1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bài tập nhóm công pháp quốc tế về nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế lý thuyết và thực hành

16 125 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 51,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945 đã quy định nguyên tắc cấm đe dọa sử dụng hay sử dụng vũ lực là một trong những nguyên tắc của Tổ chức này, giao cho Hội đồng Bảo an trách nhiệm chính

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

BÀI TẬP NHÓM

Nguyên tắc cấm sử dụng vụ lực và đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ

quốc tế lý thuyết và thực hành

_

Môn: Công pháp quốc tế

Giảng viên học phần: TS Đào Thị Thu Hường Sinh viên thực hiện: Nhóm

Hà Nội, 2022

Trang 2

Mục lục

1.Cơ sở pháp lý của Nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ

2 Khái niệm, nội dung và đặc điểm Nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực và đe

I Tóm tắt vụ án các hoạt động quân sự và bán quân sự tại Nicaragoa và

2 Quyền tự vệ tập thể Mỹ viện dẫn làm căn cứ để tiến hành các hành

Trang 3

Phần I Lý thuyết

1 Cơ sở pháp lý của Nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực

Trước chiến tranh thế giới thứ 2 những quy định về việc không sử dụng chiến tranh chỉ là những quan điểm, ý tưởng và chưa trở thành nguyên tắc mang tính bắt buộc chung Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945 đã quy định nguyên tắc cấm đe dọa sử dụng hay sử dụng vũ lực là một trong những nguyên tắc của

Tổ chức này, giao cho Hội đồng Bảo an trách nhiệm chính yếu để giám sát thực thi nhằm bảo đảm duy trì hòa bình và an ninh quốc tế

1.2 Cơ sở pháp lý

Nguyên tắc cấm dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế được quy định cụ thể trong Hiến chương Liên hợp quốc tại chương I, Điều 2, khoản 4

Trong khuôn khổ những nỗ lực của Liên hợp quốc, nguyên tắc cấm dùng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực đã từng bước được cụ thể hóa qua các văn kiện quốc tế quan trọng, đáng chú ý là Tuyên bố về những nguyên tắc của Luật quốc

tế điều chỉnh mối quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua theo Nghị quyết số 2625, ngày 14/1/1970 Tuyên bố đã đặt lên hàng đầu nguyên tắc cấm dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực Phát triển nguyên tắc đã được Hiến chương xác lập trước đó, Tuyên bố chỉ rõ: “Mọi quốc gia có nghĩa vụ từ bỏ việc

đe dọa hoặc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế nhằm chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ hoặc nền độc lập chính trị của bất kỳ quốc gia nào Việc đe dọa dùng

vũ lực như trên sẽ cấu thành sự vi phạm luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc và không bao giờ được sử dụng như là một biện pháp để giải quyết các vấn đề quốc tế” Tuyên bố này là một văn kiện có giá trị pháp lý quốc tế vì nó là bằng chứng thể hiện sự đồng thuận của cộng đồng quốc tế trong việc nhận thức,

cụ thể hóa và cam kết thực hiện các nguyên tắc cơ bản được nêu lên trong Hiến chương lIên hợp quốc, trong đó bao gồm nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực

Sau đó Liên hợp quốc đã tiếp tục thông qua một số văn kiện khác liên quan đến nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực Đáng chú ý là Nghị quyết về định nghĩa tội xâm lược (1974), Tuyên bố về nâng cao hiệu quả của nguyên tắc bỏ sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế (1987) Ngoài ra nguyên tắc này còn được công nhận và phát triển trong một số văn bản quốc tế khác như: Định ước của Hội nghị Henxinki năm 1975 về An

Trang 4

ninh và hợp tác của các nước châu Âu, Tuyên bố năm 1987 về việc Nâng cao hiệu quả của nguyên tắc khước từ đe dọa dùng sức mạnh hoặc đe dọa dùng sức mạnh trong quan hệ quốc tế và một số văn kiện của phong trào không liên kết, tổ chức ASEAN

Như vậy, việc cấm sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực đã được pháp điển hóa trong luật quốc tế hiện đại, mà cụ thể nhất là đã được xác lập trong Hiến chương Liên hợp quốc

2 Khái niệm, nội dung và đặc điểm Nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực và

đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

2.1 Khái niệm và nội dung

Theo Tuyên bố ngày 24/10/1970, tên gọi đầy đủ của nguyên tắc này là:

“Nguyên tắc tất cả các quốc gia từ bỏ việc sử dụng hoặc đe dọa dùng vũ lực trong các quan hệ quốc tế của mình chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ hoặc độc lập chính trị của bất kỳ quốc gia nào, hoặc là bất cứ cách thức nào khác không phù hợp với những mục đích của Liên hợp quốc” Nội dung của nguyên tắc này bao gồm:

⮚ Cấm xâm chiếm lãnh thổ quốc gia hoặc sử dụng lực lượng vũ trang vượt qua biên giới tiến vào lãnh thổ quốc gia khác;

⮚ Cấm cho quân vượt qua biên giới quốc tế, trong đó có giới tuyến hòa giải;

⮚ Cấm các hành vi đe dọa trấn áp bằng vũ lực;

⮚ Không cho phép quốc gia khác sử dụng lãnh thổ của mình để tiến hành xâm lược chống nước thứ ba;

⮚ Không tổ chức, khuyến khích, xúi giục, giúp đỡ hay tham gia vào nội chiến hay các hành vi khủng bố tại quốc gia khác;

⮚ Không được sử dụng và đe dọa sử dụng vũ lực như một biện pháp để giải quyết tranh chấp;

⮚ Không tổ chức, giúp đỡ các băng đảng vũ trang, nhóm vũ trang, lính đánh thuê đột nhập phá hoại lãnh thổ quốc gia khác;

⮚ Cấm tuyên truyền chiến tranh xâm lược

Nguyên tắc cấm đe dọa sử dụng hay sử dụng vũ lực được xem là nguyên tắc

có tầm quan trọng bậc nhất trong tất cả các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế Luật pháp nói chung được đặt ra để con người có thể sống với nhau trong xã hội một cách hòa bình, hay ít nhất không xung đột một mất một còn Nếu vũ lực được sử dụng một cách không hạn chế thì vai trò của luật pháp sẽ mất đi, ảnh hưởng tiêu cực đến tình hình an ninh thế giới, điển hình là hai cuộc chiến tranh thế giới đã cướp đi rất nhiều thứ của chúng ta Vì lẽ đó nguyên tắc

Trang 5

này được công nhận là quy phạm mang tính chất bắt buộc chung (jus cogens: là nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế được cộng đồng quốc tế chấp nhận như một chuẩn mực không được vi phạm), được xem là quy phạm có giá trị pháp lý cao nhất và không chấp nhận bất kì sự vi phạm nào Các cá nhân phát động chiến tranh xâm lược được coi là phạm tội ác quốc tế, và các quốc gia gây ra các cuộc chiến tranh xâm lược phải chịu trách nhiệm pháp lý quốc tế

Liên hợp quốc cũng thành lập một hội đồng với nhiệm vụ giám sát thực thi nguyên tắc này: Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc với 5 thành viên thường trực: Nga, Mỹ, Trung Quốc, Anh, Pháp và các thành viên không thường trực Việt Nam hiện đang là thành viên không thường trực của hội đồng bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020-2021 Sau 75 phát triển từ năm 1945 đến nay, việc không xuất hiện chiến tranh thế giới thứ 3, Hội đồng Bảo an của Liên hợp quốc được đánh giá là đã hoàn thành được nhiệm vụ và vai trò của mình

2.1.1 Khái niệm “Vũ lực”

- Theo nghĩa hẹp: Vũ lực là là vũ lực quân sự, vũ lực do vũ khí, khí tài Là hành động sử dụng sức mạnh vũ trang để chống lại một quốc gia độc lập

có chủ quyền hay gây sức ép, đe dọa quốc gia khác nhằm đạt được mục đích chính trị của mình

- Khái niệm sử dụng vũ lực: Theo khoản 4 điều 2 Hiến chương hay Phán quyết ngày 27/7/1986 của Tòa án quốc tế La Haye thì ta có thể hiểu là sử dụng lực lượng vũ trang để chống lại quốc gia độc lập có chủ quyền Việc một quốc gia sử dụng vũ lực vi phạm nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế trước hết là việc quốc gia đó sử dụng lực lượng vũ trang tấn công vào lãnh thổ quốc gia khác nhằm mục đích xâm lược dài lâu hoặc chiếm đóng trong một thời gian nhất định, nhằm buộc quốc gia khác phải phục tùng mình, phục vụ cho các lợi ích của mình

Ví dụ: cho hành vi này có thể kể tới ngày 04 tháng 04 năm 2017 Mỹ cáo

buộc chính phủ Syria đã thực hiện một cuộc tấn công hóa học, giết chết hàng chục người tại tỉnh Idlib, tây nam thành phố Aleppo “Nhà Trắng” gọi cuộc tấn công này là “tàn ác” và nhấn mạnh “cuộc tấn công hóa học ở Syria chống lại dân thường bao gồm cả phụ nữ và trẻ em là đáng trách và không thể phớt lờ bởi thế giới văn mình.” Phía Mỹ cho rằng Chính phủ Syria của Tổng thống Bashar al-Assad đứng sau cuộc tấn công này

Ngày 06 tháng 04 năm 2017, Tổng thống Trump ra lệnh tấn công vào các cơ sở sân bay của quân đội Syria Đã có 59 tên lửa hành trình Tomahawk đã được phóng, trong đó 58 quả đánh trúng các mục tiêu dự kiến Tổng thống Trump có hai lý do dẫn đến quyết định tấn công tên lửa và Syria Lý do dài hạn là nhằm

Trang 6

chống khủng bố, chống chính quyền của Tổng thống Assad và ngăn chặn khủng hoảng di cư Lý do trực tiếp là nhằm bảo vệ “lợi ích an ninh quốc gia sống còn” của Mỹ nhằm ngăn chặn và loại trừ vũ khí hóa học, và trừng phạt chính phủ Assad khi cho rằng chính phủ này đã tiến hành cuộc tấn công hóa học ngày 04/04/2017

2.1.2 Đe dọa sử dụng vũ lực

Đe dọa sử dụng vũ lực được hiểu là hành vi mà các chủ thể luật quốc tế sử dụng không nhằm tấn công xâm lược nhưng để gây sức ép, đe dọa quốc gia khác hoặc các hành vi được sử dụng hàm chứa nguy cơ, mầm mống dẫn đến việc sử dụng vũ lực Trong luật quốc tế, đe dọa sử dụng vũ lực bao gồm các hành vi sau đây:

- Tập trận ở biên giới giáp với quốc gia khác;

- Tập trung, thành lập căn cứ quân sự ở biên giới giáp quốc gia trái với thỏa thuận giữa các bên hữu quan;

- Gửi tối hậu thư đe dọa quốc gia khác

Đặt trong thực tế, chúng ta phải phân tách trường hợp nào là đe dọa sử dụng

vũ lực hay trường hợp nào là phòng vệ hay tự vệ Đây cũng chính là ngoại lệ của nguyên tắc này

Ví dụ: cho hành vi đe dọa sử dụng vũ lực này là Vụ Guyana và Suriname

liên quan đến vùng lãnh thổ hàng hải đang tranh chấp, nơi mà cả hai quốc gia này đều tuyên bố chủ quyền Hành vi của tàu hải quân Suriname phát ra cảnh báo một tàu khoan dầu được Guyana cấp phép phải đi ra khỏi khu vực đang khoan “nếu không sẽ chịu mọi hậu quả” Sau cảnh báo tàu khoa dầu đã rút đi và không có bất kỳ va chạm nào Hành vi này của Suriname nhận phán quyết của tòa Trọng tài là hành vi đe dọa sử dụng vũ lực và giải thích của tòa là với việc ra cảnh báo “chịu mọi hậu quả” nó thể hiện việc sử dụng vũ lực nếu như tàu khoan dầu này không rời đi, bên cạnh đó chủ thể của thực hiện hành vi cảnh báo là Hải quân của quốc gia Suriname và tính chất cảnh báo có hành động quân sự chứ không giống hành vi chấp pháp (tuyên bố của quốc gia) thông thường

2.1.3 Hành vi xâm lược.

Để làm sáng tỏ nội dung nguyên tắc thì chúng ta còn cần làm rõ khái niệm

“xâm lược” Nghị quyết của Đại hội đồng Liên hợp quốc số 3314 (XXIX) ngày 12/4/1974 về định nghĩa xâm lược đã đưa ra các danh mục hoạt động được coi

là thực hiện hành vi xâm lược, không phụ thuộc vào việc có tuyên bố chiến tranh hay không và tuyên bố ở nơi nào Có rất nhiều cách hiểu về xâm lược, nó

Trang 7

không chỉ đơn thuần là hành vi xâm lược về vũ trang mà còn có hành vi xâm lược về kinh tế, tư tưởng; không chỉ xâm lược trực tiếp mà còn cả gián tiếp

- Xâm lược vũ trang: đây là khái niệm được nhiều người biết đến nhất với hành động xâm lược sử dụng vũ trang là vũ khí, quân sự để xâm chiếm một quốc gia Ví dụ về xâm lược vũ trang đó chính là Quân Nguyên Mông sang xâm lược Việt Nam với đội quân, vũ khí, tàu thuyền hùng hậu với mục đích nhằm xâm chiếm lãnh thổ hay làm chủ lãnh thổ của Việt Nam hay Đại Nam thời bấy giờ

- Xâm lược về kinh tế: là hiện tượng một quốc gia dùng các biện pháp kinh

tế để bắt các quốc gia khác phụ thuộc vào mình về mặt kinh tế và chính trị Ví dụ áp đặt cho quốc gia khác những điều ước quốc tế về kinh tế và thương mại bất bình đẳng, có tính nô dịch; trao đổi kinh tế, thương mại không ngang giá; ngăn cản quốc gia khác tiến hành những biện pháp quốc hữu hóa hay bảo vệ tài nguyên thiên nhiên của mình; phong tỏa, cấm vận kinh tế để phá hoại sự phát triển kinh tế của quốc gia khác Điển hình nhất

là cấm vận của Mỹ đối với Cuba

- Xâm lược tư tưởng là hiện tượng một quốc gia tiến hành kích động, tuyên truyền chiến tranh, gây thù hằn dân tộc, tuyên truyền ca tụng các loại vũ khí giết người hàng loạt nhằm gây hoang mang lo sợ, thù hằn trong nhân dân Những hành vi đó tạo ra nguy cơ chiến tranh, đe dọa hòa bình

và an ninh của các dân tộc Ví dụ: diễn biến hòa bình mà các nước tư bản chủ nghĩa dùng để chống lại các nước chủ nghĩa xã hội

- Xâm lược trực tiếp là trường hợp một quốc gia trực tiếp thực hiện các hành vi xâm lược vũ trang, kinh tế, tư tưởng đối với một quốc gia Xâm lược gián tiếp là trường hợp quốc gia tiến hành xâm lược nhưng giấu mặt thông qua tay kẻ khác như: xúi giục, giúp đỡ quốc gia khác tiến hành xâm lược để thực hiện mưu đồ chính trị của mìn; khuyến khích cổ vũ các hoạt động phá hoại, khủng bố, tàn sát chống quốc gia khác; kích động gây nội chiến ở quốc gia khác…

2.2 Đặc điểm

Về đặc điểm, nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực mang đặc điểm chung như các nguyên tắc khác của Luật Quốc tế gồm bốn đặc điểm sau:

Tính mệnh lệnh chung: tất cả các chủ thể đều phải tuyệt đối tuân thủ các

nguyên tắc cơ bản của Luật Quốc tế, không có quyền hủy bỏ nguyên tắc cơ bản nào của Luật Quốc tế Bất kỳ hành vi đơn phương nào không tuân thủ triệt để nguyên tắc cơ bản của LQT đều bị coi là sự vi phạm nghiêm trọng pháp luật

Trang 8

quốc tế Các quy phạm điều ước và tập quán quốc tế có nội dung trái với các nguyên tắc cơ bản của Luật Quốc tế đều không có giá trị pháp lý Ngoài ra, đối với các lĩnh vực xuất hiện các nguyên tắc chuyên biệt như : Luật Biển quốc tế, Luật hàng không dân dụng quốc tế thì bên cạnh việc tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của Luật Quốc tế, các bên còn phải chấp hành các nguyên tắc chuyên biệt trong từng lĩnh vực cụ thể

Về tính bao trùm: Nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế là chuẩn mực để

xác định tính hợp pháp của toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp lý quốc tế Đồng thời chúng được thực hiện trong tất cả các lĩnh vực của quan hệ quốc tế giữa các quốc gia

Về tính hệ thống: Các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế có mối quan

hệ mật thiết với nhau trong một chính thể thống nhất, biểu hiện ở chỗ: việc tôn trọng hay phá vỡ nguyên tắc này sẽ làm ảnh hưởng đến nội dung và việc tuân thủ các nguyên tắc khác

Về tính thừa nhận rộng rãi: các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế

được áp dụng trong phạm vi toàn thế giới, đồng thời được ghi nhận trong các văn bản pháp lý quốc tế quan trọng như Hiến Chương Liên Hợp Quốc, Tuyên bố năm 1970 về các nguyên tắc cơ bản của Luật Quốc tế

3 Ngoại lệ của nguyên tắc trong Hiến chương

Do việc sử dụng vũ lực đã bị nghiêm cấm, mọi thành viên của Liên hợp quốc trong quan hệ đối ngoại của mình, đều không được phép sử dụng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực Tuy nhiên cùng với xu thế phát triển của thời đại, các quan hệ quốc tế ngày càng phức tạp Nhằm đối phó với tình hình, bảo vệ nền hòa bình và an ninh quốc tế, bên cạnh nguyên tắc “cấm dùng vũ lực hoặc đe dọa bằng vũ lực”, tại khoản 4 Điều 2, Hiến chương Liên hợp quốc còn đưa ra hai trường hợp ngoại lệ đối với việc sử dụng vũ lực:

Một là, Quyền tự vệ chính đáng Điều 51 Hiến chương Liên hợp quốc

quy định rằng: “Không có một điều khoản nào trong Hiến chương này làm tổn hại đến quyền tự vệ cá nhân hay tập thể chính đáng trong trường hợp thành viên Liên hợp quốc bị tấn công vũ trang cho đến khi Hội đồng bảo an chưa áp dụng được những biện pháp cần thiết để duy trì hòa bình và an ninh quốc tế Những biện pháp mà các thành viên Liên hợp quốc áp dụng trong việc bảo vệ quyền tự

vệ chính đáng ấy phải được báo ngay cho Hội đồng bảo an và không được gây ảnh hưởng gì đến quyền hạn và trách nhiệm của Hội đồng bảo an, chiểu theo Hiến chương này, đối với việc Hội đồng bảo an áp dụng bất kỳ lúc nào những hành động mà Hội đồng thấy cần thiết để duy trì hoặc khôi phục hoà bình và an ninh quốc tế.” LHQ khi đề cập đến quyền tự vệ của quốc gia đã nhấn mạnh rằng

Trang 9

quyền này chỉ có được trong trường hợp quốc gia bị tấn công vũ trang, nghĩa là chỉ khi nào bị tấn công bằng lực lượng vũ trang, quốc gia bị tấn công mới có quyền dùng vũ lực để đánh trả sự tấn công đó Điều này nghĩa là Hiến chương cấm một quốc gia sử dụng lực lượng vũ trang chống lại quốc gia khác khi quốc gia này chỉ sử dụng các biện pháp kinh tế hoặc chính trị (hành vi tự vệ phải tương ứng với mức độ tấn công) Theo tinh thần của Hiến chương Liên hợp quốc, quyền tự vệ chính đáng của quốc gia chỉ được tự do trong một thời gian tạm thời Một khi HĐBA đã quyết định hành động thì vụ việc đó sẽ được đặt dưới quyền quyết định của cơ quan này Các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc cũng có quyền dùng bạo lực cách mạng để giải phóng dân tộc, giành độc lập tự

do cho mình Đó là quyền tự vệ chính đáng của các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc, phù hợp với nguyên tắc dân tộc tự quyết và không trái với nguyên tắc sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực

Ví dụ như Vụ Hoạt động quân sự và bán quân sự ở Nicaragua (Nicaragua v Mỹ) năm 1986 là một trong những ví dụ nổi bật

Ngoài ra còn có Vụ các hoạt động vũ trang trên lãnh thổ của Congo (Armed

Activities on the Territory of the Congo (Democratic Republic of the Congo v Uganda) ICJ Rep 2005.) Vào ngày 23 tháng 6 năm 1999, Cộng hòa Dân chủ Congo đã đệ trình lên Cơ quan đăng ký của Tòa án khởi kiện chống lại Cộng hòa Uganda về tranh chấp liên quan đến “hành vi xâm lược vũ trang” do Uganda gây ra trên lãnh thổ của Cộng hòa Dân chủ Congo, vi phạm Hiến chương Liên hợp quốc Tòa án tuyên bố trong Phán quyết của mình rằng Uganda đã “vi phạm nguyên tắc không sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế và nguyên tắc không can thiệp” cũng như sự hiện diện và hoạt động vũ trang của nước này ở Congo

từ tháng 8 năm 1998 tới tháng 6 năm 2003

Hai là, Sử dụng vũ lực theo quyết định của Hội đồng Bảo an Điều 39

Hiến chương quy định: “Hội đồng bảo an xác định thực tại mọi sự đe dọa hòa bình, phá hoại hoà bình hoặc hành vi xâm lược và đưa ra những kiến nghị hoặc quyết định các biện pháp nào nên áp dụng phù hợp với các điều 41 và 42 để duy trì hoặc khôi phục hoà bình và an ninh quốc tế” Hiến chương cho phép lực lượng liên quân đội của LHQ được sử dụng vũ lực theo quyết định của Hội đồng Bảo an (HĐBA) LHQ để thủ tiêu mối đe dọa hòa bình và an ninh thế giới Tại Điều 42 Hiến chương quy định, tùy từng trường hợp nếu biện pháp được khuyến nghị không đủ để giải quyết tranh chấp thì HĐBA có quyền tiến hành các biện pháp cần thiết như sử dụng không quân, hải quân hoặc lục quân để duy trì và lập lại hòa bình và an ninh quốc tế “Những hành động này có thể là những cuộc biểu dương lực lượng, phong tỏa và những cuộc hành quân khác, do các lực lượng hải, lục, không quân của các quốc gia thành viên LHQ thực hiện” Tuy

Trang 10

nhiên, HĐBA sẽ không áp dụng các biện pháp trừng phạt bằng việc sử dụng lực lượng vũ trang, nếu như hành vi của bên vi phạm chưa đến mức đe dọa hòa bình

và an ninh quốc tế

Ví dụ là Nghị quyết 1973 của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc ngày 17 tháng 3 năm 2011 là một ví dụ về việc cho phép sử dụng vũ lực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc.Nghị quyết này đã được Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc thông qua với nội dụng thiết lập vùng cấm bay và cho phép sử dụng vũ lực đối với chính quyền của Muammar Gaddafi trong cuộc nổi đậy tại Libya năm 2011 Vào ngày 17 tháng 2 năm 2011, ngay sau khi bùng nổ các cuộc biểu tình ở Ai Cập và Tunisia, đánh dấu sự khởi đầu của "The Arab Spring", người dân Libya ở Benghazi đã tham gia vào các cuộc biểu tình ôn hòa chống lại sự cai trị áp bức của Đại tá Muammar Gaddafi Họ yêu cầu ông từ chức sau 42 năm cai trị Libya

và kêu gọi một Libya cởi mở, dân chủ và hòa nhập Họ yêu cầu chấm dứt một

kỷ nguyên áp bức và vi phạm nhân quyền nghiêm trọng ở đất nước, chẳng hạn như những gì đã xảy ra vào năm 1996 trong nhà tù Abu Salim Việc Gaddafi đáp trả cuộc biểu tình này bằng bạo lực vũ trang chống lại những người biểu tình dân sự đã châm ngòi cho một cuộc nội chiến giữa lực lượng chính phủ ủng hộ Gaddafi và lực lượng vũ trang đối lập do phe nổi dậy thành lập Vào ngày 17 tháng 3 năm 2011, Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, hoạt động theo Chương VII của Hiến chương Liên hợp quốc, đã thông qua Nghị quyết 1973 cho phép các quốc gia thành viên 'thực hiện tất cả các biện pháp cần thiết […] để bảo vệ dân thường và các khu vực dân cư đang bị đe dọa tấn công ở Libya Arab Jamahiriya , bao gồm cả Benghazi, đồng thời loại trừ lực lượng chiếm đóng nước ngoài dưới bất kỳ hình thức nào trên bất kỳ phần nào của lãnh thổ Libya

● Ngoại lệ khác ngoài hiến chương: Tuy nhiên thực tiễn thì luôn phong phú

hơn lý thuyết, những ngoại lệ khác đôi khi được viện dẫn: can thiệp nhân đạo

và sự đồng ý của quốc gia liên quan

Can thiệp nhân đạo (humanitarian intervention) có thể hiểu là việc một

quốc gia sử dụng vũ lực để can thiệp vào một quốc gia khác nhằm mục đích loại trừ một thảm họa nhân đạo ở quốc gia bị can thiệp Cách thức áp dụng và những điều kiện cụ thể để viện dẫn can thiệp nhân đạo gần đây được nêu trong quan điểm pháp lý của Chính phủ Anh về khả năng sử dụng vũ lực chống lại Syria khi

có cáo buộc nước này sử dụng vũ khí hóa học năm 2013 Theo tài liệu quan điểm này, can thiệp nhân đạo có thể được tiến hành và tiến hành hợp pháp theo luật pháp quốc tế, nếu thỏa mãn 03 điều kiện:

● Có bằng chứng thuyết phục, được toàn thể công đồng quốc tế công nhận rộng rãi về sự tồn tại của thảm họa nhân đạo cần thiết phải được loại trừ ngay;

Ngày đăng: 17/03/2022, 09:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w