trong mọi lĩnh vực của đời sống quốc tế”.

2 Đặc điểm

Luật quốc tế có những điểm khác biệt so với hệ các hệ thống pháp luật khác.Những nét đặc trưng cơ bản này được thể hiện qua các khía cạnh cụ thể như sau:

- Thứ nhất, luật quốc tế được xây dựng trên cơ sở thỏa thuận, thể hiện ý chí của

các chủ thể Trong cộng đồng quốc tế, không có cơ quan lập pháp tối cao đứng trên cácquốc gia để đặt ra các quy tắc, quy phạm pháp luật quốc tế Chính các quốc gia vừa là đốitượng chịu sự chịu sự chi phối của luật quốc tế vừa là thực thể đặt ra những nguyên tắc,quy định của luật Thông qua quá trình thỏa thuận, các quốc gia đã soạn thảo các điều ướcquốc tế, thiếp lập những quy tắc của luật quốc tế trong những lĩnh vực nhất định Nhữngquy tắc này chỉ có hiệu lực nếu có sự chấp thuận của các quốc gia Bằng việc ký kết, phêchuẩn, phê duyệt điều ước quốc tế, các quốc gia cam kết thực hiện các quy phạm phápluật quốc tế và chịu sự ràng buộc từ chính những cam kết đó

- Thứ hai, Luật quốc tế không có hệ thống cơ quan tư pháp như trong pháp luật

quốc gia (không có hệ thống cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, cơ quan thi hành ánđược tổ chức theo tầng cấp, theo khu vực như trong pháp luật quốc gia)

Trong luật quốc tế, Tòa án chỉ có thẩm quyền xét xử nếu được sự chấp nhận thẩm

quyền của các quốc gia thành viên Theo Điều 36 Quy chế Tòa án quốc tế: “Tòa có thẩm quyền tiến hành xét tất cả các vụ việc mà các bên đưa ra cũng như tất cả các vấn đề được nêu riêng trong Hiến chương Liên hợp quốc hoặc trong các hiệp ước, các công ước đang

có hiệu lực” Như vậy, thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Tòa dựa trên cơ sở sự đồng

ý, chấp thuận một cách rõ ràng của các quốc gia Điều này cũng được Tòa án Công lý

quốc tế khẳng định lại trong rất nhiều phán quyết của mình: “Phán xử về trách nhiệm quốc tế của Anbani mà không có sự đồng ý của nước đó là hành động đi ngược lại một nguyên tắc của luật quốc tế đã được xác lập rõ ràng và được thể hiện trong Quy chế của

Trang 5

Tòa Đó là Tòa không thể thực hiện thẩm quyền tài phán của mình đối với một quốc gia nếu không có sự đồng ý của quốc gia đó” 4

Tương tự như Tòa án Công lý quốc tế, Tòa án Luật biển quốc tế cũng chỉ có thẩmquyền xét xử khi được sự chấp thuận của các quốc gia hữu quan Theo Điều 21 Mụ 2 Phụ

lục VI Công ước Luật biển 1982 về Quy chế của Tòa án quốc tế về luật biển thì: “Tòa án

có thẩm quyền đối với tất cả các vụ tranh chấp và tất cả các yêu cầu được đưa ra Tòa theo đúng công ước, và đối với tất cả các trường hợp được trù định rõ trong mọi thỏa thuận khác, giao thẩm quyền cho Tòa án”.

Ngoài ra, bên cạnh Tòa án, trong quan hệ quốc tế, Tòa trọng tài (giải quyết tranh

chấp phát sinh từ các quan hệ mang tính liên quốc gia) là một trong những thiết chế tàiphán khác, thuộc sự lựa chọn của các quốc gia Cơ sở xác định thẩm quyền của tòa trọngtài là sự nhất trí của các bên tranh chấp về việc đưa vụ tranh chấp ra giải quyết tại tòatrọng tài

- Thứ ba, Luật quốc tế có hệ thống chế tài đa dạng, phong phú Trước đây, xuất

phát từ sự so sánh những điểm khác biệt giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia,nhiều người cho rằng luật quốc tế không có chế tài Tuy nhiên, những quan điểm nàykhông chuẩn xác Trên thực tế, luật quốc tế có cơ chế đảm bảo thi hành và hệ thống chếtài đặc thù rất đa dạng

+ Cơ chế đảm bảo thi hành luật quốc tế

Cơ chế kiểm soát quốc tế là một trong những phương thức đảm bảo hiệu quả thựcthi pháp luật quốc tế, phòng ngừa những hành vi vi phạm của các quốc gia trong quan hệquốc tế Cơ chế này bao gồm việc yêu cầu các quốc gia trình bày báo cáo, thanh tra vềbáo cáo của các quốc gia và hoạt động bảo vệ báo cáo của các quốc gia về một lĩnh vựcnhất định của luật quốc tế trước các cơ quan, thiết chế quốc tế (VD: Cơ chế làm và bảo vệbáo cáo quốc gia của các thành viên Công ước của Liên hợp quốc về xóa bỏ tất cả cáchình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ CEDAW)

Cơ chế các quốc gia trình bày báo cáo về việc thi hành những nghĩa vụ quốc tế đãcam kết, thảo luận các báo cáo này tại các cơ quan, thiết chế quốc tế được áp dụng trongmột số lĩnh vực hợp tác theo quy định của luật quốc tế (như trong khuôn khổ của Tổ chứcLao động quốc tế ILO…)

Trong một số lĩnh vực đặc thù (như lĩnh vực vũ khí hạt nhân…), các thiết chế quốc

tế có thể tiến hành thanh tra về tính xác thực trong các thông tin do các quốc gia đưa ratrong báo cáo (VD: Cơ chế thanh sát của Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân5)

4 Nguyễn Hồng Thao, Tòa án Công lý quốc tế, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000.

5 Cơ chế thanh sát của Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân được tiến hành nhằm mục đích đảm bảo thực hiện các điều ước quốc tế Hiện nay, việc thanh tra được tiến hành theo các phương thức sau: i) Thanh tra của tổ chức quốc tế (VD: Thanh sát của cơ quan năng lượng nguyên tử IAEA); ii)Thanh tra được thực hiện bởi các quốc gia hữu

Trang 6

+ Chế tài trong luật quốc tế hiện đại

Luật quốc tế được hình thành trên cơ sở sự cam kết, tự nguyện thực hiện các nghĩa

vụ quốc tế của các chủ thể Tuy nhiên trong trường hợp các chủ thể vi phạm các cam kết

và nghĩa vụ quốc tế thì họ cũng phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý tương ứng Vấn đềtrách nhiệm pháp lý quốc tế được đặt ra để cưỡng chế buộc các chủ thể đã thực hiện hành

vi trái pháp luật quốc tế hoặc tuy thực hiện hành vi mà pháp luật quốc tế không cấmnhưng gây ra thiệt hại cho chủ thể khác, phải thực hiện một số yêu cầu để khắc phục vàphải gánh chịu những biện pháp trừng phạt nhất định trên cơ sở pháp luật quốc tế

Như vậy, khi các chủ thể vi phạm nghĩa vụ thành viên và vi phạm quy định củaluật quốc tế thì luật quốc tế sẽ ràng buộc chủ thể vi phạm vào những trách nhiệm pháp lý

cụ thể để buộc chủ thể đó phải có nghĩa vụ trong việc khôi phục lại trật tự pháp lý quốc tế

đã bị xâm hại

Luật quốc tế có những chế tài để đảm bảo luật được thực thi một cách hiệu quả tuynhiên chế tài trong luật quốc tế có những điểm đặc thù sau:

Thứ nhất, chế tài của luật quốc tế do chính quốc gia tự thực hiện theo những

cách thức riêng lẻ hoặc tập thể Trong một số trường hợp do cơ quan tàiphán quốc tế thực hiện Do luật quốc tế không có một cơ quan hành phápthường trực riêng biệt, không có quân đội và cảnh sát riêng nên những chếtài của luật quốc tế do chính quốc gia thực hiện Quân đội, lực lượng thihành pháp luật tiến hành các biện pháp cưỡng chế khi cần thiết được huyđộng từ quân đội của chính các quốc gia thành viên

Thứ hai, các biện pháp chế tài do quốc gia áp dụng trong trường hợp có vi

phạm pháp luật quốc tế của một chủ thể khác

Chủ thể của luật quốc tế áp dụng nhiều cách thức, biện pháp khác nhau để đảm bảocho việc thực thi luật quốc tế Bên cạnh các biện pháp mang tính pháp lý, các chủ thể củaluật quốc tế còn dùng những yếu tố chính trị - xã hội để tạo hiệu quả cho việc thi hànhluật (VD: tác động vào quan hệ ngoại giao, cấm vận, cắt đứt quan hệ ngoại giao…)

Chế tài của luật quốc tế có thể khái quát gồm những hình thức chủ yếu sau:

- Các chế tài phi hình sự (VD: công khai xin lỗi, cắt đứt quan hệ ngoại giao, cấmvận, buộc bồi thường thiệt hại…);

- Các chế tài hình sự (áp dụng với cá nhân gây ra tội ác chống loài người, tội diệtchủng, tội ác chiến tranh, tội xâm lược…)

quan, thành viên của điều ước quốc tế thực hiện dưới sự giám sát của các cơ quan quốc tế; iii) Thanh tra chéo giữa các quốc gia do các thành viên điều ước quốc tế thực hiện (VD: Hoạt động thanh tra được ghi nhận trong Hiệp ước

về Nam Cực năm 1959).

Trang 7

- Chế tài quân sự (áp dụng các biện pháp trừng phạt bằng lực lượng vũ trang đốivới quốc gia vi phạm hòa bình hoặc đe dọa hòa bình…)

Trong các chế tài nêu trên của luật quốc tế, chế tài quân sự là hình thức truy cứutrách nhiệm pháp lý quốc tế mang tính nghiêm khắc nhất, được áp dụng đối với các viphạm luật quốc tế nghiêm trọng và chỉ được tiến hành mang tính chất tập thể Chế tài nàyđược thực hiện trên cơ sở quyết định của Hội đồng bảo an trong khuôn khổ của Liên hợp

quốc Điều 42 Hiến chương Liên hợp quốc quy định Hội đồng Bảo an có thẩm quyền áp

dụng mọi hành động của hải, lục, không quân mà Hội đồng Bảo an xét thấy cần thiết cho việc duy trì hoặc khôi phục hòa bình và an ninh quốc tế Những hành động này có thể là những cuộc biểu dương lực lượng, phong tỏa và những chiến dịch khác, do các lực lượng hải, lục, không quân của các Thành viên Liên hợp quốc thực hiện Từ năm 1948, Liên

hợp quốc liên tục cử các phái bộ gìn giữ hòa bình tới các “điểm nóng” về an ninh trên thếgiới (VD: Tháng 7/1960, Liên hợp quốc đã tổ chức chiến dịch gìn giữ hòa bình ở Công-

gô Hoạt động này nhằm đảm bảo sự rút quân của Bỉ, trợ giúp Chính phủ Công-gô trongviệc duy trì luật pháp và trật tự; đồng thời trợ giúp về kỹ thuật, từ đó giúp duy trì sự toànvẹn lãnh thổ và nền độc lập của Công-gô, ngăn chặn chiến tranh tiếp tục xảy ra, đảm bảo

sự rút quân của quân đội và nhân viên bán quân sự nước ngoài…)

Theo quy định của Hiến chương Liên hợp quốc, Hội đồng Bảo an có thẩm quyềnxác định sự tồn tại mọi sự đe dọa hòa bình, phá hoại hòa bình hoặc hành vi xâm lược vàđưa ra những kiến nghị hoặc quyết định các biện pháp nào nên áp dụng phù hợp với luậtpháp quốc tế để duy trì hoặc khôi phục hòa bình và an ninh quốc tế

Để góp phần vào việc duy trì hòa bình và an ninh quốc tế, theo yêu cầu của Hộiđồng Bảo an và phù hợp với những hiệp ước đặc biệt hoặc các hiệp ước cần thiết cho việcduy trì hòa bình và an ninh quốc tế, tất cả các nước thành viên Liên hợp quốc có nghĩa vụcung cấp cho Hội đồng Bảo an những lực lượng vũ trang, sự yểm trợ, và mọi phương tiệnkhác, kể cả việc cho phép quân đội Liên hợp quốc đi qua lãnh thổ của mình (Điều 43khoản 1 Hiến chương Liên hợp quốc)

Trên thực tế, nhiều năm qua, với những nỗ lực không ngừng, lực lượng gìn giữ hòabình của Liên hợp quốc, những lính mũ nồi xanh mang sứ mệnh gìn giữ hòa bình đã gópphần đáng kể vào việc duy trì, lập lại hòa bình, an ninh quốc tế, giải quyết nhiều lò lửaxung đột ở Apganixtan, Campuchia, Iran, Irắc hay sự bế tắc lâu dài ở Nammibia, xung đột

ở Trung Mỹ, nội chiến ở Awngola, Mô dăm bích…

Ngoài biện pháp quân sự, Hội đồng Bảo an có thẩm quyền quyết định những biệnpháp nào phải được áp dụng mà không liên quan tới việc sử dụng vũ lực để thực hiện cácnghị quyết của Hội đồng, và có thể yêu cầu các thành viên của Liên hợp quốc áp dụngnhững biện pháp ấy Các biện pháp này có thể là cắt đứt toàn bộ hay từng phần quan hệkinh tế, đường sắt, đường biển, hàng không, bưu chính, điện tín, vô tuyến điện và cácphương tiện liên lạc khác, kể cả việc cắt đứt quan hệ ngoại giao

Trang 8

Bên cạnh những biện pháp cưỡng chế, biện pháp quân sự áp dụng đối với các quốcgia nêu trên, Luật quốc tế cũng quy định rõ việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với cánhân có hành vi vi phạm pháp luật quốc tế, đe dọa đến hòa bình và an ninh quốc tế Khiquốc gia có hành vi vi phạm nghiêm trọng pháp luật quốc tế thì quốc gia phải chịu tráchnhiệm pháp lý quốc tế, các cá nhân có liên quan phải gánh chịu trách nhiệm hình sự quốc

tế Theo Điều 5 khoản 1 Quy chế Rome, Tòa án Hình sự quốc tế (ICC) có thẩm quyền xét

xử đối với các cá nhân phạm các tội ác nghiêm trọng nhất đối với cộng đồng quốc tế Đó

là các tội: tội diệt chủng; tội chống loài người; tội ác chiến tranh; tội xâm lược Những cánhân này có thể là công dân của các quốc gia thành viên hoặc công dân của các quốc giaphi thành viên Quy chế (Điều 12, và Điều 13) khi:

- Họ thực hiện tội phạm trên lãnh thổ quốc gia thành viên hoặc trên tàu bay, tàuthuyền được đăng ký tại quốc gia thành viên;

- Quốc gia mà họ mang quốc tịch hoặc quốc gia nơi họ thực hiện tội phạm đã chấpnhận quyền tài phán của Tòa án;

- Vụ việc do Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc thông báo cho ICC theo thẩm quyềnquy định tại Chương VII Hiến chương Liên hợp quốc

Đặc biệt việc cá nhân được hưởng quyền miễn trừ theo luật quốc gia hoặc luậtquốc tế không cản trở Tòa án thực hiện quyền tài phán đối với họ (Điều 27 Quy chếRome)6 Việc cá nhân thực hiện hành vi tội phạm với tính chất thừa hành công vụ không

là cơ sở pháp lý để giải thoát cho cá nhân khỏi trách nhiệm hình sự Sự trừng phạt đượctiến hành trên cơ sở phán quyết của cơ quan tài phán quốc tế (VD: Phán quyết của Tòa ánquốc tế) hoặc theo thẩm quyền tài phán quốc gia Địa vị pháp lý của cá nhân (nguyên thủquốc gia, người đứng đầu Chính phủ, Bộ trưởng Bộ ngoại giao) không là cơ sở để loại trừtrách nhiệm hình sự của những người này khi họ có những hành vi vi phạm mang tínhchất là tội ác quốc tế

3 Đối tượng điều chỉnh của Luật quốc tế

Mỗi ngành luật đều có đối tượng điều chỉnh riêng, điều chỉnh một số quan hệ xãhội nhất định Luật quốc gia điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong phạm vi của quốcgia Còn luật quốc tế có nhiệm vụ điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong đời sốngquốc tế Quan hệ xã hội phát sinh trong thực tiễn quốc tế gồm: quan hệ chính trị, kinh tế,khoa học – kỹ thuật, văn hóa, xã hội giữa các quốc gia và các chủ thể khác của luật quốc

tế với nhau Không giống với các quan hệ do luật quốc gia điều chỉnh, quan hệ thuộcphạm vi điều chỉnh của luật quốc tế là những quan hệ mang tính liên quốc gia, liên chínhphủ phát sinh trong mọi mặt của đời sống quốc tế

6 Tòa án hình sự quốc tế và việc gia nhập của Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo Khoa học 25-26/10/2006, Nxb Tư pháp,

Trang 9

Như vậy, đối tượng điều chỉnh của pháp luật quốc tế là các quan hệ liên quốc gia(liên chính phủ) giữa các quốc gia và các thực thể quốc tế khác phát sinh trong mọi lĩnhvực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội

Tính chất liên quốc gia, liên chính phủ là đặc trưng quan trọng của quan hệ phápluật quốc tế, là căn cứ xác định tính pháp lý quốc tế của mối quan hệ giữa các quốc gia vàchủ thể khác của luật quốc tế Đồng thời, đây là cơ sở để phân biệt quan hệ pháp luật quốc

tế của quốc gia với các quan hệ pháp luật khác mà quốc gia là một bên chủ thể, ví dụ quan

hệ pháp luật thuộc phạm vi tư pháp quốc tế hay các quan hệ pháp luật thương mại quốc

tế, kinh tế quốc tế, quan hệ giữa quốc gia với các tổ chức quốc tế phi chính phủ Việcphân biệt quan hệ pháp luật quốc tế với các quan hệ pháp luật khác mà quốc gia là chủ thể

có ý nghĩa quan trọng vì nó liên quan đến vấn đề xác định quyền, nghĩa vụ, trách nhiệmpháp lý của quốc gia cũng như cơ chế pháp lý giải quyết tranh chấp phát sinh

4 Chủ thể của luật quốc tế

4.1 Khái niệm

Bản chất của luật quốc tế thể hiện qua các bộ phận cấu thành quan hệ pháp lý quốc

tế Một trong các bộ phận quan trọng cấu thành quan hệ pháp lý đó chính là chủ thể củaluật quốc tế

Trên thực tế, bất cứ một hệ thống pháp luật nào cũng có các chủ thể pháp luật nhấtđịnh vốn có của nó Các chủ thể này phụ thuộc vào đối tượng được hệ thống pháp luật đóđiều chỉnh và trong một mức độ nhất định, phụ thuộc vào phương pháp điều chỉnh đặc thùcho từng hệ thống pháp luật Ngoài ra, các chủ thể của một hệ thống pháp luật còn thay đổitheo quá trình phát triển của lịch sử, theo những biến chuyển trong đối tượng và phươngpháp điều chỉnh pháp luật

Hệ thống pháp luật quốc gia điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong phạm vi quốcgia nên chủ thể của pháp luật quốc gia nói chung là cá nhân, thể nhân (công dân, ngườinước ngoài) và các tổ chức nhất định của cá nhân, các cơ quan nhà nước được pháp luậtcông nhận có quyền năng chủ thể Hệ thống pháp luật quốc tế điều chỉnh các quan hệ phátsinh trong thực tiễn quốc tế (các quan hệ quốc tế) nên chủ thể của nó bao gồm các quốcgia, các tổ chức đại diện cho nhiều quốc gia (tổ chức quốc tế)

Trong từng giai đoạn lịch sử khác nhau, số lượng chủ thể, vị trí chủ thể, quan niệm

về chủ thể của pháp luật quốc tế cũng khác nhau Ở giai đoạn chiếm hữu nô lệ, chủ thể củapháp luật quốc tế là các quốc gia chủ nô, các liên đoàn chính trị, tôn giáo của các quốc giathành bang, các quốc gia “chư hầu” và địa vị của các chủ thể là không bình đẳng Trongthời kì phong kiến, chủ thể của luật quốc tế lại là các quốc gia phong kiến, các đế chế thiênchúa giáo, những tiểu quốc của các nhà quý tộc, các quốc gia “chư hầu” Địa vị của chủthể trong thời kỳ này cũng vẫn mang tính chất không bình đẳng Trong thời kỳ tư bản chủ

Trang 10

nghĩa có thay đổi rất lớn về số lượng và vị thế của các chủ thể Trong giai đoạn này, khicác cuộc cách mạng tư sản ở Anh, Pháp, Mỹ nổ ra và phong trào giải phóng dân tộc pháttriển, vấn đề bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia, quyền năng chủ thể pháp luật quốc tếcủa các bên tham chiến và của các quốc gia có chủ quyền bị hạn chế đã được đặt ra Tuynhiên trên thực tế, sự bình đẳng giữa các bên còn mang tính hình thức

Ngày nay, với nhiều biến đổi lớn lao trong xã hội quốc tế, cũng như trong lý luận vềpháp luật quốc tế, quá trình dân chủ hóa đã có những tác động làm thay đổi chủ thể và vịthế chủ thể pháp luật quốc tế Trong lý luận và thực tiễn về pháp luật quốc tế đã xuất hiệnnhiều trường phái, học thuyết, nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề phạm vi, số lượngchủ thể của luật quốc tế hiện đại Có trường phái chỉ coi luật quốc gia là chủ thể duy nhấtcủa pháp luật quốc tế Có trường phái lại coi tập đoàn các quốc gia, các cá nhân cũng làchủ thể của pháp luật quốc tế bên cạnh các chủ thể khác

Thực tế trên thế giới hiện nay ngoài quan điểm truyền thống cho rằng quốc gia, các dântộc đang đấu tranh, tổ chức liên chính phủ, chủ thể đặc biệt khác là chủ thể của luật quốc tế thìcòn có quan điểm hiện đại cho rằng cá nhân, các công ty xuyên quốc gia, tổ chức phi chínhphủ cũng nên được xem là chủ thể của luật quốc tế Đây là quan điểm mới và cũng được một

số nước trên thế giới công nhận

Theo lý luận Mác – Lênin về chủ thể của pháp luật, các chủ thể của pháp luật, tuy

có sự khác nhau về vị trí, vai trò, chức năng, bản chất nhưng chúng thường có dấu hiệuchung, dấu hiệu cơ bản, đặc trưng mà các thực thể khác không thể có Xuất phát từ cơ sở lýluận đó, chúng ta nhận định chủ thể của pháp luật quốc tế cũng có các dấu hiệu cơ bảnphân biệt với các thực thể khác Các dấu hiệu đó là:

- Có sự tham gia vào quan hệ pháp luật quốc tế;

- Có ý chí độc lập (không lệ thuộc vào các chủ thể khác) trong quan hệ quốc tế;

- Có đầy đủ quyền và nghĩa vụ riêng biệt đối với các chủ thể khác thuộc phạm vi điềuchỉnh của hệ thống pháp luật quốc tế;

- Độc lập chịu trách nhiệm pháp lý quốc tế

Khi xác định chủ thể của luật quốc tế hiện đại, chúng ta cần lưu ý xem thực thểđang xét có hội đủ các dấu hiệu cơ bản của một chủ thể của luật quốc tế như đã nêu trênhay không Nếu thiếu một trong những dấu hiệu cơ bản đó thì không thể được coi là chủthể của luật quốc tế hiện đại

Xuất phát từ những dấu hiệu xác định tư cách chủ thể của luật quốc tế, có thể đưa ramột định nghĩa tổng quát về chủ thể của pháp luật quốc tế như sau:

Chủ thể của luật quốc tế là bộ phận cấu thành cơ bản của quan hệ pháp luật quốc

tế, là thực thể đang tham gia hoặc có khả năng tham gia vào những quan hệ đó một cách

Trang 11

độc lập, có đầy đủ quyền và nghĩa vụ quốc tế và chịu trách nhiệm pháp lý quốc tế về những hành vi mà chính chủ thể thực hiện.

Từ định nghĩa trên, ta thấy chủ thể đầu tiên, chủ yếu của pháp luật quốc tế là quốcgia Quốc gia chính là trung tâm của xã hội quốc tế

Các tổ chức quốc tế liên chính phủ do các quốc gia thỏa thuận thành lập phù hợpvới các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế hiện đại là chủ thể hạn chế của luật quốc tế, vì

tổ chức quốc tế liên chính phủ chỉ có một số quyền và nghĩa vụ hạn chế do các quốc giathành viên thỏa thuận giao cho

Về quan điểm cho rằng cá nhân, pháp nhân, tổ chức quốc tế phi chính phủ cũng làchủ thể của luật quốc tế hiện đại, ta thấy rằng:

Cá nhân là chủ thể mang tính tự nhiên, là một thực thể sinh học chiếm số lượng lớnnhất trong xã hội Cá nhân là chủ thể thường xuyên và quan trọng nhất của nhiều ngành luậtnhư: pháp luật dân sự, pháp luật hình sự, pháp luật đất đai…bởi đây là chủ thể đầu tiên và cơbản trong tất cả các mối quan hệ xã hội Tuy nhiên, vẫn còn nhiều các quốc gia chưa côngnhận cá nhân là chủ thể của luật quốc tế

Năng lực pháp luật của cá nhân là khả năng có quyền và nghĩa vụ Đây là nhữngquyền do nhà nước quy định và không ai được tự hạn chế nghĩa vụ của mình cũng nhưquyền và nghĩa vụ của người khác Mọi cá nhân sinh ra không phân biệt giới tính, thànhphần dân tộc, giàu nghèo, tôn giáo…đều có năng lực pháp luật như nhau và được nhànước đảm bảo thực hiện Điều này được công nhận tại Điều 6 Tuyên ngôn quốc tế Nhânquyền năm 1948.7

Năng lực hành vi của cá nhân là khả năng cá nhân bằng hành vi của mình xác lập

và thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý cũng như độc lập chịu trách nhiệm về hành vicủa mình Khả năng này được xác định dựa theo độ tuổi và khả năng nhận thức của conngười Năng lực hành vi của cá nhân ở các quốc gia khác nhau và ở nhiều thời điểm khácnhau là khác nhau

Tính chủ thể pháp lý của cá nhân được thể hiện ở chỗ cá nhân cũng gánh vác tráchnhiệm và nghĩa vụ cũng như hưởng lợi các quyền lợi mà luật quốc tế quy định, bởi suycho cùng hành vi của từng cá nhân trong một quốc gia là cách thức quốc gia đó thực hiệnquyền và nghĩa vụ quốc tế

Pháp nhân

Pháp nhân xem xét ở đây được hiểu là các công ty quốc tế, công ty đa quốc gia và cáccông ty xuyên quốc gia Xét về mặt tài chính hay kinh tế, các khái niệm này có sự khác biệt

rõ rệt Tuy nhiên, khi đặt chúng trong quan hệ quốc tế thì việc hoạt động trên quy mô quốc tế

7 Điều 6, Tuyên ngôn nhân quyền năm 1948.

Trang 12

cho phép chúng ta dùng thuật ngữ công ty xuyên quốc gia để gọi chung cho loại pháp nhânnày

Như vậy, công ty xuyên quốc gia là khái niệm để chỉ những tổ chức kinh doanh cóquyền sở hữu sản xuất, hoạt động và cung cấp dịch vụ trên địa bàn nhiều quốc gia

Các công ty xuyên quốc gia, đang ngày càng chiếm được vị thế vững chắc trongquan hệ quốc tế Không thể phủ nhận những ảnh hưởng của chúng trong việc kiến tạo cácquan hệ xuyên quốc gia và khả năng gây ảnh hưởng cho nền kinh tế quốc gia hay thế giới.Thông qua quá trình hoạt động và mạng lưới kinh doanh quốc tế của mình, các công tyxuyên quốc gia đã mở rộng quan hệ quốc tế, phát triển quan hệ kinh tế quốc tế, làm tăng

sự phụ thuộc lẫn nhau, thúc đẩy toàn cầu hóa, hình thành luật lệ trong quan hệ quốc tế,chuyển tải các giá trị xuyên biên giới và củng cố hệ thống quốc tế, thúc đẩy xu hướngthống nhất thế giới Việc các công ty này hợp tác với các quốc gia hay các tổ chức khác

để thực hiện các dự án kinh doanh đã không còn quá mới mẻ Nguồn gốc quốc tế là mộtyếu tố cơ bản của loại hình công ty này Vì vậy, có nhiều quan điểm cho rằng nên coipháp nhân là chủ thể của luật quốc tế

Tổ chức phi chính phủ

Tổ chức phi chính phủ là thuật ngữ dùng để chỉ tổ chức, hiệp hội, ủy ban văn hóa

xã hội, hội từ thiện, tập đoàn phi lợi nhuận hoặc các pháp nhân khác theo quy định củapháp luật được thành lập hợp pháp và tự nguyện, không phụ thuộc vào Nhà nước vàkhông hoạt động vì mục đích lợi nhuận

Năng lực pháp luật và năng lực hành vi của tổ chức phi chính phủ khá tương đồngvới công ty xuyên quốc gia bởi chúng đều có tư cách pháp nhân Năng lực chủ thể của các

tổ chức này phát sinh đồng thời và tồn tại tương ứng cùng với thời điểm thành lập vàchấm dứt nó

Năng lực chủ thể của tổ chức phi chính phủ được quyết định bởi mục đích hoạt độngcủa tổ chức đó Các tổ chức phi chính phủ ra đời nhằm mục đích khác nhau, thông thườngnhằm đẩy mạnh các mục tiêu chính trị hay xã hội như bảo vệ môi trường thiên nhiên, khuyếnkhích việc tôn trọng quyền con người, cải thiện mức phúc lợi cho những người bị thiệt thòi,hoặc đại diện cho một đoàn thể

Và cũng tương tự như các chủ thể khác của pháp luật quốc tế, các tổ chức phi chínhphủ cũng có các quyền và gánh vác những nghĩa vụ tương ứng Năng lực chủ thể của các tổchức phi chính phủ sẽ do quốc gia nơi nó được hình thành hoặc hoạt động công nhận

Xuất phát từ những đặc điểm của cá nhân, pháp nhân, tổ chức phi chính phủ nêu trên,chúng ta có cơ sở để nhận định các thực thể này mang những đặc trưng và dấu hiệu của chủthể luật quốc tế Tuy nhiên, sự công nhận tư cách chủ thể của chúng còn phụ thuộc vào sựthừa nhận của các quốc gia

Trang 13

4.2 Quyền năng chủ thể của luật quốc tế hiện đại

Quyền năng chủ thể của luật quốc tế là thuộc tính cơ bản, là khả năng pháp lý đặcbiệt của những chủ thể được hưởng quyền và gánh vác nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lýtrong quan hệ pháp luật quốc tế Quyền năng chủ thể bao gồm hai phương diện và chỉ khi

có đầy đủ hai phương diện này thì mới được coi là chủ thể của luật quốc tế

Năng lực pháp luật quốc tế là khả năng chủ thể của luật quốc tế có những quyền vànghĩa vụ pháp lý nhất định, khả năng này được ghi nhận trong các quy phạm pháp luậtquốc tế

Năng lực hành vi quốc tế là khả năng thực hiện quyền và khả năng gánh vác nghĩa

vụ pháp lý quốc tế trên thực tế của các chủ thể Năng lực hành vi quốc tế thể hiện qua sựthực hiện có ý thức các quyền và nghĩa vụ của chủ thể luật quốc tế

5 Nguồn của luật quốc tế

5.1 Khái niệm nguồn của luật quốc tế hiện đại

Nguồn của pháp luật là hình thức biểu hiện của các nguyên tắc và quy phạm phápluật Việc nghiên cứu nguồn của pháp luật nói chung và của luật quốc tế nói riêng có ýnghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng vì nó liên quan đến việc xác định sự hình thành củaquan hệ pháp luật quốc tế và quá trình thực thi luật quốc tế

Hiện nay, trong khoa học luật quốc tế có nhiều quan điểm khác nhau về vấn đềkhái niệm nguồn luật

Theo nghĩa hẹp, nguồn của luật quốc tế là hình thức chứa đựng, ghi nhận cácnguyên tắc, các quy phạm pháp lý quốc tế nhằm xác định quyền và nghĩa vụ pháp lý củacác chủ thể khi tham gia vào các quan hệ quốc tế Theo đó, luật quốc tế gồm hai loạinguồn cơ bản là điều ước quốc tế và tập quán quốc tế

Theo nghĩa rộng, nguồn của luật quốc tế là tất cả những nguyên tắc và quy phạm

mà cơ quan có thẩm quyền có thể dựa vào đó để đưa ra các quyết định pháp luật

Trang 14

 Các tập quán quốc tế như những chứng cứ thực tiễn chung, được thừa nhận nhưnhững quy phạm pháp luật;

 Nguyên tắc chung của luật được các quốc gia văn minh thừa nhận;

 Với những điều kiện phán quyết của Tòa án chỉ có hiệu lực đối với các quốc giatham gia vào vụ tranh chấp và coi trọng vụ tranh chấp đó, các án lệ và các họcthuyết của các chuyên gia có chuyên môn cao nhất về luật quốc tế của các quốc giakhác nhau được coi là phương tiện để xác định các quy phạm pháp luật

5.3 Phân loại nguồn luật

Căn cứ vào những quy định của Điều 38 Quy chế Tòa án Quốc tế, luật quốc tế cóhai loại nguồn là nguồn thành văn (điều ước quốc tế) và nguồn bất thành văn (tập quánquốc tế) với nội dung chứa đựng các quy phạm luật quốc tế, trực tiếp điều chỉnh quyền,nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý của các chủ thể luật quốc tế

Án lệ, học thuyết của các luật gia có trình độ cao, các nguyên tắc pháp luật chung

và một số hình thức khác hình thành trong thực tiễn phát triển của luật quốc tế như nghịquyết không bắt buộc của tổ chức quốc tế, hành vi pháp lý đơn phương của quốc giakhông được coi là nguồn của luật quốc tế Chúng chỉ là những phương tiện để xác địnhcác quy phạm luật quốc tế (phương tiện bổ trợ nguồn)

*a Điều ước quốc tế

Khái niệm

Theo Công ước Viên năm 1969 về Luật điều ước quốc tế ký kết giữa các quốc gia

thì điều ước quốc tế được xác định là: “Điều ước quốc tế là một thỏa thuận quốc tế được

ký kết bằng văn bản giữa các quốc gia và được pháp luật quốc tế điều chỉnh, dù được ghi nhận trong một văn kiện duy nhất hoặc trong hai hay nhiều văn kiện có quan hệ với nhau

và với bất kể tên gọi riêng của nó là gì”.

Như vậy, Điều ước quốc tế là văn bản pháp lý quốc tế, do các quốc gia và chủ thểkhác của Luật quốc tế thỏa thuận xây dựng lên trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng, nhằm xáclập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau, thông qua các quy tắcpháp lý bắt buộc gọi là quy phạm điều ước

Điều ước quốc tế có thể phân chia thành điều ước phổ cập hoặc không phổ cập,toàn cầu hoặc khu vực, đa phương hoặc song phương

Điều ước quốc tế phổ cập là văn bản pháp lý quốc tế có sự ký kết hoặc tham gia

của tuyệt đại đa số các quốc gia trên thế giới (VD: Hiến chương Liên hợp quốc, Công ướcViên năm 1961 về Quan hệ ngoại giao, Công ước Viên năm 1963 về Quan hệ lãnh sự,Công ước của Liên hợp quốc năm 1982 về Luật biển)

Trang 15

Điều ước quốc tế song phương là văn bản pháp lý được ký kết giữa hai quốc gia Điều ước quốc tế đa phương là văn bản pháp lý có sự ký kết hoặc tham gia của từ

ba quốc gia trở lên Trong số các điều ước quốc tế đa phương có điều ước đa phương toàncầu và khu vực Điều ước đa phương khu vực thường được ký kết trong phạm vi các quốcgia hoặc có cùng chung khu vực địa lý, hoặc có chế độ chính trị, kinh tế - xã hội gần gũinhau (VD: Điều ước quốc tế trong khuôn khổ các nước ASEAN, giữa các nước thuộckhối NATO hoặc khối VARSAVA trước đây)

Điều ước quốc tế được coi là nguồn cơ bản của pháp luật quốc tế, vì phần lớn quyphạm của Luật quốc tế đều nằm trong điều ước quốc tế và do các quốc gia xây dựng lên.Nếu như từ đầu những năm 70 của thế kỷ XX trở về trước hầu như chỉ có điều ước quốc

tế được ký kết giữa các quốc gia thì ngày nay xuất hiện ngày càng nhiều điều ước quốc tếgiữa các tổ chức quốc tế liên chính phủ với nhau, cũng như giữa các quốc gia với các tổchức quốc tế liên chính phủ

Điều ước quốc tế là nguồn cơ bản của Luật quốc tế, nhưng về mặt lý luận khôngphải mọi điều ước quốc tế đã có hiệu lực đều được coi là nguồn của luật Một điều ướcquốc tế được coi là nguồn của Luật quốc tế nếu nó đáp ứng được các yêu cầu sau đây:

- Chủ thể của điều ước quốc tế là chủ thể của luật quốc tế (quốc gia, tổ chức quốc

tế liên chính phủ, các dân tộc đang đấu tranh giành quyền tự quyết) Một thỏa thuận quốc

tế được ký kết với một chủ thể của luật quốc tế với thể nhân, pháp nhân không xem làmột điều ước quốc tế

- Điều ước phải được ký kết dựa trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng

- Nội dung của điều ước phải phù hợp với những nguyên tắc cơ bản và các quyphạm Jus cogens của luật quốc tế

- Điều ước phải được ký kết phù hợp và tuân theo các quy định có liên quan củapháp luật của các bên ký kết về thẩm quyền và thủ tục ký kết

Trang 16

- Là công cụ để xây dựng khung pháp luật quốc tế hiện đại và tiến hành pháp điểnhóa luật quốc tế.

* bTập quán quốc tế

Khái niệm

Tập quán quốc tế là hình thức pháp lý chứa đựng quy tắc xử sự chung, hình thànhtrong thực tiễn quốc tế và được các chủ thể của luật quốc tế thừa nhận rộng rãi là quyphạm có tính chất pháp lý bắt buộc

Theo định nghĩa này, một tập quán quốc tế được coi là quy phạm, là nguồn củaLuật quốc tế phải đáp ứng được các điều kiện sau đây:

Thứ nhất, phải là quy tắc xử sự chung, hình thành trong quan hệ giữa các quốc gia,

được các quốc gia tuân thủ và áp dụng một cách tự nguyện

Thông thường trong quan hệ quốc tế có rất nhiều tập quán với tính chất là quy tắc

xử sự chung, nhất là trong lĩnh vực ngoại giao và hàng hải (VD: Đại sứ đặc mệnh toànquyền lần thứ hai trở lại thực hiện chức năng sẽ được Bộ trưởng hoặc thứ trưởng BộNgoại giao nước nhận đại diện đón tiếp Trong thực tiễn quan hệ quốc tế đây chỉ là quytắc xử sự mà chưa phải là quy phạm pháp lý, nhưng lại được các quốc gia tuân thủ và ápdụng một cách tự nguyện)

Thứ hai, quy tắc xử sự được coi là tập quán quốc tế phải lặp đi lặp lại nhiều lần,

trải qua quá trình dài lâu và được các quốc gia thỏa thuận thừa nhận hiệu lực pháp lý bắtbuộc đối với mình Kể từ khi được thừa nhận hiệu lực pháp lý, một tập quán quốc tế mớitrở thành quy phạm pháp lý quốc tế và được coi là nguồn của pháp luật quốc tế

Thứ ba, phải có nội dung phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế.

Những tập quán quốc tế có nội dung không phù hợp với những nguyên tắc cơ bản, nhữngquy phạm Jus cogen của luật quốc tế không thể là nguồn của luật quốc tế

Tập quán quốc tế được hình thành trong quan hệ giữa các quốc gia với nhau, lúcđầu được thể hiện thành những quy tắc xử sự chung, do một hay một số quốc gia đưa rathông qua tuyên bố của các cơ quan nhà nước hoặc những người lãnh đạo cao nhất củaquốc gia, sau đó được các quốc gia cùng áp dụng, cùng thừa nhận và trở thành tập quánpháp lý quốc tế

Quá trình hình thành tập quán pháp lý quốc tế là một quá trình dài và liên tục Luậtquốc tế không chỉ rõ thời gian cần thiết là bao lâu để hình thành một quy phạm tập quán.Trong những thế kỷ trước người ta vẫn thường cho rằng thời gian cần thiết là 50 - 100năm hoặc nhiều hơn nữa Tuy nhiên, không có một ranh giới cụ thể về mặt thời gian, trênthực tế, một quy phạm tập quán được ra đời phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như bối cảnhlịch sử, điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể của từng thời kỳ

Trang 17

Giá trị pháp lý

Tập quán quốc tế có vị trí độc lập so với điều ước quốc tế và các hình thức tồn tạikhác của luật quốc tế Về pháp lý, tập quán quốc tế có tầm quan trọng trong việc:

- Hình thành và phát triển các quy phạm luật quốc tế

- Điều chỉnh hiệu quả các quan hệ pháp lý quốc tế phát sinh giữa các chủ thể luậtquốc tế

Mối quan hệ giữa điều ước quốc tế và tập quán quốc tế

Điều ước quốc tế và tập quán quốc tế có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lạivới nhau, không loại trừ giá trị áp dụng của nhau Mối quan hệ này được biểu hiện trêncác phương diện như sau:

- Tập quán quốc tế là cơ sở hình thành điều ước quốc tế và ngược lại

- Quy phạm tập quán có thể bị thay đổi, hủy bỏ bằng điều ước quốc tế và cá biệt cótrường hợp, điều ước bị thay đổi hay hủy bỏ bằng tập quán quốc tế (VD: Hình thành quyphạm Jus cogen mới của luật quốc tế dưới dạng tập quán quốc tế)

- Tập quán quốc tế tạo điều kiện mở rộng hiệu lực của điều ước quốc tế (VD: Hiệulực của điều ước quốc tế với bên thứ ba do việc viện dẫn quy phạm điều ước dưới dạngtập quán pháp lý quốc tế)

* c Nguyên tắc pháp luật chung

Theo Điều 38 Quy chế Tòa án Quốc tế Liên hợp quốc, cùng với điều ước và tập

quán quốc tế, Tòa án áp dụng “những nguyên tắc pháp luật chung, được các dân tộc văn minh thừa nhận”

Những quy định trong các văn bản pháp luật quốc tế hiện hành không đưa ra giảithích về khái niệm những nguyên tắc pháp luật chung Do đó, trong khoa học pháp lý tồntại nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này Vì luật quốc tế và luật quốc gia là hai hệthống pháp luật khác nhau nên nguyên tắc pháp luật chung phải được hiểu là nguyên tắc

áp dụng cho cả hai hệ thống Các nguyên tắc này không phải là quy phạm pháp luật, bởikhông có quy phạm pháp luật cho cả pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia Do vậy, cácnguyên tắc pháp luật chung đôi khi là các quy tắc kỹ thuật pháp lý, như: “ai có quyền ưngthuận thì cũng không có quyền không ưng thuận” (Ejus est nolle qui potest velle),

“Không ai có thể trao quyền cho người khác hơn những quyền mà mình có” (nemo plusjuris transfere potest quam inpse habet), “Ai làm ra luật thì có quyền giải thích luật”(Ejus est interpretari legem cujus est condere), “luật sau thay thế luật trước” (lexposteriori derogat priori)

Như vậy, các nguyên tắc pháp luật chung có thể được hiểu là các nguyên tắc pháp

lý được cả pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế thừa nhận và được áp dụng để giải

Trang 18

quyết tranh chấp giữa các quốc gia (Theo điều 38, khoản 1 Quy chế tòa án công lý quốctế) (VD: nguyên tắc gây thiệt hại thì phải bồi thường) Nguyên tắc pháp luật chung chỉ ápdụng sau điều ước quốc tế và tập quán quốc tế với ý nghĩa để giải thích hay làm sáng tỏnội dung của quy phạm luật quốc tế.

* d Phán quyết của Tòa án Quốc tế Liên hợp quốc d Án lệ trang 45 gt

Các quyết định của cơ quan tài phán (tòa án, trọng tài) cũng như học thuyết củacác chuyên gia không phải là nguồn chính của luật quốc tế Chúng chỉ là những giải phápcủa các cơ quan tài phán về những vấn đề pháp luật cụ thể Các quyết định tài phán này

chỉ có giá trị res inter alios acta (chỉ có giá trị đối với bên cam kết) Theo điều 59 Quy

chế của Tòa án Quốc tế:

“Quyết định của Tòa có giá trị bắt buộc chỉ đối với các bên tham gia vụ án và chỉ đối với các vụ án cụ thể đó”.

Tuy nhiên các giải thích của cơ quan tài phán quốc tế chứa đựng một thẩm quyền

đã được giải thích, nhiều khi vượt ra ngoài phạm vi các quốc gia tham gia vụ kiện Từmột quy tắc, quy phạm chưa được giải thích, còn chung chung, mơ hồ, khó hiểu, sau khiđược giải thích, chúng được định hình là các quy tắc, quy phạm đã được giải thích và cótác động nhất định cả với các quốc gia ký kết điều ước nhưng không tham gia kiện Cácphán quyết sau này thường căn cứ vào những án lệ đã có từ trước để xác định những quytắc Vì vậy, chúng là những nguồn bổ trợ để xác định các quy tắc luật8

Tòa án Công lý quốc tế là cơ quan tài phán chính của Liên hợp quốc (theo Điều 92Hiến chương Liên hợp quốc) Tòa án Công lý quốc tế với sứ mệnh giải quyết các tranhchấp pháp lý giữa các quốc gia và giúp các tổ chức quốc tế hoạt động có hiệu quả, đã cónhững đóng góp to lớn trong việc khẳng định vai trò của luật quốc tế trong quan hệ quốc

tế cũng như vào quá trình phát triển của luật quốc tế Bằng việc giải thích luật quốc tếthực định và áp dụng chúng vào hoàn cảnh đặc thù, các quyết định của Tòa đã làm sáng tỏthêm luật quốc tế (VD: Trong phán quyết vụ Eo biển Corfou năm 1946, Tòa đã góp phầnlàm sáng tỏ khái niệm pháp lý eo biển quốc tế và nguyên tắc quyền qua lại không gây hạiqua eo biển quốc tế)

Các phán quyết quan trọng đã làm sáng tỏ nội dung một số quy phạm pháp luậtquốc tế, tạo tiền đề pháp lý hình thành quy phạm mới của luật quốc tế và có tác động tíchcực đến quan niệm, cách ứng xử của chủ thể quan hệ pháp luật quốc tế đồng thời có tácdụng bổ sung nhất định những khiếm khuyết của luật quốc tế Chính vì vậy, phán quyếtcủa Tòa án Công lý quốc tế được coi là phương tiện bổ trợ nguồn luật

8 Nguyễn Hồng Thao (2000), Toà án công lý quốc tế, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

Trang 19

* e Nghị quyết của tổ chức quốc tế liên chính phủ

Khi thành lập Tòa án Công lý Quốc tế, vào thời điểm đó, các văn kiện quốc tếkhông nhiều nên Điều 38 Quy chế Tòa án quốc tế đã không đề cập đến loại văn kiện cực

kỳ quan trọng là nghị quyết của các tổ chức quốc tế

Các văn kiện của tổ chức quốc tế liên chính phủ có giá trị hiệu lực không đồngnhất gồm: các nghị quyết có hiệu lực bắt buộc và các nghị quyết không có hiệu lực bắtbuộc đối với các thành viên Nhiều nghị quyết của tổ chức quốc tế là kết quả thỏa thuậngiữa các thành viên Quá trình thỏa thuận này diễn ra trên cơ sở quy chế của tổ chức vàđưa đến kết quả là hình thành các nghị quyết có tính chất khuyến nghị (trừ những nghịquyết bắt buộc của tổ chức đó)

Những nghị quyết mang tính khuyến nghị có vai trò nhất định trong việc giải thích

và áp dụng các quy phạm luật quốc tế, chúng tạo tiền đề cho việc ký kết và thực hiện điềuước quốc tế Trong khi đó, những nghị quyết có giá trị bắt buộc sẽ là nguồn luật được việndẫn để giải quyết các quan hệ phát sinh giữa các quốc gia thành viên của tổ chức đó

Trong thực tiễn quốc tế, khi xác định hoặc giải thích quy phạm luật quốc tế, cácquốc gia thường viện dẫn đến nghị quyết của Đại hội đồng Liên hợp quốc, những Nghịquyết có vai trò quan trọng trong đời sống quốc tế (VD: Tuyên bố của Đại hội đồng Liênhợp quốc năm 1960 về trao trả độc lập cho các nước và các dân tộc thuộc địa; Tuyên bốcủa Đại hội đồng Liên hợp quốc năm 1970 về những nguyên tắc của luật quốc tế; Tuyên

bố năm 1974 về định nghĩa xâm lược ) Những Nghị quyết của Đại hội đồng Liên hợpquốc cũng thường được Tòa án quốc tế viện dẫn và coi đó là bằng chứng thực tiễn của sựtồn tại vi phạm tập quán (VD: trong vụ Nicaragoa kiện Mỹ, Tòa cho rằng sự đồng tìnhcác bên đối với nghị quyết 2625 (XXV); “tuyên bố về các nguyên tắc của pháp luật quốc

tế trong quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia” là hình thức thể hiện sự công nhận hiệu lựcpháp lý đối với nguyên tắc không sử dụng vũ lực với tư cách là nguyên tắc của luật tậpquán)

* f Hành vi pháp lý đơn phương của quốc gia

Đây là sự thể hiện ý chí của một chủ thể luật quốc tế một cách độc lập Hành vipháp lý đơn phương thể hiện ở một số dạng sau:

- Hành vi công nhận: Là hành vi thể hiện một cách minh thị hay mặc thị xác nhậnmột sự kiện hay một yêu cầu nào đó là phù hợp với pháp luật (VD: hành vi công nhậnmột quốc gia mới)

- Hành vi cam kết: là hành vi tạo ra các nghĩa vụ mới bằng cách thức đơn phươngchấp nhận ràng buộc với một nghĩa vụ pháp lý quốc tế

- Hành vi phản đối: là cách thức để quốc gia thể hiện ý chí không công nhận mộthoàn cảnh, một yêu cầu hoặc một thái độ xử sự của chủ thể khác (VD: Bộ Ngoại giao

Trang 20

nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gửi công hàm tới Đại sứ quán Trung Quốcphản đối việc tàu Hải giám Trung Quốc cắt cáp thăm dò của tàu Bình Minh 2, thuộc Tậpđoàn Dầu khí Việt Nam trong thềm lục địa của Việt Nam ngày 26/5/2011).

- Hành vi từ bỏ: là hành vi thể hiện ý chí độc lập của chủ thể tự nguyện từ bỏ cácquyền hạn chế nhất định Kết quả của hành vi này là việc chấm dứt các quyền của chủ thể luậtquốc tế đối với một đối tượng hay một lĩnh vực Hành vi từ bỏ bắt buộc phải được thực hiệnmột cách minh bạch, công khai để không tạo nghi ngờ, thiếu chắc chắn

* g Các học thuyết về luật quốc tế

Học thuyết về luật quốc tế là những tư tưởng, quan điểm thể hiện trong công trìnhnghiên cứu, tác phẩm và kết luận của các học giả, luật gia về những vấn đề lý luận cơ bảncủa luật quốc tế Đôi khi trong học thuyết, các học giả đưa ra những lý giải làm sáng tỏ vềnội dung của điều ước quốc tế và tập quán quốc tế, giúp cho việc áp dụng một cách đúngđắn các quy phạm luật quốc tế vào từng trường hợp cụ thể

Học thuyết về luật quốc tế có ý nghĩa vô cùng quan trọng, ảnh hưởng đến quá trìnhhình thành nhận thức của con người về luật quốc tế, tác động đến quan điểm của quốc gia

về các vấn đề pháp lý quốc tế

Trước thế kỷ XX, các công trình của các luật gia, nhà luật học nổi tiếng thườngđược coi là nguồn của luật quốc tế Các chính khách, nhà ngoại giao thường sử dụng côngtrình lý luận về luật quốc tế của các học giả nổi tiếng để làm bằng chứng trong quan hệđối ngoại của quốc gia mình và coi đó là nguồn của luật quốc tế Các kết luận, quan điểmcủa những chuyên gia luật quốc tế đôi khi còn được các bên liên quan viện dẫn trong các

Như vậy, học thuyết của các chuyên gia, nhà luật học có uy tín cao về luật quốc tếchỉ có thể là “phương tiện bổ trợ để xác định quy phạm pháp lý”

5.4 Vấn đề pháp điển hóa luật quốc tế

Khái niệm

Trang 21

Pháp điển hóa là một thuật ngữ đặc thù trong khoa học pháp lý Pháp điển hóa làquá trình hoạt động của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong việc tập hợp các quyđịnh pháp luật hiện có theo một trình tự nhất định, loại bỏ những quy định không còn phùhợp (với thực tiễn, với các quy định khác ), xây dựng những quy phạm mới để thay thếcho các quy phạm đã bị loại bỏ và khắc phục những khoảng trống pháp lý trong thực tiễn,trong quá trình tập hợp văn bản, sửa đổi các quy phạm hiện hành.

Kết quả của việc Pháp điển là một văn bản quy phạm pháp luật mới ra đời Đó làmột bộ luật, điều ước, quy chế tương ứng với một ngành luật nhất định hay một lĩnhvực nhất định, trong đó các quy phạm pháp luật được sắp xếp logic, chặt chẽ và nhấtquán Sau khi tiến hành Pháp điển hóa, một văn bản pháp luật mới, hoặc có hiệu quả pháp

lý cao hơn, hoặc rộng hơn, tổng quát hơn về phạm vi điều chỉnh, hoàn chỉnh hơn về kỹthuật lập pháp, hoặc đồng thời đạt được tất cả các yêu cầu đó, sẽ được hình thành

Như vậy, nội hàm của khái niệm Pháp điển hóa bao gồm:

- Tập hợp các quy định trong cùng một lĩnh vực

- Chọn lọc để loại bỏ quy định không còn phù hợp

- Đưa ra những quy định mới

- Sửa đổi những quy định hiện hành theo hướng ngày càng nâng cao hiệu lực pháp

lý, tính hệ thống, tính hoàn chỉnh về cả mặt nội dung và kỹ thuật của chúng

Pháp điển hóa trong pháp luật quốc tế là một khái niệm được nghiên cứu và đề cậptới chưa nhiều trong các giáo trình về pháp luật quốc tế hiện nay ở Việt Nam cũng như ởnhiều nước trên thế giới Tuy nhiên, thuật ngữ “Pháp điển hóa” đã được nêu trong Điều13(1) (a) Hiến chương Liên hợp quốc và được giải thích tại Điều 15 Quy chế Ủy banpháp luật quốc tế (sau đây gọi tắt là Ủy ban) “Pháp điển hóa” được sử dụng phù hợp đểchỉ việc hệ thống hóa và thể hiện cụ thể, chính xác hơn các quy định của pháp luật quốc tếtrong những lĩnh vực đã tồn tại thực tiễn, tiền lệ hoặc học thuyết rộng rãi chính thức Điều 13 quy định: “1 Đại hội động Liên hợp quốc sẽ khởi xướng các nghiên cứu

và đưa ra các khuyến nghị nhằm:

a) thúc đẩy sự phát triển tiến bộ và việc Pháp điển hóa pháp luật quốc tế”

Như vậy, theo Ủy ban pháp luật quốc tế thuộc Đại hội đồng Liên hợp quốc, Phápđiển hóa pháp luật quốc tế được hiểu là việc thể hiện, hệ thống hóa cụ thể hơn, chính xáchơn các quy phạm của pháp luật quốc tế tồn tại trong thực tiễn, những tiền lệ hoặc họcthuyết trong lĩnh vực cụ thể

Điều 13 Hiến chương Liên hợp quốc cũng có đề cập tới một khái niệm có liênquan mật thiết với Pháp điển hóa là khái niệm “Phát triển tiến bộ” Điều 15 Quy chế Ủyban Pháp luật quốc tế Liên hợp quốc đã giải thích “phát triển tiến bộ của pháp luật quốc

Trang 22

tế” được hiểu là việc chuẩn bị các dự thảo điều ước quốc tế về những vấn đề hiện vẫnchưa được pháp luật quốc tế điều chỉnh hoặc những vấn đề mà pháp luật vẫn chưa đượcphát triển đầy đủ trong thực tiễn ở các quốc gia” Cách hiểu về phát triển tiến bộ của phápluật quốc tế như vậy có phần hơi hạn hẹp và có lẽ chỉ đúng trong khuôn khổ hoạt độngcủa Ủy ban pháp luật quốc tế Cách hiểu này cũng gây ra sự nhầm lẫn với khái niệm Phápđiển hóa Và thực tế là trong công việc của Uỷ ban, người ta không thể xác định được rõràng ranh giới giữa hai khái niệm này.

Về cơ bản, pháp điển hóa luật quốc tế có thể hiểu là việc hệ thống hóa các quyphạm pháp luật quốc tế do các chủ thể của luật quốc tế thực hiện nhằm sắp xếp các quyphạm pháp luật quốc tế hiện hành vào một hệ thống phù hợp, nâng cao hiệu lực pháp lý,tính hệ thống, tính hoàn chỉnh về cả mặt nội dung và kỹ thuật của chúng

Tuy nhiên, có những văn kiện sau khi được Pháp điển hóa lại chứa đựng nội dungkém tiến bộ hơn những quy định trước đó Một ví dụ điển hình trong trường hợp này làtrong hai năm 2002 và 2003, Mỹ dùng sức ép về kinh tế chính trị để buộc một số quốc gia

ký kết các điều ước về việc không dẫn độ công dân Mỹ ra trước Tòa án tội phạm quốc tế.Các điều ước này đi ngược lại sự phát triển tiến bộ mà pháp luật quốc tế đã đạt đượctrong Quy chế Roma về Tòa án Hình sự quốc tế

Pháp điển hóa pháp luật quốc tế có thể được tiến hành ở ba cấp độ:

- Song phương (các điều ước song phương như các Hiệp định FTA (Hiệp định tự

do thương mại song phương, các hiệp định hữu nghị và hợp tác, bảo hộ đầu tư, tránh đánhthuế hai lần, tương trợ tư pháp )

- Khu vực (các điều ước khu vực như Hiệp định AFTA của Khối ASEAN, Hiệpđịnh về Khu vực tự do thương mại Bắc Mỹ )

- Quốc tế phổ cập (các điều ước mang tính phổ cập toàn cầu như Công ước củaLiên hợp quốc về Luật biển 1982, Hiến chương về các quyền dân sự và chính trị )

Ở cả ba cấp độ, việc Pháp điển hóa đều có mối quan hệ mật thiết với nhau trongtiến trình thống nhất của việc Pháp điển hóa pháp luật quốc tế Khó có thể xác định việcPháp điển hóa ở cấp độ song phương hay đa phương là quan trọng hơn vì ở mỗi cấp độđều được tiến hành trên cơ sở những yêu cầu riêng của thực tiễn Có những vấn đề chỉ cóthể Pháp điển hóa ở cấp độ song phương (vấn đề phân định biên giới lãnh thổ, phân địnhbiển ) Có những vấn đề chỉ có thể áp dụng Pháp điển hóa ở cấp độ toàn cầu (vấn đề bảo

Trang 23

năm sau Đại chiến thế giới thứ II, Liên hợp quốc ra đời và đã ghi dấu ấn quan trọng trongviệc Pháp điển hóa pháp luật quốc tế.

Quá trình Pháp điển hóa pháp luật quốc tế hiện nay

Thế kỷ XX là thế kỷ nhân loại đạt được những bước tiến lớn trong việc pháp điểnhóa Số lượng các điều ước quốc tế được ký kết tăng lên theo cấp số nhân, nhiều hơn toàn

bộ số điều ước được ký kết trong suốt lịch sử xã hội quốc tế trước đó Quá trình này pháttriển đồng đều ở cả ba cấp độ

Tính đến thời điểm hiện tại, Tổng thư ký Liên hợp quốc, với tư cách là cơ quan lưuchiểu các điều ước quốc tế của các quốc gia thành viên theo quy định của Hiến chươngLiên hợp quốc, đã lưu chiểu hơn 500 điều ước quốc tế đa phương Bên cạnh đó, nhiềuđiều ước được lưu chiểu tại các chính phủ, tổ chức quốc tế khu vực và tổ chức quốc tếtoàn cầu khác

Liên hợp quốc, các tổ chức thành viên đã có nhiều sáng kiến và hoạt động nhằmPháp điển hóa pháp luật quốc tế như sáng kiến về Thập kỷ pháp luật quốc tế (1990-1999),đưa ra các sáng kiến lập ước, tổ chức việc soạn thảo, đàm phán, ký kết điều ước quốc tế,

tổ chức các chương trình đào tạo về pháp luật quốc tế, lưu chiểu và xuất bản ấn phẩm cácđiều ước

Đến nay, một loạt các nội dung lớn của pháp luật quốc tế đã được pháp điển hoá,trong đó phải kể đến các điều ước lớn như: Công ước về chống Diệt chủng năm 1948, 02Công ước về quyền con người năm 1966 (Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hoá

và xã hội và Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị), Công ước về Luật Điềuước Quốc tế năm 1969, Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982, Quy chếRome về Tòa án Hình sự quốc tế 1998…

Nhiều tổ chức quốc tế như WTO, AFTA, OAU, ILO, cũng đã có những nỗ lựctrong việc pháp điển hóa pháp luật kinh tế quốc tế, pháp luật lao động quốc tế…

Có thể nói, Thập kỷ Pháp luật quốc tế (1990 – 1999) của Liên hợp quốc đã đưa đếnmột giai đoạn pháp điển hóa đỉnh cao trong lịch sử phát triển luật quốc tế

Bước sang thế kỷ XXI, trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, phápđiển hóa đang tiếp tục được tiến hành sâu rộng trong nhiều lĩnh vực, ở những cấp độ vàhình thức khác nhau

II LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA LUẬT QUỐC TẾ

Luật quốc tế xuất hiện khi giữa các Nhà nước có sự thiết lập các quan hệ ngoại giao vớinhau Thời kỳ sơ khai là quan hệ giữa các quốc gia láng giềng dần dần mở rộng vượt phạm vikhu vực và phát triển thành các quan hệ có tính chất liên khu vực Có thể khái quát lịch sửhình thành, phát triển của Luật quốc tế qua 4 giai đoạn:

Trang 24

1 Luật quốc tế cổ đại

Luật quốc tế cổ đại được hình thành đầu tiên ở khu vực Lưỡng Hà (lưu vực hai consông Tigơrơ và Ơphơmát) và Ai Cập vào khoảng cuối thế kỷ 40 đầu thế kỷ 30 trước Côngnguyên Sau đó, luật quốc tế được hình thành ở phương Đông như Ấn Độ, Trung Quốc và ởphương Tây như: Hy Lạp và La Mã

Do nền tảng kinh tế thấp kém, quan hệ giữa các quốc gia yếu ớt, lại bị cản trở bởi cácđiều kiện tự nhiên và phát triển kinh tế - xã hội hạn chế nên luật quốc tế thời kỳ này chủ yếumang tính khu vực khép kín, với nội dung chủ yếu là các luật lệ và tập quán về chiến tranh vàngoại giao, giải quyết các vấn đề về tù binh, bồi thường chiến tranh, quan hệ chư hầu

Ở khu vực Châu Âu và Bắc Phi, các nền văn minh lớn như sông Nin (Ai Cập), sông

Tiber (La Mã, Hy Lạp) đã tạo thành một cộng đồng các quốc gia Pháp luật quốc tế khu vựcnày chủ yếu gồm các nguyên tắc và quy phạm về chiến tranh, hòa bình và mang đậm tínhchất bất bình đẳng, thể hiện và bảo vệ lợi ích của các quốc gia lớn như Ai Cập, Đế chế LaMã Các quốc gia nhỏ (được gọi là các thị quốc, thành bang) và các chủ thể khác ở vị thếyếu hơn Các quy phạm pháp luật quốc tế phần lớn do các quốc gia lớn (các đế chế) đưa ra.Chính vì vậy, pháp luật quốc tế giai đoạn này phản ánh lợi ích của các quốc gia lớn mà thựcchất là của giai cấp chủ nô nắm quyền tại các quốc gia đó Đáng lưu ý là ở giai đoạn nàycũng đã có nhiều quy định pháp luật quốc tế mang tính chất nhân đạo như quy định cấm dùngthuốc độc và vũ khí tẩm thuốc độc ở La Mã

Cùng với những nguyên tắc và quy phạm pháp luật về chiến tranh, hòa bình, các quyphạm pháp luật về các lĩnh vực khác nhau như ngoại giao, điều ước quốc tế… cũng bắt đầuđược hình thành, mặc dù còn rất thô sơ và mang đậm tính tập quán Với sự phát triển của cácquốc gia, các điều ước quốc tế đầu tiên đã xuất hiện Một trong những điều ước quốc tế đầutiên sớm nhất được ghi nhận lại là hòa ước kí kết bằng tiếng Sumerian giữa Eannatum, đạidiện cho thành bang Lagash với đại diện của Thành bang Umma khoảng năm 3100 trướcCông nguyên9 Một hòa ước nổi tiếng khác là hòa ước giữa vua Ai Cập Ramdec II và vuaHattusin III ký năm 1287 trước Công nguyên

Khu vực này cũng là nơi xuất hiện thuật ngữ Luật vạn dân (jus gentium), một thuật

ngữ được người La Mã để chỉ các quy định pháp luật áp dụng cho quan hệ giữa các quốc giangoài La Mã với đế chế La Mã và các quan hệ giữa công dân La Mã với các công dân cácnước chư hầu, ngoại bang

Tại khu vực Châu Á, các nền văn minh lớn như văn minh sông Hằng, sông Hoàng Hà,

sông Dương Tử, vùng Lưỡng Hà (sông Tigrơ và Ơphơrát)… cũng hình thành lên cộng đồngcác quốc gia khu vực với một bộ quy phạm điều chỉnh các quan hệ giữa các quốc gia Về cơbản, các quy phạm pháp luật quốc tế tại khu vực này cũng có những tính chất giống với khu

9Antonio Cassese, International law divided world, Clarendon Press – Oxford, 1994, tr 3.

Trang 25

vực Châu Âu và Bắc Phi: mang đậm tính khu vực, chủ yếu là các tập quán quốc tế hình thànhtrong thực tiễn quan hệ giữa các quốc gia Phần lớn các quy phạm pháp luật quốc tế là cácnguyên tắc và quy phạm về chiến tranh, hòa bình và mang đậm tính chất bất bình đẳng, thểhiện và bảo vệ lợi ích của các quốc gia lớn như Hạ, Thương, Chu, Babylon, Ấn Độ Khuvực châu Á đã xuất hiện những điều ước quốc tế đầu tiên giữa các quốc gia như các “minhước” giữa các quốc gia về quan hệ đồng minh, tương trợ lẫn nhau khi có hoạn nạn, khôngxâm phạm lẫn nhau, trao trả tù binh chiến tranh Ở khu vực Trung Quốc ngày nay, các điềuước thường được các quốc gia thời đó ký kết bằng hình thức không thành văn mà theo hìnhthức “tuyên cáo trước trời đất” được tổ chức trang trọng (Đôi khi các lời tuyên cáo được ghinhận lại thành văn bản) Cũng tại khu vực này đã hình thành nên nhiều quy phạm pháp luậtquốc tế mà cho đến nay vẫn còn ít nhiều được sử dụng như các tập quán đối xử nhân đạo với

tù binh chiến tranh, “hai nước giao tranh không giết sứ giả” Việc thi hành pháp luật quốc tế

được bảo đảm bằng nguyên tắc chữ “tín”, một nguyên tắc gần giống với nguyên tắc Pacta sunt servanda ở các nước phương Tây.

2 Luật quốc tế trung đại

Luật quốc tế trong thời kỳ này đã có những bước phát triển nhất định, do nhu cầuphát triển kinh tế, khoa học – kỹ thuật nên tính khu vực dần bị phá vỡ và thay vào đó làcác quan hệ có tính liên khu vực giữa các quốc gia Bên cạnh vấn đề chiến tranh, ngoạigiao, sự hợp tác của các quốc gia còn mở rộng sang lĩnh vực kinh tế, chính trị…

Luật quốc tế bắt đầu có sự xuất hiện của các quy phạm, chế định về luật biển, vềquyền ưu đãi miễn trừ ngoại giao, xuất hiện cơ quan đại diện ngoại giao thường trực củaquốc gia tại quốc gia khác

Luật quốc tế thời kỳ này có những bước phát triển mới Một số trung tâm luật quốc

tế đã được hình thành tại Châu Âu, Nga, Tây-Nam Địa Trung Hải, Ấn Độ, Trung Hoa.Khoa học luật quốc tế được hình thành với sự xuất hiện của nhiều học giả, tác phẩm tiêubiểu như: “Tự do biển cả” của Huy gô G.Rotius Đây là tiền đề quan trọng cho quá trìnhphát triển luật quốc tế hiện đại sau này

3 Luật quốc tế cận đại

Thời kỳ này, với mối quan hệ quốc tế phát triển vượt bậc ra ngoài khuôn khổ củakhu vực và liên khu vực, luật quốc tế được ghi nhận có những bước phát triển khá rực rỡ.Luật quốc tế cận đại phát triển trên cả hai phương diện luật thực định và khoa học pháp lýquốc tế

Các nguyên tắc mới của luật quốc tế như: nguyên tắc nguyên tắc bình đẳng về chủquyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau… đã được hình thành

Tuy nhiên, đóng góp quan trọng nhất là sự ra đời của các tổ chức quốc tế đầu tiênđánh dấu sự liên kết và ràng buộc có tính cộng đồng quốc tế của các quốc gia như: Liên

Trang 26

minh điện tín quốc tế (1865), Liên minh bưu chính thế giới (1879)… Các tổ chức quốc tếnày đã đánh dấu sự liên kết và ràng buộc có tính cộng đồng quốc tế của các quốc gia

Bên cạnh những thành tựu to lớn đó, luật quốc tế cận đại vẫn tồn tại những họcthuyết, những quy chế pháp lý mang tính phản động, bất bình đẳng trong quan hệ quốc tếnhư chế độ thuộc địa, tô giới…

4 Luật quốc tế hiện đại

Do tác động của cuộc đấu tranh của các lực lượng hòa bình, độc lập dân tộc, dânchủ và tiến bộ xã hội, pháp luật quốc tế hiện đại có những thay đổi theo hướng tiến bộ.Cách mạng Tháng Mười Nga đã có những đóng góp hết sức lớn lao vào sự phát triển luậtquốc tế Bằng sắc lệnh hòa bình của Lê-nin ngày 26 tháng 10 năm 1917, tuyên ngôn vềquyền của các dân tộc Nga và các văn bản pháp luật khác, Nhà nước Xô viết đã đưa quanđiểm, tiếng nói tiến bộ của chủ nghĩa cộng sản vào trong pháp luật quốc tế bằng việc đưađưa nội dung dân chủ vào những nguyên tắc và quy phạm pháp luật quốc tế, đề xuất nhữngnguyên tắc và quy phạm có nội dung mới, tiến bộ (VD: định nghĩa về xâm lược, lên án vàcấm chiến tranh xâm lược, bình đẳng giữa các dân tộc và quyền dân tộc tự quyết, nguyêntắc hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế )

Đặc biệt, trong thời kỳ này luật quốc tế đã bắt đầu xuất hiện những chế định mớikhông mang tính truyền thống như hợp tác chống khủng bố quốc tế Đây cũng là thời kỳghi nhận sự ra đời của hàng loạt các tổ chức quốc tế toàn cầu, khu vực hay liên khu vựcnhư: Liên hợp quốc, ILO (Tổ chức Lao động Quốc tế), ICAO (Tổ chức hàng không dândụng quốc tế), FAO (Tổ chức lương thực thế giới), WHO (Tổ chức Y tế thế giới), WIPO(Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới), EU (Liên minh Châu Âu), ASEAN (Hiệp hội các quốcgia Đông Nam Á)…

Đến những thập kỷ sau của thế kỷ XX và những năm đầu của thế kỷ XXI, phápluật quốc tế chịu ảnh hưởng của xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế Xu hướng toàncầu hóa và liên kết khu vực đã đưa các quốc gia xích lại gần nhau hơn, gia tăng sự liên kếtgiữa các quốc gia trong khu vực Tuy nhiên, toàn cầu hóa cũng làm gia tăng tính cạnhtranh giữa các chủ thể trên phương diện phát triển kinh tế - xã hội

Mặc dù vẫn còn tiềm ẩn những hành vi vi phạm pháp luật quốc tế, nhưng luật quốc

tế hiện đại đang phát triển theo xu hướng ngày càng bình đẳng tạo tiền đề quan trọng chocác chủ thể của luật quốc tế tham gia một cách rộng rãi vào các quan hệ quốc tế

III MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT QUỐC GIA

Mối quan hệ giữa luật quốc tế và luật quốc gia là vấn đề lý luận truyền thống củaluật quốc tế Trong khoa học pháp lý quốc tế tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về vấn đềnày, tiêu biểu là học thuyết nhất nguyên luận và học thuyết nhị nguyên luận

Trang 27

- Thuyết nhất nguyên luận quan niệm pháp luật là một hệ thống thống nhất bao

gồm hai bộ phận cấu thành là luật quốc tế và luật quốc gia Trong đó, quy phạm pháp luậtquốc tế và quy phạm pháp luật quốc gia được xếp theo thứ bậc trên, dưới Thuyết nhấtnguyên luận phân chia thành hai trường phái: Trường phái ưu tiên luật quốc tế (nhận địnhpháp luật quốc tế phải được đặt trên pháp luật quốc gia, giữ vai trò chi phối pháp luậtquốc gia, pháp luật quốc gia phải phục tùng luật quốc tế) và trường phái ưu tiên luật quốcgia (nhận định luật quốc gia phải được đặt trên pháp luật quốc tế, chi phối pháp luật quốctế)

Thực tiễn lịch sử quan hệ quốc tế chứng minh rằng, xuất phát từ nhu cầu bảo vệ lợiích của quốc gia tư bản chủ nghĩa trong từng giai đoạn và hoàn cảnh cụ thể, các nhà lýluận tư sản đề cao chủ quyền của quốc gia mình bằng cách đặt pháp luật quốc gia lên trênluật quốc tế hoặc hạn chế chủ quyền của quốc gia khác bằng cách đặt quốc tế lên trênpháp luật quốc gia

Cả hai quan điểm của trường phái nhất nguyên luận đều sai lầm vì pháp luật quốcgia và luật quốc tế tuy có mối quan hệ và tác động qua lại với nhau, nhưng là những hệthống pháp luật độc lập Pháp luật quốc tế không thể được đặt lên trên pháp luật quốc giahoặc ngược lại Đặt pháp luật quốc tế lên trên hay xuống dưới pháp luật quốc gia đều thểhiện nhận thức thiên lệch về bản chất của hệ thống pháp luật này

- Thuyết nhị nguyên luận quan niệm luật quốc tế và luật quốc gia là hai hệ thống

pháp luật khác nhau, tồn tại độc lập và không có tác động qua lại với nhau Quan điểmnày nhận thức được tính độc lập của hai hệ thống luật quốc tế và luật quốc gia Nhưng nólại sai lầm vì phủ nhận mối quan hệ, tác động qua lại giữa pháp luật quốc tế và pháp luậtquốc gia

Hai học thuyết nêu trên đã nhìn nhận và đánh giá mối quan hệ giữa luật quốc tế vàluật quốc gia một cách phiến diện Nhìn từ góc độ lý luận và thực tiễn, luật quốc tế và luậtquốc gia là hai hệ thống pháp luật độc lập nhưng có mối quan hệ, tác động qua lại đối vớinhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển Mọi sự thay đổi, phát triển tiến bộ của pháp luậtquốc gia đều tác động thúc đẩy sự phát triển tiến bộ của pháp luật quốc tế và ngược lại

Thực tiễn quốc tế cho thấy rằng pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia với tínhchất với đối tượng điều chỉnh khác nhau, không chỉ dừng ở chỗ tác động lẫn nhau, thúcđẩy nhau phát triển mà còn là điều kiện đảm bảo cho nhau trong quá trình thực hiện Do

sự phát triển mạnh mẽ của giao lưu quốc tế, của quá trình quốc tế hóa mọi mặt đời sống,nhiều vấn đề vượt ra khỏi phạm vi quốc gia, trở thành vấn đề mang tính toàn cầu như vấn

đề bảo vệ môi trường, vấn đề chống tội phạm có tính quốc tế… Đây là những vấn đề phátsinh trong đời sống quốc tế và để có thể giải quyết hiệu quả cần phải có sự hợp tác giữacác quốc gia Việc xây dựng và thực hiện tốt các quy phạm của pháp luật quốc tế là điều

Trang 28

kiện bảo đảm thực hiện có hiệu quả có quy phạm tương ứng của pháp luật quốc gia vàngược lại.

Mối quan hệ biện chứng giữa luật quốc tế và luật quốc gia được thể hiện trên haiphương diện:

- Luật quốc gia ảnh hưởng tới sự hình thành của luật quốc tế:

Khi tham gia vào các quan hệ quốc tế, lợi ích quốc gia luôn là mối quan tâm hàngđầu của các bên Trong quá trình xây dựng các quy phạm luật quốc tế, các quốc gia đãđưa ý chí của mình vào các nội dung của luật quốc tế Vì vậy, ý chí quốc gia được phảnánh trong các quy phạm luật quốc tế và sự hình thành luật quốc tế chịu ảnh hưởng bởi ýchí của các quốc gia (VD: Phần lớn các quy tắc trong WTO là các quy định của Mỹ vàcác nước phát triển Chúng phản ánh các lợi ích của các quốc gia này trong thương mạitoàn cầu Các quốc gia đang phát triển chỉ đưa được một số quy tắc bảo đảm quyền lợicho mình) Bên cạnh đó, thực tiễn pháp lý quốc tế đã cho thấy nhiều quy phạm của Luậtquốc tế (Luật nhân đạo quốc tế, Luật ngoại giao, lãnh sự, Luật biển quốc tế)… và cácnguyên tắc của luật có nguồn gốc từ những quan điểm, quan niệm của luật quốc gia (VD:nguyên tắc áp dụng đường cơ sở thẳng của Na Uy đưa ra trong vụ Ngư trường nghề cágiữa Anh và Na Uy năm 1951 đã trở thành các tiêu chuẩn mới của luật quốc tế, thể hiệntrong Công ước Giơnevơ về lãnh hải và vùng tiếp giáp năm 1958 và Điều 4 Công ướcLuật biển 1982)

- Luật quốc tế có tác động tích cực tới tiến trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật quốc gia

Khi quốc gia tham gia vào các tổ chức quốc tế, ký kết các điều ước quốc tế đaphương và song phương, quốc gia phải thực thi các nghĩa vụ thành viên và thi hành cáccam kết quốc tế Việc đảm bảo thực thi các quy phạm của luật quốc tế bằng quy phạmpháp luật quốc gia là một việc làm không thể thiếu của mỗi quốc gia nhằm bảo đảm hiệulực của pháp luật quốc tế nói chung và các điều ước quốc tế mà quốc gia ký kết hoặc thamgia nói riêng Quốc gia có nghĩa vụ sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định của luậtquốc gia phù hợp với các cam kết quốc tế của mình Chính trong quá trình này, luật quốc

tế đã có tác động tới luật quốc gia Sau khi điều ước quốc tế được phê chuẩn hoặc phêduyệt, quốc gia ký kết phải bảo đảm các quy định của điều ước quốc tế đó được các côngdân, cá nhân, tổ chức thuộc quyền tài phán của mình tuân thủ Việc thực hiện thườngthông qua các hình thức sau:

- Quốc gia trực tiếp tiến hành các biện pháp thực hiện các nghĩa vụ của mình

- Quốc gia ban hành các quy định pháp luật quốc gia có các quy định tương thích vềnội dung với điều ước quốc tế, sao cho khi áp dụng các quy định này thì có nghĩa

là các quy định của điều ước đã được đảm bảo thực thi Cũng có trường hợp quốc

Trang 29

gia chỉ bổ sung, sửa đổi các quy định hiện hành của mình cho phù hợp với quyđịnh của các điều ước quốc tế mà quốc gia đã ký kết hoặc tham gia.

- Quốc gia ban hành các quy định về nguyên tắc vị trí của pháp luật quốc tế so vớicác quy định của pháp luật quốc gia: Trong trường hợp điều ước quốc tế mà quốcgia ký kết hoặc tham gia có quy định khác so với quy định của pháp luật quốc giathì phải tuân thủ quy định của điều ước quốc tế Trong trường hợp này, pháp luậtquốc tế được áp dụng thông qua quy định có tính nguyên tắc của pháp luật quốcgia, nghĩa là, nó vẫn chỉ được áp dụng thông qua pháp luật quốc gia Việc áp dụngnày không trái với nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia, vì quốc gia tự nguyệnđàm phán, ký kết, gia nhập, phê chuẩn hoặc phê duyệt điều ước quốc tế

- Trong một số trường hợp (Mỹ, Anh, Áo…) Hiến pháp (thành văn hoặc bất thànhvăn) thường có điều khoản quy định pháp luật quốc tế là một phần của pháp luậtquốc gia Trên cơ sở điều khoản này, pháp luật quốc tế sẽ được áp dụng tại cácquốc gia đó

Như vậy, các quốc gia có cách thức khác nhau trong việc giải quyết mối quan hệgiữa luật quốc tế và luật quốc gia

Ở Việt Nam, mối quan hệ giữa luật quốc gia và luật quốc tế ở Việt Nam được quyđịnh tại Luật số 41/2005/QH11 về ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế (Quốchội thông qua ngày 14/6/2005, Chủ tịch nước công bố ngày 24/6/2005 và Luật có hiệu lực

kể từ ngày 01/01/2006) và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 17/2008/QH12ngày 03/6/2008

Theo quy định của các văn bản pháp luật hiện hành, pháp luật Việt Nam chưa quyđịnh rõ ràng, trực tiếp về vị trí của điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập

so với hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật trong nước Tuy nhiên, theo quy định tạiĐiều 6 của Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005, trong trườnghợp văn bản quy phạm pháp luật và điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định củađiều ước quốc tế (Khoản 1) Vì vậy, các quy định của các điều ước quốc tế mà Việt Nam

đã ký kết hoặc tham gia sẽ được thực thi kể cả trong trường hợp pháp luật Việt Nam chưa

có quy định đầy đủ… Pháp luật Việt Nam thừa nhận ưu thế của điều ước quốc tế trongtương quan với pháp luật Việt Nam

Về việc áp dụng điều ước quốc tế, khoản 3 Điều 6 của Luật ký kết, gia nhập vàthực hiện điều ước quốc tế năm 2005 quy định Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ khiquyết định chấp nhận sự ràng buộc của điều ước quốc tế đồng thời quyết định áp dụngtrực tiếp toàn bộ hoặc một phần điều ước quốc tế đó đối với cơ quan, tổ chức, cá nhântrong trường hợp quy định của điều ước quốc tế đã đủ rõ, chi tiết để thực hiện; quyết địnhhoặc kiến nghị sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật trongnước để thực hiện điều ước quốc tế đó Quy định này thể hiện Việt Nam chấp nhận cả hai

Trang 30

phương pháp thực hiện điều ước quốc tế: áp dụng trực tiếp và chuyển hoá điều ước vàovăn bản quy phạm pháp luật trong nước

Một ví dụ điển hình là việc Quốc hội ban hành Nghị quyết số 71/2006/QH11 ngày

29 tháng 11 năm 2006 về việc Phê chuẩn Nghị định thư gia nhập Hiệp định thành lập Tổchức thương mại thế giới (WTO) của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong đóquyết định: "2 Áp dụng trực tiếp các cam kết của Việt Nam được ghi tại Phụ lục đínhkèm Nghị quyết này và các cam kết khác của Việt Nam với Tổ chức thương mại thế giớiđược quy định đủ rõ, chi tiết trong Nghị định thư, các Phụ lục đính kèm và Báo cáo củaBan công tác về việc Việt Nam gia nhập Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thếgiới Trong trường hợp quy định của pháp luật Việt Nam không phù hợp với quy định củaHiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới, Nghị định thư và các tài liệu đính kèmthì áp dụng quy định của Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới, Nghị định thư

và các tài liệu đính kèm."

Việc nội luật hoá (hay chuyển hoá điều ước quốc tế) được thực hiện theo cácphương thức phổ biến sau:

- Sửa đổi, bổ sung, ban hành pháp luật nhằm bảo đảm thực hiện điều ước quốc tế

- Tiến hành chuyển hoá quy phạm của điều ước quốc tế vào pháp luật trongnước

IV HIỆU LỰC CỦA LUẬT QUỐC TẾ

1 Hiệu lực và hiệu quả áp dụng của pháp luật quốc tế

Luật quốc tế hiện đại là tổng thể các quy phạm pháp luật quốc tế do các chủ thểcủa luật quốc tế thỏa thuận xây dựng nên Cũng giống như bất kỳ ngành luật nào, luậtquốc tế cũng đặt ra yêu cầu của việc phải được thực thi bởi các chủ thể Vấn đề hiệu quả

và hiệu lực của luật quốc tế luôn là vấn đề được các quốc gia quan tâm Trong khoa họcpháp lý và thực tiễn quốc tế hiện nay chưa có quan điểm thống nhất về vấn đề này

Một số quan điểm cho rằng pháp luật quốc tế không phải là “pháp luật” nên khôngcần bàn đến chuyện hiệu lực Những người theo quan điểm này cho rằng không có một cơquan lập pháp quốc tế để làm luật, không có cơ quan hành pháp để cưỡng chế thi hànhluật và không có một hệ thống tòa án quốc tế có thẩm quyền bắt buộc để giải quyết cáctranh chấp quốc tế, vì vậy pháp luật quốc tế không phải là “luật” thực sự mà chỉ là cácnguyên tắc đạo đức được thừa nhận chung Các quốc gia chỉ tuân theo pháp luật quốc tếkhi họ muốn, khi họ thấy việc tuân thủ pháp luật quốc tế có lợi cho quốc gia họ Vànhững người theo quan điểm này đưa ra khái niệm “luật mềm” (soft law) để chỉ tính chấtcủa pháp luật quốc tế

Quan điểm này sai lầm vì nó xuất phát từ nhận thức hạn hẹp về pháp luật và từ sự

so sánh một cách khập khiễng giữa pháp luật quốc tế với pháp luật quốc gia Những

Trang 31

người đưa ra qua điểm này đã lấy pháp luật quốc gia là xuất phát điểm để đánh giá phápluật quốc tế mà không hiểu rằng pháp luật quốc gia cũng chỉ là một dạng pháp luật, nókhông thể đại diện cho pháp luật nói chung Pháp luật luôn có sự biến đổi theo tiến trìnhphát triển của xã hội Tại những thời điểm và bối cảnh lịch sử khác nhau, sẽ có nhiềudạng pháp luật khác nhau ra đời phù hợp với những thay đổi trong tiến trình phát triển của

xã hội loài người Pháp luật quốc tế được hình thành khi các quốc gia có sự mở rộng quan

hệ ngoại giao, giao thương với nhau Về bản chất, pháp luật quốc tế mang những đặctrưng riêng

Hơn nữa, những người theo quan điểm này cũng không nhận thấy rằng, vấn đề cóhiệu lực hay không khác hẳn với vấn đề hiệu lực bị xâm phạm do hành vi vi phạm phápluật Việc pháp luật không được tôn trọng không chỉ là vấn đề của pháp luật quốc tế mà cảpháp luật quốc gia Thực tiễn pháp lý ở nhiều quốc gia cho thấy nhiều quy định của phápluật quốc gia cũng thường xuyên bị vi phạm, và không phải lúc nào những vi phạm đócũng bị xử lý Thậm chí trong nhiều trường hợp, xã hội quốc gia còn bị rơi vào tình trạng

vô chính phủ, pháp luật hoàn toàn mất hiệu lực Do vậy, việc pháp luật quốc tế nhiều khi

bị vi phạm và nhiều vi phạm không bị xử lý không có nghĩa là pháp luật quốc tế không cóhiệu lực

Như vậy, pháp luật quốc tế là một hệ thống pháp luật thực sự Do đó, về nguyêntắc chúng có hiệu lực Tuy nhiên, do những đặc thù riêng của mình, hiệu lực của pháp luậtquốc tế không dựa trên sức mạnh cưỡng chế như của một quốc gia với các bộ máy nhưcảnh sát, tòa án Hiệu lực của pháp luật quốc tế dựa trên sự cam kết, chấp nhận và tôntrọng pháp luật quốc tế của tất cả các quốc gia, các chủ thể khác của pháp luật quốc tế.Đôi khi, hiệu lực của pháp luật quốc tế cũng được bảo đảm bằng các biện pháp cưỡng chếcủa các chủ thể, việc cưỡng chế có thể là hành vi đơn lẻ hoặc tập thể, cũng có thể do một

tổ chức quốc tế (Liên hợp quốc, NATO v.v ) tiến hành trong khuôn khổ những quy địnhcủa luật quốc tế (VD: Tháng 11/1989, Nhóm quan sát viên của Liên hợp quốc ở Trung

Mỹ được thành lập để thẩm tra sự tuân thủ của Chính phủ nước này trong việc thực hiệnnghĩa vụ của họ là ngừng giúp đỡ các lực lượng bất hợp pháp và không cho phép sử dụnglãnh thổ Trung Mỹ để tấn công các nước khác Bên cạnh đó, Nhóm quan sát viên cònthực hiện vai trò nhất định liên quan đến vấn đề giải ngũ tự nguyện của lực lượng chốngđối, giám sát lệnh ngừng bắn…)

Sự phát triển vượt bậc của pháp luật quốc tế trong thế kỷ XX chính là sự khẳngđịnh tính hiện hữu của pháp luật quốc tế Ngày nay không một quốc gia nào, kể cả quốcgia hùng mạnh nhất, có thể hành động chỉ theo ý mình mà phớt lờ những nguyên tắc vàquy định của luật quốc tế

2 Nguyên tắc đảm bảo thực thi hiệu lực của pháp luật quốc tế

Trang 32

Cũng như pháp luật quốc gia nói riêng và pháp luật nói chung, pháp luật quốc tếkhông đương nhiên có hiệu lực mà hiệu lực của nó phụ thuộc vào hành vi của các chủ thể.Khi đề cập tới nguyên tắc đảm bảo thi hành luật quốc tế, ta không thể không nhắc đếnnguyên tắc tự nguyện thực thi các cam kết quốc tế Về mặt lịch sử, nguyên tắc tự nguyệnthực hiện các cam kết quốc tế được hình thành và phát triển từ thời La Mã với tên gọibằng tiếng Latinh là Pacta Sunt Servanda Từ thời Trung cổ, các quốc gia đã tiến hành kýkết với nhau nhiều thoả thuận quốc tế và coi việc tôn trọng những điều đã cam kết như là

sự biểu thị của mối giao bang thân thiện Việc vi phạm những điều đã cam kết thường dẫntới xung đột và chiến tranh

Do đó, việc thực thi các cam kết quốc tế được các quốc gia rất quan tâm Nguyêntắc này được ghi nhận tại Điều 2 khoản 2 Hiến chương Liên hợp quốc: “tất cả các thànhviên của Liên hợp quốc tự nguyện thực hiện các nghĩa vụ do Hiến chương đặt ra” Ngoài

ra, nguyên tắc còn được quy định tại Điều 26 Công ước Viên 1969 về Luật Điều ước vànhiều điều ước quốc tế, nghị quyết của các tổ chức và hội nghị quốc tế khác

Bản chất pháp lý của luật quốc tế là dựa trên sự tự nguyện thoả thuận Các quốcgia tự nguyện, cùng nhau thỏa thuận nên các quy tắc của luật đồng thời chính các quốcgia lại là chủ thể thi hành luật Do vậy, nguyên tắc Pacta Sunt Servanda là một nguyên tắcrất quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả và hiệu lực của luật quốc tế

Nguyên tắc này được cộng đồng quốc tế thừa nhận trong Tuyên bố Thiên niên kỷcủa Liên hợp quốc được thông qua ngày 8/9/2000

Bước sang thế kỷ 20, đặc biệt trong giai đoạn từ sau đại chiến thế giới lần thứ II trởlại đây, nguyên tắc này đã được Liên hợp quốc và các quốc gia thành viên coi trọng vàphát triển Điều này được thể hiện ở nhiều khía cạnh như các hoạt động pháp điển hóapháp luật quốc tế, việc các chủ thể tự nguyện tuân thủ các quy định, việc Liên hợp quốcthực hiện việc cưỡng chế một số trường hợp, việc nâng cao vai trò của Tòa án Công lýQuốc tế, thành lập Tòa án Hình sự quốc tế Roma… Nhưng hành động tập trung nhất và ởcấp cao nhất được thể hiện trong Tuyên bố Thiên niên kỷ được thông qua tại Hội nghịthượng đỉnh Đại hội đồng Liên hợp quốc ngày 8/9/2000 với một số mục tiêu sau:

- Tăng cường pháp quyền trong xã hội quốc tế như trong xã hội quốc gia, đặc biệt là,phải bảo đảm các quốc gia tuân theo các quyết định của Tòa án Công lý Quốc tếphù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc trong các vụ việc mà quốc gia là một bêntham gia

- Làm cho Liên hợp quốc hoạt động hiệu quả hơn trong việc giải quyết hòa bình cáctranh chấp

- Đảm bảo sự thực thi các điều ước quốc tế từ các quốc gia thành viên trong các lĩnhvực như giải trừ quân bị, pháp luật quốc tế về nhân đạo, quyền con người; xem xétviệc thông qua và phê chuẩn Quy chế Rome về Tòa án Hình sự Quốc tế

Trang 33

- Phối hợp hành động trong chống khủng bố quốc tế và xem xét gia nhập tất cả cácđiều ước quốc tế về chống khủng bố ngay khi có thể.

“Chúng ta sẽ không ngừng nỗ lực để thúc đẩy dân chủ và củng cố pháp quyền cũng như sự tôn trọng tất cả các quyền con người và quyền tự do cơ bản đã được cộng đồng quốc tế thừa nhận, trong đó có các quyền được phát triển”.

Đoạn 25 – 26 Tuyên bố Thiên niên kỷ

Nguyên tắc này yêu cầu các quốc gia, các chủ thể khác của pháp luật quốc tế phảituân thủ nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật quốc tế, thi hành các nghĩa vụ đã camkết trong các điều ước quốc tế, các phán quyết của cơ quan tài phán quốc tế trong các vụviệc liên quan đến quốc gia…

Nguyên tắc Pacta Sunt Servanda luôn gắn liền với sự phát triển của pháp luật quốc

tế, là tiền đề cũng như là kết quả của quá trình pháp điển hóa, quá trình thực thi, hiệu lực

và hiệu quả của pháp luật quốc tế

Theo tiến trình phát triển của luật quốc tế, các quốc gia ngày càng biểu hiện sự ủng

hộ nguyên tắc Điều này được thể hiện thông qua hành động của các quốc gia Khi ký kếtcác điều ước quốc tế, các quốc gia đều cố gắng nỗ lực thực thi, tuân thủ theo các cam kếtcủa mình Trong trường hợp có tranh chấp, các quốc gia đều nỗ lực giải quyết bằng cácbiện pháp hòa bình Khi một quốc gia bị cho là vi phạm pháp luật quốc tế, quốc gia nàykhông thể phớt lờ và chối bỏ trách nhiệm pháp lý quốc tế của mình Trong trường hợpquốc gia có những hành động thiếu thiện chí, công luận trong và ngoài nước sẽ lên tiếng,trước tác động đó, uy tín quốc tế và sự tín nhiệm của công chúng với chính phủ sẽ bị giảmsút nghiêm trọng Như việc Mỹ và Anh cùng một số quốc gia xâm lược Irag đã bị côngluận chỉ trích mạnh mẽ và Chính phủ hai nước đã phải đối mặt với những cuộc điều tra

Về cơ bản, sự đảm bảo và tăng cường thực thi pháp luật quốc tế phụ thuộc rất lớnvào nhận thức và hành động của cộng đồng quốc tế Chính vì vậy, để bảo đảm thực hiện,cộng đồng quốc tế cần phải:

- Ủng hộ, thúc đẩy và phát triển những phương thức giải quyết hòa bình các tranhchấp

- Khuyến khích sự phát triển tiến bộ của pháp luật quốc tế và thúc đẩy tiến trìnhpháp điển hóa (tăng cường sự tham gia, ký kết các điều ước quốc tế, bảo đảm việcthực thi…)

- Khuyến khích việc giảng dạy, nghiên cứu, phổ biến nâng cao nhận thức về phápluật quốc tế

Trong những năm qua, cộng đồng quốc tế đã có rất nhiều nỗ lực trong việc thúcđẩy thực thi pháp luật Những nỗ lực lớn nhất và đáng ghi nhận nhất thuộc về Liên hợp

Trang 34

quốc Có thể nói, Liên hợp quốc đã ghi một dấu ấn “văn hóa pháp lý Liên hợp quốc” vào

hệ thống pháp luật quốc tế hiện đại

Ngay từ những ngày đầu thành lập Liên hợp quốc, các quốc gia thành viên đã rấtchú trọng đến nguyên tắc đảm bảo thực thi hiệu lực của luật quốc tế Lời nói đầu Hiến

chương Liên hợp quốc đã xác định quyết tâm “tạo mọi điều kiện cần thiết để giữ gìn công lý và tôn trọng những nghĩa vụ do điều ước quốc tế và nguồn khác của pháp luật quốc tế đặt ra” Điều 1 khoản 1 Hiến chương cũng tuyên bố một trong những sứ mệnh, tôn chỉ, mục đích của Liên hợp quốc là “…điều chỉnh hoặc giải quyết các vụ tranh chấp hoặc những tình thế có tính chất quốc tế có thể đưa đến sự phá hoại hòa bình, bằng phương pháp hòa bình theo đúng nguyên tắc của công lý và pháp luật quốc tế” Tất cả

các cơ quan của Liên hợp quốc đều có nhiệm vụ trong việc thúc đẩy việc tuân thủ luậtpháp quốc yế Điều 13 khoản 1 điểm a Hiến chương Liên hợp quốc trao cho Đại hội đồng

Liên hợp quốc quyền nghiên cứu ban đầu và thông qua những kiến nghị nhằm “phát triển

sự hợp tác quốc tế trong lĩnh vực chính trị, và thúc đẩy việc pháp điển hóa và sự phát triển của pháp luật quốc tế theo hướng tiến bộ”.

Hai chương trình lớn của Liên hợp quốc trong thời gian gần đây đã thể hiện nhữngquyết tâm và nỗ lực này của cộng đồng quốc tế

 Chương trình thứ nhất: Thập kỷ Pháp luật quốc tế của Liên hợp quốc (1990 –1999) với các hoạt động lớn như sáng kiến về các buổi lễ ký kết, gia nhập phêchuẩn các điều ước quốc tế đa phương nhằm nhân rộng hiệu lực ràng buộc của cácđiều ước với các chủ thể, hỗ trợ các quốc gia thành viên trong việc chuẩn bị cácđiều kiện để thực thi các cam kết (biên soạn luật mẫu, hỗ trợ quá trình lập pháp,đào tạo cán bộ thực hành)

 Chương trình thứ hai: Kế hoạch hành động Kỷ nguyên Áp dụng pháp luật quốc tế:Đây là một chương trình lớn của Liên hợp quốc nhằm thúc đẩy pháp quyền trong

xã hội quốc tế Chương trình được xây dựng trên cơ sở những kết quả của Thập kỷpháp luật quốc tế Nội dung chính bao gồm:

- Khuyến khích việc tham gia vào các điều ước, tư vấn một cách bài bản việc kýkết các điều ước, nâng cao nhận thức các nghị sỹ, các trung tâm nghiên cứu chính sáchcông, các hội nghị về luật, về những nội dung chính của 25 điều ước chủ yếu được nêutrong Hội nghị thượng đỉnh 2000 cũng như tình hình ký kết và thực thi chúng, hỗ trợ kỹthuật cho các quốc gia trong việc hoàn tất thủ tục cần thiết đối với các điều ước

- Hỗ trợ quốc gia trong việc soạn thảo các văn kiện cần thiết để thực thi

- Đào tạo thẩm phán và luật sư

- Đào tạo những người liên quan đến việc áp dụng pháp luật quốc tế

- Giáo dục và phổ cập kiến thức pháp luật quốc tế

Trang 35

CHƯƠNG 2

CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA LUẬT QUỐC TẾ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nguyễn Bá Diến và Nguyễn Hùng Cường Cơ chế giải quyết tranh chấp trên biển

theo Công ước Luật biển 1982, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Luật học

4 Khoa Luật ĐHQGHN, Giáo trình Luật quốc tế, NXB DHQGHN,1997;

5 Brownlie J., Principles of Public International Law Sixth ed Oxford, 2003; Evans M., International Law, Oxford University Press, 2007;

6 Ignatenco G.V., Tuinov O.I., Luật quốc tế Matxcơva, 2006;Malcom N.Shaw,

International Law, Cambridge University Press, Fifth ed 2004;

7 O’Brien J., International Law London-Sydney, 2006;

8 Wallace R., International Law Fifth ed London.2005 Luật quốc tế - Lý luận và thực tiễn,

I – KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA LUẬT QUỐC TÊ

1 Khái niệm các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế

Hiện nay, trong nhiều văn kiện pháp lý quốc tế, các công trình khoa học về luậtquốc tế và trong thực tiễn đời sống quốc tế, thường bắt gặp những thuật ngữ như “cácnguyên tắc của luật quốc tế”, “các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế” hoặc “các nguyêntắc pháp lý được các dân tộc văn minh thừa nhận”10 Về phương diện pháp lý quốc tế,thuật ngữ “các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế” dùng để chỉ các nguyên tắc được ghinhận trong Điều 2 Hiến chương Liên Hợp Quốc ngày 24/10/1945 và được ghi nhận trongTuyên bố về các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế điều chỉnh mối quan hệ hữu nghị, hợptác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên Hợp Quốc, ngày 24/10/1970 (haycòn gọi là Tuyên bố ngày 24/10/1970) Đây được coi là văn bản pháp lý quốc tế nền tảng,mang tính định hướng cho hệ thống quy phạm pháp luật quốc tế hiện đại Phần lớn cácnguyên tắc cơ bản này đều đã được quy định trong Hiến chương Liên Hợp Quốc Tuynhiên, theo tinh thần của Điều 2, thì đây là các nguyên tắc hoạt động của Liên Hợp Quốc

10 Điểm c, khoản 1, Điều 38 Quy chế Tòa án quốc tế

Trang 36

chứ không sử dụng thuật ngữ các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế: “…Liên hợp quốc

và các Thành viên sẽ hành động phù hợp với những nguyên tắc sau đây…” và đến Tuyên

bố ngày 24/10/1970, hệ thống các nguyên tắc tại Điều 2 Hiến chương mới được chínhthức ghi nhận là “các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tê”

Như vậy, hệ thống các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế được hiểu là những tưtưởng chính trị, pháp lý mang tính chỉ đạo, nền tảng, bao trùm và có giá trị bắt buộcchung (Jus cogens) đối với mọi chủ thể của luật quốc tế áp dụng trong mọi điều kiện,hoàn cảnh, lĩnh vực của quan hệ quốc tế Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế đặt nềntảng và khuôn khổ pháp lý cho việc pháp điển hóa và thực thi hệ thống pháp luật quốc tế,nhằm bảo vệ hòa bình, an ninh quốc tế; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các quốcgia; bảo vệ quyền con người

Trong hệ thống pháp luật quốc tế tồn tại nhiều nguyên tắc khác nhau, trong đó cócác nguyên tắc điều chỉnh quan hệ ở phạm vi toàn cầu, có các nguyên tắc điều chỉnh quan

hệ ở phạm vi khu vực, đồng thời có cả các nguyên tắc điều chỉnh quan hệ trong từngngành luật cụ thể của luật quốc tế Trong đó, các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế lànhững nguyên tắc thể hiện tập trung nhất, khái quát nhất và cơ bản nhất các quan điểmchính trị - pháp lý và cách xử sự của các quốc gia trong việc giải quyết những vấn đề cơbản, quan trọng nhất của đời sống quốc tế

Bên cạnh các nguyên tắc cơ bản, mỗi ngành luật trong hệ thống pháp luật quốc tếđều có những nguyên tắc đặc thù Các nguyên tắc đặc thù này đóng vai trò nền tảng,đồng thời là hạt nhân chi phối quá trình hình thành, tồn tại và phát triển của ngành luật

đó Ví dụ: ngành luật biển quốc tế có nguyên tắc tự do hàng hải, ,nguyên tắc tự do biển

cả, nguyên tắc đất thống trị biển,…; ngành luật điều ước quốc tế có nguyên tắc tự nguyện,bình đẳng trong quá trình ký kết điều ước quốc tế… Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc

tế và các nguyên tắc chuyên ngành của luật quốc tế đều hình thành trên cơ sở thỏa thuậncủa các chủ thể luật quốc tế và đều có giá trị bắt buộc đối với các chủ thể của luật quốc tế.Tuy nhiên, hai hệ thống nguyên tắc này khác nhau cơ bản ở giá trị pháp lý và phạm vi chủthể chịu sự chi phối Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế tồn tại dưới dạng các quyphạm Jus cogens, có giá trị pháp lý bắt buộc chung đối với mọi chủ thể, mọi mối quan hệpháp luật và mọi lĩnh vực hợp tác quốc tế Tất cả các chủ thể đều phải chịu sự tác độngcủa các nguyên tắc cơ bản, không cho phép có sự thảo thuận giữa các chủ thể về việc cóthực hiện hay không và thực hiện như thế nào Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế làthước đo tính hợp pháp của các quy phạm luật quốc tế Các nguyên tắc chuyên ngành chỉ

là sự cụ thể hóa các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế Bởi vậy, các nguyên tắc chuyênngành phải phù hợp với các nguyên tắc cơ bản và chỉ tác động khi chủ thể luật quốc tếtham gia vào các quan hệ thuộc phạm vi, lĩnh vực đó

2 Quá trình hình thành hệ thống các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế

Trang 37

Như đã đề cập ở trên, các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế chủ yếu được quyđịnh tập trung trong hai văn kiện pháp lý quốc tế quan trọng: Hiến chương Liên HợpQuốc ngày 24/10/1945 và Tuyên bố ngày 24/10/1970 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc

về các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế điều chỉnh mối quan hệ hữu nghị và hợp tác củacác quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc Vì vậy, có thể chia quá trình hìnhthành các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế thành hai giai đoạn:

* Giai đoạn 1: Các nguyên tắc được ghi nhận lần đầu tiên trong Điều 2 Hiến chương Liên

hợp quốc ngày 24/10/1945 bao gồm:

- Nguyên tắc bình đẳng chủ quyền của các quốc gia (khoản 1 Điều 2)

- Nguyên tắc tận tâm thực hiện các cam kết quốc tế (khoản 2 Điều 2)

- Nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế (khoản 3 Điều 2)

- Nguyên tắc không sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế(khoản 4 Điều 2)

- Nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia (khoản 7 Điều 2)

* Giai đoạn 2: Các nguyên tắc được bổ sung trong Tuyên bố ngày 24/10/1970.

Ngoài các nguyên tắc cơ bản được ghi nhận trong Hiến chương LHQ, Tuyên bố ngày24/10/1970 còn ghi nhận các nguyên tắc sau:

- Nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau

- Nguyên tắc quyền dân tộc tự quyết

Đồng thời, nhiều điều ước quốc tế đa phương khác cũng đã ghi nhận các nguyêntắc cơ bản, như Định ước cuối cùng của Hội nghị an ninh và hợp tác châu Âu năm 1975(gọi tắt là Định ước Henxinki ngày 1/8/1975)11: bên cạnh việc ghi nhận bảy nguyên tắctrên, Định ước còn bổ sung ba nguyên tắc: bất khả xâm phạm biên giới quốc gia, toàn vẹnlãnh thổ quốc gia và nguyên tắc tôn trọng quyền con người,v.v…

3 Đặc điểm của các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế

Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế có bốn đặc điểm cơ bản sau:

* Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế có tính mệnh lệnh chung

Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế là những quy phạm có tính mệnh lệnh (Juscogens), có giá trị pháp lý cao nhất và bắt buộc đối với mọi chủ thể của luật quốc tế, theo

đó, các chủ thể của luật quốc tế đều phải tuyệt đối tuân thủ các nguyên tắc này trong mọihoàn cảnh, mọi quan hệ quốc tế Không một chủ thể hay nhóm chủ thể nào của luật quốc

tế có quyền không thực hiện hay thực hiện không đúng các nguyên tắc cơ bản này Bất kỳ

11 Tên gốc: La Conférence sur la sécurité et la coopération en Europe: Acte fianl d’Helsinki (1975)

Trang 38

hành vi đơn phương nào không tuân thủ triệt để các nguyên tắc cơ bản đều bị coi là sự viphạm nghiêm trọng luật quốc tế Các quy phạm điều ước, tập quán quốc tế và pháp luậtquốc gia có nội dung trái với các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế đều không có giá trịpháp lý.

* Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế có tính bao trùm nhất

Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế mang tính bao trùm, xuyên suốt toàn bộ hệthống quy phạm pháp lý quốc tế và pháp luật quốc gia Các nguyên tắc cơ bản của luậtquốc tế tổng quát hóa toàn bộ nội dung hệ thống các quy phạm pháp luật quốc tế; đồngthời chúng được áp dụng trong tất cả các lĩnh vực của quan hệ quốc tế giữa các chủ thểcủa luật quốc tế; góp phần định hướng cơ bản cho hệ thống văn bản quy phạm pháp luậtquốc gia

* Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế có tính phổ cập

Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế được ghi nhận trong nhiều văn kiện quốc

tế, được áp dụng trên phạm vi toàn cầu và được thừa nhận rộng rãi trong quan hệ quốc tế.Các nguyên tắc cơ bản được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp lý quan trọng: Hiếnchương Liên hợp quốc, Tuyên bố ngày 24/10/1970, Định ước Henxinki 1/8/1975 về anninh và hợp tác các nước châu Âu, Hiệp ước thân thiện và hợp tác Đông Nam Á,… vàtrong rất nhiều điều ước song phương giữa các nước như Hiệp định thương mại Việt Nam– Hoa Kỳ ngày 13/7/2000, Hiệp định biên giới Việt – Trung năm 1999…

* Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế có mối quan hệ tương tác trong một chỉnh thể thống nhất

Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế có quan hệ mật thiết với nhau trong mộtchỉnh thể thống nhất, có tác động qua lại lẫn nhau về nội dung và yêu cầu thực hiện thựchiện những nội dung đó Do vậy, khi giải thích và áp dụng các nguyên tắc cơ bản, chúng

ta không thể tách rời nội dung từng nguyên tắc mà phải xem xét, áp dụng chúng trong mốiquan hệ với các nguyên tắc khác Có như vậy, các nguyên tắc cơ bản mới có khả nănghoàn thành chức năng là “xương sống”, là nền tảng của hệ thống pháp luật quốc tế

4 Vai trò của các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế

Các nguyên tác cơ bản của luật quốc tế là cơ sở, nền tảng của toàn bộ hệ thống luậtquốc tế và trật tự pháp lý quốc tế Các nguyên tắc cơ bản là cơ sở pháp lý quan trọng nhất

để các chủ thể giải thích và áp dụng luật quốc tế, đồng thời giới hạn ý chí và quyền tựquyết của các chủ thể luật quốc tế Các quan hệ quốc tế được thiết lập giữa các chủ thểcủa luật quốc tế đều bị coi là bất hợp pháp, là vô hiệu nếu nội dung của các quan hệ đó đingược lại nội dung và tiêu chuẩn pháp lý được quy định trong các nguyên tắc cơ bản củaluật quốc tế

Trang 39

Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế là căn cứ pháp lý để giải quyết các tranhchấp quốc tế và là công cụ pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thểluật quốc tế Các nguyên tắc cơ bản còn là nền tảng pháp lý cho tất cả các quốc gia, dântộc, các thực thể khác của pháp luật quốc tế tuân thủ và thực hiện pháp luật quốc tế mộtcách hiệu quả nhất Các nguyên tắc cơ bản luôn đóng vai trò là khuôn mẫu xử sự và làthước đo giá trị pháp lý của tất cả các quy phạm luật quốc tế, kể cả pháp luật quốc gia.Các quy phạm điều ước và tập quán quốc tế có nội dung trái với các nguyên tắc cơ bảncủa luật quốc tế đều không có giá trị pháp lý.

II – HỆ THỐNG CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA LUẬT QUỐC TẾ

Cũng như sự hình thành luật quốc tế, phạm trù các nguyên tắc cơ bản của luật quốc

tế cũng là một phạm trù mang tính xã hội – lịch sử Vì vậy, nó cũng có quá trình phátsinh, phát triển và hoàn thiện gắn liền với các giai đoạn hình thành và phát triển của luậtquốc tế Căn cứ vào sự ra đời của các nguyên tắc, luật quốc tế chia chúng thành hai nhóm

- Nhóm các nguyên tắc hình thành trong luật quốc tế hiện đại: Đây là các nguyêntắc hình thành trong thời kỳ hiện đại khi sự hình thành các tổ chức quốc tế và quá trìnhhội nhập đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ tại hầu hết quốc gia trên thế giới Nhóm nàybao gồm năm nguyên tắc: Nguyên tắc cấm đe dọa dùng vũ lực hay dùng vũ lực; nguyêntắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế; nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội

bộ của quốc gia khác; nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác và nguyên tắc dân tộc

tư bản chủ nghĩa Tuy nhiên, cũng giống như các nguyên tắc khác trong thời kỳ đó,nguyên tắc này chỉ được dùng để điều chỉnh mối quan hệ giữa các quốc gia nhất định:bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia “văn minh” Hiến pháp tư sản đã ghi nhậnnguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia như một tôn chỉ của mình, tuy

Trang 40

nhiên, trên thực tế, giai cấp tư sản không hề tôn trọng nguyên tắc này Các cuộc đấu tranhđầu thế kỷ XIX, chiến tranh thế giới lần thứ nhất, lần thứ hai… liên tiếp nổ ra nhằm phânchia lại thị trường thế giới là những minh chứng rõ ràng nhất cho sự vi phạm thô bạonguyên tắc này của các nước tư bản thời bấy giờ.

Sau Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, quan niệm về chủ quyền và bình đẳng

về chủ quyền giữa các quốc gia đã có sự thay đổi căn bản Trong chính sách đối ngoại củamình, Nhà nước Nga Xô Viết đã thừa nhận tất cả các quốc gia trên thế giới không phânbiệt lớn bé, giàu nghèo, chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội đều là chủ thể của luậtquốc tế, đều bình đẳng về chủ quyền Từ đó, nội dung pháp lý của nguyên tắc này đãđược nâng lên và hoàn thiện đúng ý nghĩa pháp lý của nó

Khi soạn thảo và xây dựng Hiến chương Liên hợp quốc, với tôn chỉ và mục đíchgiữ gìn hòa bình và an ninh thế giới, nguyên tắc này đã được ghi nhận là một trong nhữngnguyên tắc cơ bản của luật quốc tế và được đặt ở vị trí đầu tiên trong số các nguyên tắcđược ghi nhận tại Điều 2 Hiến chương Liên hợp quốc: “Liên Hiệp Quốc được xây dựngtrên nguyên tắc bình đẳng chủ quyền của tất cả các Thành viên”

Đến năm 1970, Đại hội đồng Liên hợp quốc một lần nữa khẳng định bình đảng vềchủ quyền giữa các quốc gia là một trong bảy nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế và đượcghi nhận một cách đầy đủ nội dung pháp lý trong Tuyên bố ngày 24/10/1970 Ngoài ra,nguyên tắc này cũng được ghi nhận trong Định ước Henxinki 1/8/1975 về an ninh và hợptác các nước châu Âu và nhiều văn bản pháp lý quan trọng khác của Liên minh châu Âu,ASEAN, Liên minh châu Phi…

1.2 Nội dung nguyên tắc

Chủ quyền là thuộc tính chính trị - pháp lý không thể tách rời của một quốc gia,bao gồm hai nội dung cơ bản là quyền tối cao của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ củamình và quyền độc lập của quốc gia trong quan hệ quốc tế

Trong phạm vi lãnh thổ của mình, quốc gia có toàn quyền quyết định mọi côngviệc đối nội của quốc gia mình, theo đó, quốc gia thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và

tư pháp mà không có bất kỳ sự can thiệp nào từ bên ngoài, thông qua những quyết định vềmọi vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Đây là quyền tối cao của quốc gia trongphạm vi lãnh thổ của mình Tuy nhiên, quyền tối cao này phải thể hiện ý chí và nguyện

vọng của nhân dân sống trên lãnh thổ đó, phải xem “ý chí của nhân dân là nền tảng quyền lực của Chính phủ”12

Trong quan hệ quốc tế, quyền độc lập của quốc gia thể hiện qua quyền tự quyếtmọi vấn đề đối nội và đối ngoại của quốc gia, không có sự áp đặt từ chủ thể khác, trên cơ

sở tôn trọng chủ quyền của mọi quốc gia trong cộng đồng quốc tế Quốc gia có toàn

Ngày đăng: 19/03/2022, 15:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w